Tam Lang (1900 – 1986)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung 

Phóng sự là một thể loại thuộc thể ký, nhằm ghi chép cụ thể tình hình một vấn đề, một sự việc nào đó có ý nghĩa thời sự. So với tùy bút, bút ký, phóng sự có mục đích cụ thể trực tiếp, phạm vi sự việc và địa điểm được quy định chặt chẽ. Đó là thể văn gần với khoa học hơn là nghệ thuật, giàu yếu tố thông tin hơn là yếu tố trữ tình. Điều kiện để viết phóng sự là tác giả phải tự mình thăm dò và ghi chép sự việc, hỏi han người thực, việc thực ngay tại chỗ. Giá trị của một phóng sự trước hết ở vấn đề nó nêu ra là cấp thiết, có những bằng chứng cụ thể, xác thực (số liệu, biểu đồ, bản thống kê, tư liệu khoa học) và kết luận gợi lên là đúng đắn. Phóng sự sẽ có thêm giá trị văn học khi nó đi sâu khắc họa thế giới nội tâm, miêu tả tính cách nhân vật, với lời văn giàu hình ảnh và cảm xúc.

“Mục đích của phóng sự là cung cấp cho công chúng những tri thức phong phú, đầy đủ, chính xác để họ có thể nhận thức, đúng người và việc họ đang quan tâm theo dõi. Vì thế người viết phóng sự thường sử dụng những biện pháp nghiệp vụ báo chí như điều tra, phỏng vấn đối thoại, ghi chép tại chỗ v.v… Ngày nay họ còn sử dụng những phương tiện máy móc (máy ảnh, máy ghi âm, máy quay phim…) vào công việc này”. Trước đây, trong văn xuôi cổ điển Việt Nam đã xuất hiện thể loại “hỏi han người thực, việc thực” như Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng kinh ký sự… hoặc đầu thế kỷ XX đã có nhiều tập tương tự như thế mà ta gọi là du ký, bút ký, phóng sự, tùy bút nhưng vẫn xếp chung vào thể loại văn học là thể ký. Phải đợi đến những năm 30 của thế kỷ XX thì các thể loại trên mới tách riêng thành thể tài độc lập và phát triển thành dòng chảy riêng biệt. Có được điều này chính là do nhiều yếu tố trong đời sống xã hội, nhưng phải kể đến là nhờ một đội ngũ những người viết báo hoạt động chuyên nghiệp hơn và qua đó, sự xác định của từng thể loại cũng rõ ràng hơn, thuyết phục hơn. Đúng như nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan nhận định từ năm 1940: “Lối văn này hoàn toàn mới ở nước ta, nó là đứa con đầu lòng của nghề viết báo” và “Ở nước ta, nghề viết báo là một nghề mới có, nên những thiên phóng sự xứng đáng với tên gọi của nó cũng chỉ mới ra đời trong vòng mươi năm trở lại đây”. Đánh dấu cho sự ra đời của thể loại phóng sự gắn liền với tác phẩm Tôi kéo xe của nhà văn Tam Lang, viết năm 1932, in thành sách năm 1935. Cũng trong tác phẩm Nhà văn hiện đại (1942), Vũ Ngọc Phan khẳng định:

“Quyển Tôi kéo xe là một quyển phóng sự giá trị; nó lại là một quyển phóng sự trước nhất ở nước ta; người ta có thể coi nó là một quyển mở đầu cho lối văn phóng sự trong văn chương Việt Nam”. Sau này, trong Tổng tập văn học Việt Nam tập 29A cũng viết: “Là tập phóng sự ra đời sớm nhất được viết bằng ngòi bút tả chân sắc sảo linh hoạt, Tôi kéo xe có ý nghĩa mở đầu cho thể loại phóng sự trong văn xuôi Việt Nam hiện đại”.

Thân thế

Nhà văn Tam Lang tên thật Vũ Đình Chí, sinh ngày 26/3/1900 tại Hà Nội trong một gia đình bậc trung. Bước chân vào đời, Tam Lang chỉ chuyên viết phóng sự, viết châm biếm, trào phúng cho các tờ Ngọ Báo, Vịt Đực, Con Ong v.v… Tam Lang có kể lại:

“Ông Bùi Xuân Học, chủ nhiệm Ngọ báo một hôm vỗ vai tôi mà bảo: – Anh có ngòi bút viết văn tả chân khéo, bây giờ đang là mùa các bạn đồng nghiệp của anh đi khắp bốn phương điều tra, phỏng vấn: Albert Londres sang Thượng Hải, Maurice Dekobra đi Hoa Kỳ, Goe London tới miền cương giới Tô Nga, Louis Charles Royer đến Leningrad Xô Viết… mà anh thì chỉ lúi húi ở xó nhà với ba bài văn sầu cảm, sao không ném bút đi xem người ta cho sáng thêm con mắt, có hơn không?

Tôi nghĩ câu nửa đùa nửa thật của bạn mà thẹn, thẹn rồi mà buồn, buồn rồi lại nghĩ:

“Thằng em mình muốn sang làm ăn bên Cao Mên, xin căn cước đã ba hôm nay chưa được chữ; Thượng Hải, Nhiêu Do đều xa hơn Cao Mên cả, mình đi sao được, mà đi để làm gì bây giờ?

Phỏng vấn với điều tra, hai việc ấy, không phải chỉ có tài viết văn tả chân mà làm nổi.

Xỏ đôi chân vào đôi hia bảy dặm, đeo lên vai một cái túi khôn với một túi bạc, cầm trong tay một cây gậy của kẻ vong gia, rồi hãy bàn đến những chuyện đường xa ấy.

Cái xa chẳng được làm thì mình làm cái gần vậy.

Bắt chước Marise Choisy đổi lấy bộ áo con đòi vào ở thổ, tôi cũng mượn bộ quần áo nâu của một bạn áo ngắn, khoác vào mình rồi mạnh bạo đi làm xe”.

Thế là ông Bùi Xuân Học, bạn tôi, một buổi trưa nắng gắt mùa hè, đã đội lên đầu tôi cái nón lá phu kéo xe.

Việc “thâm nhập thực tế” của Tam Lang ở thời điểm đó quả là táo bạo, vì nghề báo chưa được dư luận xã hội coi trọng và chưa được đánh giá đó là một nghề như quan niệm của chúng ta ngày nay. Nhà văn Vũ Bằng – bạn tâm giao của Tam Lang có kể lại, lúc biết ông làm nghề này thì: “Trời ơi là trời, làm cái nghề gì, chớ lại đi… làm báo! Điều ấy, mẹ tôi, chị tôi, em tôi, không thể nào quan niệm nổi. Riêng đối với mẹ tôi nếu ở đời có nghề gì xấu nhất, tồi bại nhất, bất nhân bạc ác nhất thì nhất định đó là… nghề làm báo! Mẹ tôi bảo: – Tôi xin anh thương tôi, đừng có bao giờ làm nghề ấy, vì phúc đức nhà ta không được bao nhiêu đâu…”. Còn Tam Lang thì cho biết bố của ông quở trách: “Báo với bổ gì, báo hại, báo cô cha mẹ, rồi ra vô nghề nghiệp, bố mẹ già thì chết, cũng đến cùng liếm lá đầu chợ, dở ông, dở thằng…”. Đã thế, Tam Lang còn dám trốn gia đình để khoác áo của tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội! Nhưng nhờ đi vào trong thực tế của lớp người bần cùng trong xã hội, Tam Lang đã phát hiện ra nhiều điều vượt xa trí tưởng tượng của người cầm bút. Và cũng từ đấy ông hình thành một lối viết mới, trang giấy không còn chỗ cho những mơ mộng xa rời thực tế, mà ngòi bút phải lấy chất liệu từ mồ hôi, máu của người cần lao. Bằng tài năng và quan sát, bằng kinh nghiệm thực tế và ghi chép, Tam Lang đã viết được những trang phóng sự hay nhất về thế giới của hạng người mà nói như ngôn ngữ của nhà văn Nguyễn Công Hoan là “ngựa người người ngựa”. Chẳng hạn đây là “nghệ thuật” kéo xe của phu xe thời trước: “Kéo ông già thì phải ép cho nhiều, chạy cho chậm; kéo ông Tây phải chạy cho khỏe, tối có chậm thắp đèn cũng đừng sợ; kéo tiểu thư công tử thì phải chạy cho nghinh ngang…, nghĩa là tùy mặt khách mà làm: gặp người nhiều chuyện thì phải vừa chạy vừa tán; gặp kẻ nó khinh mình phu xe phu pháo thì phải câm mồm; thằng ngồi cho mình kéo không đáng mặt quan, mình cũng cứ tôn nó lên quan; con đàn bà mình biết mười mươi là gái thập thành, nó đã diện quần áo bảnh lên xe mình, thì mình cứ tôn nó là bà lớn! Chào Tây đen chẳng biết nó là ai, mình cũng cứ nói: Mời ông chủ hiệu vải về Hàng Đào; thấy anh Chiệc, chẳng kể là, mình cũng cứ mời: Ông lên xe về Hàng Buồm, Hàng Bồ? Ông chủ hiệu…”. Ngay cả cái nón của phu xe, nếu không đi thực tế làm sao Tam Lang có thể đặt bút viết: “ Cái nón cu li xe có ba đồng xu mà dùng được nhiều việc hơn cái ô trắng đồng hai. Nó là lá mà nó tốt bằng mười vải ấy chứ ạ! Mùa nắng thì chụp lên đầu, có gió thì che diêm để hút thuốc lào, mỏi thì lót xuống đít mà ngồi, khát không có hàng nước thì hứng nước máy. Lại còn lúc ngồi ngủ ở xe thì úp lên mặt cho khỏi ruồi nó bu lại; lúc nóng thì làm quạt, quạt; quần áo không kịp về nhà giặt, giặt ở đường, vắt áo thật ráo nước rồi tãi lên đầu vừa đi vừa phơi; mà túng nữa thì làm cái rổ đựng đồ mua chợ cho mẹ đĩ…”. Thật khó tưởng tượng khi người phu xe ăn món sáo bò, Tam Lang đã ghi nhận qua những trang văn cực kỳ sinh động, ấn tượng:

“Chừng ba giờ sáng.

Chui vào một hàng cơm tối mà thấp như hang chuột, tôi với người bạn dọc đường lúc nẫy cùng ghé ngồi vào một tấm ghế dọc kê sát một chiếc bàn. Cái bàn mộc cáu ghét với mỡ đã lâu năm, trên có một ống đũa tre rỉ nước ròng ròng, hai cái vỏ cút rượu tí con, với một cái vịt đã cụt nửa vòi, chừng là vịt nước mắm.

Tôi thở trong một bầu không khí đầy mùi hôi tanh nồng nặc, cái mùi ấy gọi là mùi thớt cũng chỉ hơi đúng vì ngoài những hơi mỡ ôi, cá ươn, thịt thiu, hành sống và trăm thức đồ ăn khác, nếu phân chất kỹ còn có mùi cứt gián với mùi mồ hôi kinh niên.

Con bé nhà hàng bưng đến cho tôi hai chiếc bát đàn úp một, trong có ba xu cơm.

Tôi lật chiếc bát úp, lấy đôi đũa tre trong ống xẻ đôi chỗ cơm, vừa được đầy hai bát.

Trước mặt tôi, một bát canh sáo bò bốc khói lên ngùn ngụt. Nóng sốt như thế mà tôi đoán chừng nó chẳng ngon lành gì cho lắm, vì trong bát canh đục ngầu như nước cống, mấy khoanh lòng bò lều bều nổi như những xác chết đuối dưới những đám hành răm. Cạnh đấy, một đĩa lòng giá trông cũng chẳng ngon gì hơn.

Ít tiền, làm gì được miếng ngon! Hai xu sáo lòng! Hai xu lòng giá!

Cầm bát cơm, chan nước sáo, và, tôi thấy dạ dày tôi nó đi một mạch từ bụng lên đến cổ. Có lẽ món ruột già nhà hàng làm không kỹ, nên và xong một miếng, tôi tưởng như tôi đã nuốt phải cả một bãi phân bò.

Ngồi đối diện, bạn tôi vẫn chén rượu khề khà:

– Anh không uống được rượu thì ăn đi!

Cầm bát canh húp soàn soạt rầm nhà, anh ta tấm tắc khen:

– Món sáo bò ngon quá!

Tôi đành ngồi chống đũa.

Sáo ấy, lòng ấy, lại thêm cơm thổi bằng thứ gạo hẩm đã hết cả nhựa, nước mắm là thứ nước hàng pha với muối mặn ăn cho đỡ tốn, tôi dù có nuốt rồi cũng phải trả hết ra”. Nhưng như thế cũng chưa ghê gớm bằng cảnh tác giả mô tả phu xe bị bọn cai xe hành hạ. Sức tố cáo xã hội cũ thật mãnh liệt, nay đọc lại, ta vẫn thấy như gai nhọn đâm sâu vào lòng thương cảm, để từ đó, thêm yêu xã hội mới mà ta đang sống: “Người cai không có ở đấy, nhưng trên chiếc ghế vải anh ta ngồi lúc trước, tôi thấy có một người đàn bà. Mụ này cởi trần, người to lớn, đang rũ tóc quạt phành phạch như người quạt hỏa lò. Dưới mảnh yếm rộng không hơn chiếc mù soa, thỗn thện cặp vú sọ dừa to như hai chiếc ấm giỏ.

Cạnh đấy, trên một tấm giường gỗ trần, mấy thằng vén đùi nằm xen với nhau, ngủ như chết giả.

Tôi lấy trong túi áo, đưa sáu hào ra.

– Xe 102 phải không?

Thằng cha bận áo nòng nọc, mặt gân guốc mà đầu bò, vừa hỏi vừa giở sổ. – Phải, bác trả thẻ lại cho tôi.

– Xe có thiếu gì không?

– Đủ cả.

– Hãy đợi đấy để tôi ra soát lại đã.

Cùng lúc đó, một người phu xe khác bước vào:

– Bác làm phúc, hôm nay cháu thiếu mất hai hào.

– Phúc với đức gì, không đủ thuế thì gán áo.

– Bác để cho đến mai, cháu kéo…

Không đợi người này nói hết câu, mụ đàn bà the thé nói vào:

– Mai mấy kia gì, áo nó đâu, bắt lấy!

– Cháu chỉ còn có một cái quần…

Xe ế, nhỡ phải một hôm, bà trông lại…

Lần này thằng áo nòng nọc không nói, cúi xuống rút chiếc càng bắt ốc trong gậm, sấn lại đánh vào lưng người kia ba cái luôn tay.

– Ối giời ơi!

– Mày thiếu thuế còn bướng phải không?

Mụ đàn bà búi tóc ngược, sấn sổ đứng dậy. Túm đầu người kia dìm xuống, mụ vừa tát vừa lên gối, chửi rủa một hồi.

Trên bục, mấy người nọ chừng là phu xe ngủ say cả.

Một thằng tỉnh ngủ hơn, ngóc cổ lên nhìn, rồi lại nằm ngủ lại.

– Mày nắn lưng nó cho bà.

Bỏ chiếc cáng bắt ốc xe, thằng áo nòng nọc lần người khốn nạn ấy từ đầu xuống đến gối.

Lúc này, người ấy run lên như cầy sấy, thì vừa lúc thằng kia vừa nắn đến hai gấu quần:

– Nó giấu đồng hào trong này, có gớm không!

Vừa nói, thằng áo nòng nọc vừa giơ lên một đồng hào con, rồi thoi vào mặt người ấy một quả đấm:

– Cái gì đây? Tiên sư đồ ăn cắp!

Mụ đàn bà vít đầu người ấy xuống:

– Bà đánh cho mày biết, từ giầy thì chừa những thói ăn gian.

Nhận trên mình hơn chục chiếc càng, người khốn nạn kia ngoắt tay ôm lấy lưng, rồi gục xuống. Máu ở lỗ mũi anh ta ồng ộc đổ ra như hai vòi nước, đọng thành vũng trên gạch sân.

Tôi rùng mình… “Chỉ có thiếu hai hào trả tiền thuê xe mà họ đã bị hành hạ khủng khiếp như thế”.

Nếu không đi vào đời sống của những người lao khổ, làm sao Tam Lang có thể tố cáo được sự thối nát của xã hội? Tam Lang còn ghi lại được lời kể thương tâm của một phu xe, nay đọc lại ta vẫn ứa nước mắt: “Cách đây đã bốn năm, một hôm ở hàng cơm Ba Gà ra, trong túi tôi còn thừa được những bảy hào với hai xu lẻ. Tôi nhớ rõ vì hôm ấy vừa đếm lại tiền xong thì có người gọi tôi kéo lên nhà Giây thép Bờ hồ.

Đến nơi, anh ta xuống xe, bảo tôi đỗ gác đê. Vào nhà Giây thép được một lát, anh ta ra, bảo tôi đưa cho mượn năm hào, nói rằng mua tem, chỉ có giấy hai mươi đồng mà ông ký Giây thép thì không có sẵn tiền lẻ.

Tôi móc hầu bao, lấy đúng năm hào đưa anh ta.

Từ lúc ấy, tôi yên trí ngồi chờ. Người ta gọi, tôi bảo xe gác đê, rồi thủng thỉnh đến chỗ hàng nước đầu hè làm hớp chè tươi, xin cái tăm rồi quay lại chỗ sân xe, ngồi xỉa.

Đợi mãi từ tám giờ sáng cho đến chín giờ, tôi thấy người này người khác tấp nập vào, ra, còn ông khách của tôi càng chờ càng mất vía. Tôi nóng ruột quá. Thấp thỏm, tôi men vào nhà Giây thép thăm dò.

Tôi không nhận ra được ai vì trong sở bấy giờ đông người, nên tôi lại ra, lại cứ chỗ cũ mà ngồi, nhưng vẫn cứ thấp thỏm.

Mười giờ hơn, khách trong đã vãn. Tôi lại sục vào tìm lần nữa thì thằng kia đã biến đâu mất từ lúc nào rồi.

Trời rét như cắt ruột mà tôi vã cả mồ hôi. Giở khóc giở mếu bước ra, tôi lồng đi tìm, đi hỏi.

Thấy thế, người qua đường, cả các anh em cu li cũng xúm lại. Tôi kể chuyện thì họ bảo chắc nó đã chuồn ra cửa vườn hoa Bôn Be rồi.

Tôi vẫn chưa tin hẳn, cứ nghĩ bụng: một người áo sa tanh, khăn lượt xếp, sang trọng như thế, ai nỡ đi lừa mấy hào bạc của một thằng nghèo khổ đã phải làm cái nghề của người đi kéo xe tay. Rồi cứ quanh quẩn mãi ở đấy cho đến mười hai giờ, bấy giờ tôi mới biết mình nghĩ nhầm, mà người ta nói phải.

Tôi uất ức, kêu khóc rầm đường như một thằng điên dại. Làm thế nào cho có đủ thuế, mà một giờ rưỡi chiều đã phải đem tiền đến nộp cho cai xe rồi.

Từ lúc ấy đến hơn một giờ rưỡi, tôi cũng không kéo được thêm ai. Đang suy tính không biết nên kéo liều đi hay nên quay xe về thì trước mặt tôi đã sừng sững cái xe lết của cai Đ tiến lại.

Tôi mất cả hồn vía, mắt thì hoa lên, chân tay cũng run lẩy bẩy. Thằng cai nhảy xuống xe quát hỏi; nó thấy tôi van lạy, chừng đã đoán tôi thiếu thuế, nên xấn ngay lại túm lấy ngực, lên gối, rồi dìm đầu tôi xuống, đánh túi bụi một hồi. Đánh rồi, nó bắt tôi cởi hai lần áo, nắn áo, lại soát cả lưng tôi. Thấy trong túi có nguyên cái ống thuốc lào với hai hào, nó vứt ống thuốc đi, bỏ hai hào vào túi. Khám hết quần, nón, nó lại lật khám đến đệm mui. Giời rét, nó cũng chẳng trả áo cho tôi mặc vào, da dẻ tôi, những chỗ bị đòn, tím thâm tím bầm cả lại.

Nó hầm hầm không nói, bắt tôi cứ ở trần như thế kéo xe đi, rồi nó nhảy lên xe đạp đi kèm tôi. Dọc đường, nó chửi rủa không còn thiếu lời, vu cho tôi đã chuyển tiền cho người nhà, lại dọa về đánh một trận cho tôi biết tay để từ giờ đừng có ăn cắp như thế nữa.

Tôi muốn nói, nhưng cái tức đưa đẩy lên đến cổ. Bị rét, bị đánh, tôi không cần gì cả. Nhưng nó chửi tôi là thằng ăn cắp, tôi ức quá, tôi có ăn không ăn hỏng của ai bao giờ.

Quẳng tay xe xuống, tôi xấn lại, đấm cho nó một quả đấm vào mặt, ngã quay lơ. Nó nghĩ tôi chạy, nên vừa bò dậy, vừa kêu lên, nhưng tôi vẫn nghiến hai hàm răng, sừng sững nhìn vào mặt nó.

Chỗ ấy chỉ còn chừng vài chục bước nữa thì về đến nhà. Người nhà của nó thấy tiếng kêu, đổ xô cả ra, nhưng nó cũng đã túm lấy đầu tôi, kéo được về đến cửa. Tức thì đánh, chứ thân hình tôi thế này, địch lại thế nào được với nó. Nó thì xương đồng da sắt, tôi, hai tay như hai ống sậy, trói chẳng nổi con gà.

Cái trận đòn hội chợ của nhà nó hôm ấy, tôi nghĩ còn kinh cho đến bây giờ. Bác có biết nó làm những gì không? Thật tàn nhẫn quá.

Giam tôi vào trong một gian buồng hẹp, trói ghì cánh khuỷu tôi lại, bốn thằng nó chuyên tay đấm đá. Đá chán, chúng nó thay lượt nhau túm tóc lật ngửa mặt tôi lên mà vả, rồi buộc thừng vào chỗ cánh khuỷu, trói giật tôi lên xà nhà.

Lúc mới, tôi còn hăng máu, không thấy gì. Sau tôi thấy như hai cánh tay tôi lìa hẳn bả vai ra, hai má tôi bị lột mất lần da, mà hai mạn xương sườn cũng như rời từng cái một.

Lơ lửng giữa phòng, mặt tôi úp nhìn xuống đất. Dưới chân tôi, những viên gạch cứ quay như chong chóng. Tôi nhắm nghiền hai mắt. Trong tai lại thấy vù vù như có tiếng bay của một đàn ong.

Rồi miệng tôi sùi bọt, mũi thì đổ máu, mắt tôi nẩy đóm lên. Tôi mê man rồi thiếp dần, ngất đi lúc nào không biết.

Mở mắt ra, tôi thấy mình nằm trên một mảnh ván để sát dưới đất, đầu thì ướt như người mới gội, lại hâm hấp nóng như hơi trõ nước ngùn ngụt bốc lên.

Trong gian nhà ấy, trông nghiêng trông ngửa, tôi biết tôi chỉ có một mình. Vừa toan vùng dậy ngồi lên, tôi thấy vướng hai tay, mới biết cổ tay tôi đã bị sợi dây thừng trói chặt.

Lợi ráo, cả hai hàm răng cũng khô, miệng tôi đã se cả nước bọt. Đưa cả hai tay bị trói chụm lên làm một sờ lên trán, tôi thấy trán tôi nóng lắm. Người tôi nóng như điên lên.

Một lát, thằng cai lại vào, nó thấy tôi mở mắt thì đứng trân tráo mà nhìn. Nhìn chán, nó khạc nhổ vào mặt tôi mà chửi dồn: “Mẹ kiếp, mày đã biết tay bố mày chưa, hay còn bướng!”

Cổ ráo quá, tôi lạy van mãi, chúng nó cũng không thí cho được một ngụm nước. Bấy giờ, thật ra, tôi không biết là chiều hay sáng, chỉ thấy ngoài sân lấm tấm mưa phùn.

Một lát, nó sai người cởi trói cho tôi, rồi ném trả cái áo nâu lấm đầy bùn. Tôi cầm áo đứng lên, chạy ra sân, chuồn ra cổng.

Ôm bộ xương rũ với một đống giẻ rách, tôi lom khom thất thểu trên đường. Được mấy hạt mưa bay vào mặt, vào lưng, tôi cũng thấy đỡ hẳn cơn sốt nóng”.

Tam Lang không bình luận, nhưng từng chi tiết chân thực có sức tố cáo rất lớn. Còn có một điều cũng cần ghi nhận là sau những ngày đi thực tế, chính Tam Lang là người có sáng kiến đề xuất ra việc thay thế xe tay bằng loại xe do người đạp. Ông viết: “Ba chiếc bánh cao su lắp vào một cái gióng bằng sắt, hai bánh để trước, một bánh để sau. Giữa hai bánh trước, đặt một cái giỏ mây vào. Sau lưng giỏ, dựng một cái cần cao để làm cọc chống đỡ lấy cái mui: vành sau giỏ lắp một cái tay xe cho người ngồi đạp đằng sau cầm lái. Đấy phác qua, chỉ có bao nhiêu cái. Bấy nhiêu cái khéo đặt cho tiện mưa nắng, nhà đóng xe đã có thể chế ra một thứ xe người đạp người”. Đây là thứ xe mà sau đó đã xuất hiện mà người ta gọi là xe “xích lô” – ngày nay vẫn còn dùng. Sau tập phóng sự Tôi kéo xe ra đời, hàng loạt các tập phóng sự khác có giá trị cũng tiếp tục ra đời và hình thành một đội ngũ hùng hậu. Có thể kể đến Vũ Trọng Phụng với Kỹ nghệ lấy Tây (1936), Cơm thầy cơm cô, Lục xì (1937); Trọng Lang với Trong làng chạy (1935), Làm dân, Hà Nội lầm than (1938); Nguyễn Đình Lạp với Thanh niên trụy lạc, Từ tình ái đến hôn nhân (1937) Hoàng Đạo với Trước vành móng ngựa (1938); Ngô Tất Tố với Việc làng (1940) v.v… Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn có lý khi viết: “Mang nặng lối sống của phương Tây, xã hội lúc bấy giờ lúc nào cũng ý thức tự suy đoán, muốn soát xét lại chính mình, sẵn sàng phơi bày những thói tật vốn có để bảo nhau cải cách thay đổi. Mà nền văn học đương thời đã đủ trưởng thành để gánh vác công việc xã hội trông đợi. Bởi vậy, mặc dù là thể loại sinh sau đẻ muộn – mãi đến những năm ba mươi, mới thật sự ra đời song thể loại phóng sự đã có những tác phẩm ngày nay đọc lại người ta vẫn còn có thể say mê” và đánh giá Tôi kéo xe là một trong “những mẫu mực, các cây bút phóng sự tương lai trông vào mà tìm cách phấn đấu để có những phóng sự ngày một đậm đà sắc sảo hơn, nói chung là ngày một hay hơn nữa”.

Sau Tôi kéo xe, Tam Lang còn viết các tập phóng sự khác như Đêm sông Hương (1938) và những tập văn châm biếm, trào lộng như Lọng cụt cán (1939), Người ngợm (1940)…

Đương thời, cũng như nhiều nhà báo nổi danh khác, Tam Lang không hề được đào tạo qua trường lớp, nhưng bằng tài năng của mình, ông đã có những đóng góp xuất sắc cho nền báo chí và văn học nước nhà. Lúc viết Tôi kéo xe, ông chỉ mới tự trang bị cho mình ý thức về nghề nghiệp: “Làm phóng viên cho báo là phải ghi lại cấp tốc những sự kiện xảy ra trong chớp mắt; những cảm nghĩ thoáng qua trong óc; lia lịa viết trên bất cứ mảnh giấy nào nếu mình không mang theo sẵn giấy sạch sẽ; đứng viết, ngồi viết, vì nếu chỉ chậm trễ một giây, một phút, nhiều chi tiết, nhiều cảm tưởng thoáng qua mà mình không ghi chép, là bỏ mất những đoạn có thể hay nhất, cần thiết nhất của thiên phóng sự hoặc của bản thông tin. Người phóng viên lành nghề phải là người nhanh trí, nhanh mắt, nhanh miệng, nhanh tay, nhanh chân, và bình tĩnh đến cái mức độ ghi nhận sự kiện và cảm nghĩ ngay giữa buổi họp chợ ồn ào vì đông người, ngay bên chiếc máy in động cơ chạy ầm ầm, ngay giữa cuộc cãi nhau như mổ bò của phiên hội đồng, ngay giữa cảnh loạn đả của một cuộc giao tranh nghĩa là không bị chi phối của bất cứ cái gì ngoài cảnh không liên hệ đến chỗ việc mình đang quan sát”.

Bây giờ, các nhà viết phóng sự của chúng ta đã được trang bị nhiều từ lý luận đến phương tiện hành nghề, nhưng lời khuyên trên của một nhà phóng sự bậc thầy chưa hẳn là thừa. Tam Lang mất năm 1986, thọ 86 xuân. Có thể ghi nhận Tam Lang là một trong những người làm báo chuyên nghiệp đầu tiên ở nước ta, cùng thế hệ với Vũ Bằng, Phùng Tất Đắc, Đào Trinh Nhất, Hoàng Tích Chu, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng… Và ông cũng là người có công đào tạo nhiều thế hệ nhà báo kế tục sự nghiệp báo chí.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Tam Lang

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)