Nguyễn Đình Nghị (1883 – 1954)

Nguyễn Đình Nghị (1883 – 1954)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Chèo Việt Nam có từ bao giờ?

Và nên hiểu chèo như thế nào? Theo nhà nghiên cứu Trần Gia Linh thì đó là “Một hình thức kịch hát dân gian Việt Nam, một loại kể truyện bằng sân khấu độc đáo của dân tộc bắt nguồn từ những trò diễn cổ truyền, thường diễn lại những truyện cổ tích, truyện Nôm quen thuộc, có tính trào lộng đặc sắc, nảy sinh và phổ biến chủ yếu ở đồng bằng Bắc bộ, nhất là vùng Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hải Hưng… Ban đầu, nhân dân diễn chèo trên những chiếc chiếu trải giữa sân đình (gọi là chiếu chèo), việc hóa trang, bài trí thô sơ, đơn giản. Chèo sử dụng tổng hợp nhiều chất liệu trong vốn văn nghệ cổ truyền và kết tinh ở một mức nhất định những chất liệu đặc sắc của chất liệu ấy và trở thành một trong những thể loại tiêu biểu, độc đáo của nền văn nghệ dân gian”. Trong đó, “Tính hài hước, trào phúng là một đặc điểm nổi bật. Do đó, có ý kiến cho từ “chèo” là do “trào” đọc chệch ra”. Nhà nghiên cứu Thái Bá Vân cũng viết: “Nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp cho rằng chèo là do nói trệch chữ trào, một chữ Nôm có khoảng thế kỷ XIII, dưới thời Trần; và loại hình sân khấu này hoàn thiện vào thế kỷ XIV, XV”. Nhưng nhà nghiên cứu Vũ Khắc Khoan không đồng ý “Sở dĩ có sự lầm lẫn như vậy là do hài tính của sân khấu chèo và do thói quen giải thích theo lối phát âm” và theo ông: “Nguồn gốc của chèo là một nền ca vũ cổ sơ của dân tộc thường biểu diễn trong dịp tang lễ thời trước, lời ca than vãn là lời biệt ly và tiễn đưa người quá cố, điệu vũ hình dung những động tác chèo thuyền, chiếc thuyền thần thoại chở linh hồn người chết sang thế giới bên kia. Chèo như một nghệ thuật sân khấu được phát triển trên cơ sở của nền ca vũ đó, bằng cách tiếp thu thêm nhiều điệu hát và điệu múa khác của những nguồn hát và múa khác của dân tộc. Do vậy, chữ chèo không phải do chữ trào mà ra” và theo Vũ Khắc Khoan thì ở thế kỷ thứ X “bộ môn chèo đã dứt khoát tách ra khỏi gốc nghi lễ để hình thành như một bộ môn sân khấu đích thực và biệt lập”.

Trước đây, chèo thường được biểu diễn trước sân đình trong những kỳ hội hè, lễ chạp nên mọi người thường gọi là “chèo sân đình”. Bước sang thời kỳ thực dân Pháp xâm lược nước ta, có một số nghệ sĩ muốn cách tân chèo, họ pha chất liệu của tuồng và chèo nên gọi là “chèo văn minh”. Nhưng do sự lắp ghép đầu Ngô mình Sở nên loại chèo này không được khán giả ủng hộ và lâm vào tình trạng dở sống dở chết. Bức xúc trước tình trạng này, có một nghệ sĩ tiên phong đứng ra tiếp tục cải tiến chèo, hình thành một hình thức giá trị mới là “chèo cải lương”. Thể loại chèo mới này là cơ sở quan trọng để sau này, các nghệ sĩ khác tiếp tục hoàn thiện thành “chèo hiện đại” như ngày nay.

Thân thế và sự nghiệp

Nghệ sĩ đó là Nguyễn Đình Nghị. Ông sinh năm 1886 tại xã Thụy Lôi, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên – đây cũng là vùng đất nổi tiếng về chèo và sinh ra nhiều nghệ sĩ tài danh. Thuở nhỏ, ông ở nhà học chữ Hán với chú, rồi sau theo học chữ Pháp. Trong những năm tháng chập chững bước vào đời, ông ôm mộng đem vốn chèo của quê hương ra Hà Nội để đi vào con đường hoạt động nghệ thuật.

Là một người đang ấp ủ nhiều hoài bão, từ năm 1914, Nguyễn Đình Nghị không ngần ngại bắt đầu công việc ở hậu đài – mà mọi người thường gọi đùa là “đại hầu” – tại rạp Sán Nhiên Đài. Đúng như tên gọi, ông đã “hầu” mọi thứ linh tinh từ nhắc tuồng sau cánh gà, khiêng vác đạo cụ đến kéo phông màn v.v… Đối với thanh niên, những việc này thường khiến họ ngại ngùng, vì cái nhiệm vụ ấy chẳng được mấy ai kính nể! Nhưng với người có chí thì đây là cơ hội tốt để học hỏi. Bởi vậy Nguyễn Đình Nghị đã để tâm ghi chép lại tất cả những kinh nghiệm sân khấu mà mình đã quan sát, đã thu thập được. Sự nghiệp của ông bắt đầu từ năm 1923, đó là năm ông bắt tay vào viết chèo cải lương sau khi đã tích lũy được lý luận, thực tiễn thành công và thất bại của chèo văn minh. Nếu chèo văn minh chủ trương hát theo lối mới, diễn viên không nhất thiết phải thuộc vở, nhiều lúc tùy trường hợp mà ứng khẩu thì ở chèo cải lương, Nguyễn Đình Nghị chủ trương bất cứ các câu hát nào soạn giả cũng phải viết đúng tâm lý nhân vật và diễn viên phải tuân thủ nghiêm ngặt theo điệu hát cổ, tuân thủ theo kịch bản, không được ứng khẩu hoặc hát sai… Chí hướng của ông được sự chia sẻ và hợp tác của hai đồng nghiệp là Nguyễn Văn Thịnh và Trịnh Thị Lan. Cả ba người thành lập ban hát riêng, thể nghiệm chèo cải lương. Nếu Nguyễn Đình Nghị là người khởi xướng, thì hai người còn lại tạo nên hương sắc. Họ đã đưa thể loại chèo từ sân đình lên không gian sân khấu diễn trong nhà hát của đô thị hóa. Một loạt vở chèo của Nguyễn Đình Nghị như Một trận cười (tức Hoảng vì tình), Trận cười thứ hai (tức Khôn có giống), Trận cười thứ ba (tức Khôn trẻ bẽ già), Trận cười thứ tư (tức Quá chơi nên nỗi)… đã được khán giả chào đón, hoan nghênh nhiệt liệt. Đúng như “Nhời tán” của soạn giả:

Trận cười như pháo nổ ran
Tượng sành, bụt đá, đố ai nhịn cười
Mười vai giống hệt cả mười
Bày gương kim cổ, vẽ người dở, hay

Trong lời Tựa của tác phẩm Một trận cười (in năm 1924), Nguyễn Đình Nghị có cho biết:

Vì thấy lâu nay các quý khách đi xem, phần nhiều đã bình phẩm cho điệu hát chèo là khó, là hay, thực lối hát rõ ràng, mà giọng tình êm ái, vậy nên soạn giả có tuân theo ý kiến của quý hội Sán Nhiên Đài mà soạn ra tích hài kịch “Một trận cười” này, cũng nhân điệu cũ mà tả thành lối mới, gọi là theo tài học nói, để hiến liệt quý chư tôn được thỏa lòng hâm mộ.

Sức viết của Nguyễn Đình Nghị thật dữ dội, chỉ trong vòng 20 năm, từ năm 1924 đến năm 1944, ông đã viết 60 vở với quan điểm: “Các vở tôi soạn đều chútrọng vào việc răn đời, lấy lời ca giọng hát và tiếng cười tao nhã mà duy trì phong hóa, mà cảnh tỉnh thế đạo nhân tâm”. Trong các vở chèo của ông, nay đọc lại, chúng ta thấy ngồn ngộn hơi thở của thời đại mà ông đang sống. Những nhố nhăng của buổi giao thời lần đầu tiên được thể hiện qua thể loại chèo, chẳng hạn, trong vở Trận cười thứ tư, ông đề cập đến nhân vật Ngô Kham – một công tử lỡ thời, may lấy được Vũ Xuân Nương – con nhà hào phú. Sau, mẹ vợ mua cho Ngô Kham chức thừa phái. Từ đó, chàng rể mê gái, phụ nghĩa tào khang, nghiện hút, vướng nợ Tây đen… Chẳng hạn, cảnh hát ả đào, cảnh hai, Nguyễn Đình Nghị soạn cho nhân vật diễn thật khéo, thật sống động, dù chỉ đôi nét nhưng ta đã thấy hết những nhố nhăng khi một loại hình nghệ thuật cổ truyền đã bị tha hóa dưới thời Pháp thuộc. Ngôn ngữ chèo của Nguyễn Đình Nghị khá trau chuốt, giàu chất văn học. Thử đọc:

Chị Liên (cô đầu): – Xin mời các quan cho chầu ạ! (Ba ông khách mời nhau v.v… Ngô Kham đánh trống). Yến Hoa – cô đầu (mưỡu):

– Sắc, tài ai khéo cầm cân

Giai nhân sánh với văn nhân mấy vừa

Tơ duyên se sẵn bao giờ

Tự nhiên hờ hẫng, hẫng hờ mà săn

(hát):

– Gió giăng, giăng gió, hỏi gió giăng rằng, có duyên gì, bỗng tơ vương se đoạn tình si, chừng để khách tân chi dan díu. Nào những lúc tiếng phách, tiếng đàn, câu ngâm, câu mưỡu, khéo bứu bo, bo bứu vì tình. Mái tây sương bóng nguyệt gác chênh vênh, gà gáy giục sang canh xao xác, kết giải đồng tâm thêu chỉ bạc, mơn câu tri kỷ giãi lòng son: Rằng chưa già, núi vẫn còn non, rằng mấy gió, nước mấy non, còn mãi mãi. Cuộc nhân thế lấy chơi là lãi, kho trời chung, giăng gió riêng ai, chút gì, gắn bó một hai.

Hoặc trong Trận cười thứ ba, ở cảnh 3, ông đã cho nhân vật của mình xuất hiện trên đồng ruộng với ngôn ngữ dân dã, nhưng giàu hình tượng: “Thị Lan( gọi bọn thợ rạ ra, nói): – Này các chị, cơm nước trầu cau đã rồi, nào đi ra đồng mấy tôi chứ, sao chị nào, chị nấy đứng ngẩn người như vậy?

Bọn thợ rạ (kể sa mạc):

-Vì tôi vẩn vơ mơ tưởng sự nhà, nào đường xa dễ mấy biết ai mà nhắn nhe!

(Hát đường trường):

– Cây lúa chửa, chia vè, cô ơi ngày ngày tôi đi, a lúa chửa, cây lúa chửa, chia vè, giờ trông cây lúa, đã… nó đỏ hoe, trông đầy đồng, cho nên riêng, riêng buồn riêng, tôi ái ngại ấy, thường ái ngại cho chồng, thay mình bấy lâu chăn dắt… ấy mấy bồng bế đứa con thơ, xa xôi trông, trong ngày trông, dẫu mà, thôi, tháng chứ này thôi tháng lại chờ. Năm canh đó, đây luống những… ấy mấy phật phờ giấc chiêm bao, ai ơi, khi tỉnh ra, dẫu mà nào thấy, chứ nào thấy đâu nào, nên nhớ rằng chúng tôi thơ thẩn… lắm lúc ra vào nó ngẩn ngơ nhưng, nhưng việc, việc phận mình dẫu mà, đâu dám, chứ này đâu dám, hẫng hờ…

Với sức sáng tạo dồi dào, Nguyễn Đình Nghị lúc mới khoảng 40 xuân đã trở thành ông trùm lớn nhất của ngành chèo nửa đầu thế kỷ XX. Do đó, không phải ngẫu nhiên khi giới thiệu tài năng của Nguyễn Đình Nghị với công chúng Pháp, học giả Phạm Quỳnh khẳng định đó là “Molière Annamite” (Molière của Việt Nam). Đây là lời ca ngợi chói lọi khi so sánh ông với Molière – nhà viết hài kịch lừng lẫy nhất của nước Pháp ở thế kỷ XVII. Trước hết, Nguyễn Đình Nghị cải tổ rạp Sán Nhiên Đài và Cải lương hí viện trở thành nơi chuyên diễn chèo cải lương. Đồng thời, ông mở lớp đào tạo thế hệ học trò giữ lấy “nghiệp nhà” – mà sau này đều là những người có tên tuổi như Nguyễn Thị Minh Lý, Trần Kính, Xuân Mai, Lệ Hiền, Phạm Thị Lừng… và giữ vai trò quan trọng tại Nhà hát chèo Việt Nam, Ca kịch Trung ương sau năm 1954 tại miền Bắc. Sau đó, ông còn đứng ra thành lập và quản lý gánh hát Tự Lạc ban (sau đổi tên thành Nghị Lập ban, Đức Thịnh ban, Như Ý ban và cuối cùng là Đan Thanh ban). Các vở chèo của ông đã chiếm lĩnh sân khấu từ Nam chí Bắc, rồi sang diễn cả Lào, đâu đâu cũng được công chúng hoan nghênh. Ngoài những vở kể trên, Nguyễn Đình Nghị tiếp tục viết: Đức Mẫu thoải, Tam đại dở hơi, Say mà tỉnh, Hai rể cưới một ngày, Nữ tú tài v.v.. Sau này, nhà nghiên cứu chèo Hà Văn Cầu và Nguyễn Ngọc Phương có nhận xét:

“Chỉ xin nói rằng câu lục bát trong tay cụ Nghị đã biến hóa thành các làn điệu chèo: ngoài ngâm, vỉa, bỉ, ví ra lời thơ còn có thể ngả thành đường trường, sa lệch, hát cách, nồi niêu, hát thảm, hát nhịp đuổi, hát nhịp chờ, hát vãn, hát sắp… đồng thời lại có thể chuyển thành hát trống quân hoặc cách hát dân ca khác. Để chiều theo thị hiếu của khán giả đương thời, cụ Nghị còn sử dụng cả các làn điệu cải lương, làn điệu tuồng như: ca Nam thương, Nam bình, Nam xuân, Cổ bản, Kim tiền, Vọng phu hành… Đôi lúc cụ còn dùng cả bài hát Tây như Madelon, Marseilaise… ví dụ:

Đồng lòng từ xưa, muôn dân mong khấn Đấng trên cho Chúa ra đời, cứu muôn loài ta…

Tất nhiên trong điều kiện hạn chế của lịch sử, cụ Nguyễn Đình Nghị chưa được tiếp cận với thực tiễn và lý luận sân khấu phương Tây, cho nên nhìn các tác phẩm của cụ luôn luôn còn gợi lên những chỗ bất cập, song nhìn chung cái được của cụ vẫn như một nét son rực rỡ trong suốt mấy trăm năm tồn tại của nghề chèo hát. Cụ thật sự là một thiên tài, đơn thương độc mã, xông xáo suốt nửa thế kỷ và để lại cho chúng ta một khối lượng của cải tinh thần, không vàng nào mua được”(1). Còn nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền khẳng định: “Đất nôi chèo lớn nhất sinh thành ra những người con tài năng cống hiến trọn đời mình vào sự nghiệp phát triển sân khấu dân tộc, mà trong đó, tiêu biểu nhất là nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị, người giữ vai trò tiên phong và quyết định sự nghiệp hiện đại hoá sân khấu chèo ở nửa đầu thế kỷ XX”(2). Có thể nói, với sự xuất hiện của Nguyễn Đình Nghị ngành chèo đã được chấn hưng một cách mạnh mẽ và thắng lợi rực rỡ.

Sau năm 1945, tình hình đất nước có nhiều biến động. Đoàn chèo của Nguyễn Đình Nghị giải thể, ông cùng các con Nguyễn Thị Định, Nguyễn Đình Đàn náo nức đi theo ngọn cờ chính nghĩa của Việt Minh. Ông vào Thanh Hóa, lên Yên Bái, Phú Thọ… để tiếp tục hoạt động nghệ thuật chèo phục vụ cho cách mạng và kháng chiến. Thời gian này, ông vẫn dành nhiều tâm huyết để truyền nghề cho thế hệ sau.

Cuối đời

Từ năm 1952, vì ốm nặng nghệ sĩ Nguyễn Đình Nghị phải trở về Hà Nội dưỡng bệnh và mất ngày 13.5 âm lịch 1954. Nhằm ghi nhớ công ơn của một bậc tiền bối khai sáng nghệ thuật chèo hiện đại, mùa xuân năm 1993, Cục Nghệ thuật sân khấu, Nhà hát chèo Việt Nam và Sở Văn hóa thông tin Hải Hưng (nay là Hưng Yên) đã cùng gia đình xây lại mộ của ông và dựng bia kỷ niệm. Trên bia có khẳng định công lao Nguyễn Đình Nghị: “Đã cống hiến nhiều sáng tạo có giá trị vào sự nghiệp kế thừa và phát triển nghệ thuật chèo nửa đầu thế kỷ XX” và câu vọng cảm:

Nhân sinh đành hữu hạn,
Nghệ thuật vẫn vô cùng.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Đình Nghị

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)