Tống Hữu Định (1869 – 1932)

Tống Hữu Định (1869 – 1932)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Về lịch sử cải lương trong tác phẩm khảo cứu Nghệ thuật sân khấu cải lương của nhà nghiên cứu Trần Văn Khải có viết những nét chính – mà ngay cả học giả Vương Hồng Sển cũng phải trích lại trong Hồi ký 50 năm mê hát và khẳng định “rành rẽ, đầy đủ, không ai chối cãi được”.

Và đây cũng là tài liệu mà hầu hết các nhà nghiên cứu đều căn cứ vào đó khi viết về lai lịch của loại hình nghệ thuật độc đáo này. “Hai tiếng Cải lương có nghĩa” sửa đổi cho tốt hơn”. Từ xưa ở Việt Nam không có lối diễn tuồng nào khác hơn là hát chèo hay hát tuồng (ở Bắc phần) và hát bội (ở Trung và Nam phần). Đến năm 1917, khi cải lương ra đời, người mình nhận thấy điệu hát này có vẻ tân tiến hơn điệu hát bội, nên cho đó là việc cải thiện điệu hát xưa cho tốt hơn. Vì lẽ ấy người mình dùng hai tiếng “cải lương” để đặt tên cho điệu hát mới mẻ này. (Tiếng cải lương gốc ở câu Cải lương phong tục mà ra)” (trang 81). Theo nhà nghiên cứu Trương Bỉnh Tòng thì sau này, gánh hát Tân Thinh năm 1920 cũng có ghi hai câu như tuyên ngôn:

Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh

Ông Trần Văn Khải viết tiếp: “Trước kia ở rải rác trong các tỉnh Nam phần có những ban tài tử đờn ca trong các cuộc lễ tại tư gia tân hôn, thăng quan, giỗ quải v.v… Nhưng không bao giờ có đờn ca trên sân khấu hay trước công chúng.

Qua lối năm 1910, ở Mỹ Tho có ban nhạc tài tử của Nguyễn Tống Triều tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Chín Quán (đờn độc huyền), Mười Lý (thổi tiêu), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca). Ban tài tử này đờn ca rất hay vì phần đông đã được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp mới về. Kế năm 1911, tài tử Nguyễn Tống Triều muốn đưa ca nhạc ra trước công chúng, nên thương lượng với chủ nhà hàng “Minh Tân khách sạn” ở ngang ga xe lửa Mỹ Tho – Sài Gòn để ban tài tử đờn ca giúp vui cho thực khách, đến nghe càng ngày càng đông. Nhận thấy sáng kiến này có kết quả khả quan, Thầy Hộ – chủ rạp hát bóng Casino phía sau chợ Mỹ Tho – muốn cho rạp hát mình đông khán giả bèn mời ban tài tử Tư Triều đến trình bày tối thứ bảy và thứ tư trên sân khấu, trước khi chiếu bóng. Lối ca trên sân khấu được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.

Lúc bấy giờ, lối năm 1912, chúng tôi tòng học tại tỉnh lî Mỹ Tho, có đến xem. Cách chưng dọn sân khấu còn đơn sơ. Cái màn bạc dùng làm bối cảnh (fond), kế đó có lót một bộ ván, trước bộ ván có để cái bàn chưn cheo. Hai bên sân khấu có để cây kiểng và khán giả có cảm giác đứng trước một cái phòng khách hạng trung lưu. Cách bài trí sân khấu này tuy đơn giản, nhưng nó gợi cho các nhà giàn cảnh cải lương mai hậu những ý niệm về việc trang hoàng sân khấu. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem nghiêm trang. Cô Ba Đắc ca rất hay và biết đủ các bài bản cổ điển. Nhất là cô ca bản Tứ đại oán Bùi Kiệm Nguyệt Nga rất duyên dáng (lớp đầu):

Kiệm từ khi thi rớt trở về
Bùi Ông mắng nhiếc nhún trề
“Cũng tại mày ham bề vui chơi”
Kiệm thưa: “Tài bất thắng thời
Con dễ nào không lo bề công danh
Tuổi con còn xuân xanh
Công ơn cha mẹ, con chưa đáp đền, đó cha ôi!”
Bùi Ông nghe
Tiếng nỉ non vuốt ve khuyên Kiệm:
“Thôi con ở lại nhà
Đặng hôm sớm với cha”

Trên đây là bài ca Tứ đại oán soạn theo lối văn kể chuyện. Khi muốn ca kịch hóa bài Tứ đại, người ta phải sửa đổi câu ca bằng lối vấn đáp như sau:

(Bùi Ông đương ngồi trong phòng khách, Bùi Kiệm ở ngoài bước vào xá một cái)

Bùi Ông (hỏi): – Sao việc thi cử thế nào con? Bùi Kiệm (vô ca Tứ đại lớp đầu):

– Dạ thưa cha, con nay thi rớt trở về.

Bùi Ông (ca tiếp):

– Kiệm à, nghe qua tao tức tối trăm bề

Cũng tại bởi mày, sao ham bề vui chơi?

Bùi Kiệm:

– Thưa cha, tài bất thắng thời

Con dễ nào không lo bề công danh

Tuổi con còn xuân xanh

Công ơn cha mẹ, con chưa đáp đền, đó cha ôi!”

Bùi Ông:

– Già đây nghe tiếng nỉ non (quay sang nói với Kiệm)

Thôi thôi, con Kiệm, con hãy ở lại nhà

Đặng hôm sớm với cha.

Đây là một bài ca có đối thoại giữa Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga. Nó khơi nguồn cho các soạn giả đặt những bài ca có vấn đáp cho điệu cải lương sau này. Cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại oán với một giọng như có vấn đáp, nhưng cô không ra bộ. Ngoài ra, cô Hai Nhiễu cũng có phụ ca với cô Ba Đắc trước công chúng.

Cái sáng kiến đưa đờn ca tài tử lên sân khấu của Tư Triều từ năm 1912 tại Mỹ Tho lan tràn đến Sài Gòn và nhiều tỉnh ở Nam phần. Trước hết lối năm 1913-1914, ông chủ nhà hàng Cửu Long Giang ở sau chợ mới Sài Gòn nghe tin ban tài tử Tư Triều ở Mỹ Tho được ăn khách, xuống mời về đờn ca tại nhà hàng của ông (sau đổi hiệu Mékong).

Lần lần bài ca Tứ Đại oán Bùi Kiệm, Nguyệt Nga của cô Ba Đắc ca được phổ biến trong mấy tỉnh trung tâm Nam phần như Vĩnh Long, Sa Đéc, Mỹ Tho v.v…

Đến năm 1915, ông Tống Hữu Định, tục danh ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long quy tựu anh em tài tử, rồi cho ba người thủ vai Bùi Ông, Bùi Kiệm, Nguyệt Nga đứng trên ván vừa ca vừa ra bộ”. Và cũng qua diễn xuất, người nghệ sĩ mới có thể diễn đạt hết cái hay, cái đẹp trong ca từ. Rõ ràng, nó đã đặt nghệ sĩ vào một tình thế chủ động hơn, không chỉ rèn luyện về thanh âm mà còn phải nỗ lực trong cách biểu cảm của hành động. Có thể nói, ca ra bộ là hình thức của trình diễn sân khấu, là gạch nối của hình thái âm nhạc chuyển dần sang hình thái sân khấu.

Như vậy vai trò tiên phong này thuộc về ông Tống Hữu Định, hiệu Tịnh Trai, còn gọi là thầy Phó vì ông làm Phó cai tổng Bình Long (Vĩnh Long) và Mười Hai vì theo thứ hạng trong gia đình. Ông sinh năm 1869 tại làng Long Châu (Vĩnh Long) vốn dòng dõi Tống Phước Hiệp – công thần của chúa Nguyễn. Đồng ý với nhận định này, nhà văn hóa Vương Hồng Sển có viết: “Nay thử hỏi, người đứng đầu công buổi tiên khởi là ai? Khó nói cho đúng. Hay là muốn nói ít sai thì phải dài dòng. Sơ khởi nên kể công cho ông Tống Hữu Định. Kế đó người có gan đưa lên sân khấu thiệt thọ, gầy dựng thành hình hát cải lương như ngày nay lại là thầy André Lê Văn Thận, quê ở Sa Đéc” và có cho biết thêm đôi nét về cuộc đời của Tống Hữu Định. Đó là người ăn chơi bậc nhất đất Vĩnh Long vào năm 1915, thường tổ chức tiệc tùng đờn ca và thường dạo chơi đây đó. “Từng ghé Mỹ Tho ngủ đêm tại đây để chờ sáng đáp tàu hỏa lên Sài Gòn, nhân dịp đó có lẽ thầy đã từng xem hát bóng có đờn ca tài tử; cũng như thầy từng ngồi uống rượu nhà hàng như nhà Cửu Long Giang góc d’ Espagne Aviateur Garros, nay là góc Lê Thánh Tôn – Thủ Khoa Huân, và như tại nhà hàng Thầy Bảy Phương gọi là Lương Hữu khách sạn đường Carabilli, nay là đường Nguyễn Thiếp, thầy thấy giàn đờn tài tử, thầy chíp để bụng về nhà bày đờn ca ngồi trên ván ngựa v.v…”(1).

Trong buổi chơi nhạc tại nhà mình, Tống Hữu Định đã tổ chức ca bài Tứ đại oán về Bùi Kiệm thi rớt thì ông giáo Du đóng vai Bùi Ông, ông giáo Diệp Minh Ký trong vai Bùi Kiệm và cô Ba Định trong vai Kiều Nguyệt Nga. Hình thức cách tân này đã được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đó, nó không còn bó gọn ở Vĩnh Long mà dần dần lan tỏa rộng ở những nơi khác như Sa Đéc, Vũng Liêm v.v… Nhờ bước đột phá ngoạn mục này, mà sau đó, năm 1918, ông André Thận đã mạnh dạn lập gánh hát Thầy Thận gồm có ca ra bộ và diễn xiếc với những nghệ sĩ nổi tiếng như Bảy Thông, Tám Cang, Hai Cúc, Năm Thoàng, Ba Vui… Người soạn giả có công đầu tiên cho gánh hát này và cũng đặt những viên gạch đầu tiên cho kịch bản cải lương là nhà nho yêu nước Trương Duy Toản. Chính ông Toản là người đã gộp những bài ca lẻ thành tiết mục hẳn hoi như Bùi Kiệm thi rớt trở về, Kim Kiều hạnh ngộ v.v…

Và dần dần trải qua nhiều năm tháng nó đã đạt đến điều mà những người đi tiên phong mong muốn: “Nghệ thuật cải lương lấy ca nhạc thính phòng làm gốc, nhưng khác với thính phòng ở chỗ sân khấu cải lương phải có tính hành động, hò, lý, ca, ngâm là những điệu nhạc đượm thuần sắc thái dân tộc. Tích truyện dân gian đi sát với trình độ thưởng thức của quần chúng. Khi xem loại vở xã hội hiện đại trên sân khấu, khán giả có cảm tưởng hoàn cảnh của nhân vật có thể xảy ra thực tế ở ngoài đời, nên càng xúc động lòng người. Thêm vào đó, cải lương có góp phần thay đổi sân khấu theo lối mới: vẽ tranh cảnh làm trang trí, lấy phông màn, chia lớp lang theo phương pháp mới. Nghệ thuật cải lương được đa số quần chúng hâm mộ và ủng hộ là điều dễ hiểu, vì ngôn ngữ của nó giản dị rõ ràng, biểu diễn rất gọn gàng, mạch lạc, nó gần gũi với đủ hạng người, từ trí thức đến bình dân đều ưa thích. Đó là phần ưu điểm của cải lương”.

Là người mê đờn ca, câu hò điệu hát nên Tống Hữu Định có tâm hồn thi sĩ cũng là điều dễ hiểu. Ông cũng có sáng tác thơ và đáng quý hơn nữa ông là một Mạnh Thường Quân, biết chiêu hiền đãi sĩ để phong trào ca nhạc tại địa phương mình phát triển mạnh. Bên cạnh đó, ông còn đứng ra vận động nhân dân Nam Kỳ lục tỉnh xây dựng lại Văn Miếu Vĩnh Long – nhằm biểu dương nét văn hóa lâu đời của vùng đất mới phương Nam. Tâm nguyện của ông thể hiện qua bài thơ Vịnh Văn Miếu:

Chùa hư, miếu dột dạ nào yên,
Trời đất hay chăng chút nghĩa thiền.
Trong điện vuông tròn con bóng dọi,
Ngoài hiên to nhỏ ngút mây chuyền.
Dấu xưa nhìn đó lòng thêm tủi,
Tích cũ thấy đây dạ lại phiền.
Biến họa đua bơi tài mấy kẻ,
Nỡ nào ngơ lấp mắt tai riêng.

Như chúng ta đã biết, Văn Miếu Vĩnh Long được xây dựng từ năm 1864 và khánh thành năm 1866 trong những ngày ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ lọt vào tay giặc Pháp. Hành động này biểu hiện tinh thần tôn sư trọng đạo, chí khí bất khuất của các sĩ phu yêu nước. Các tao nhân mặc khách, văn nhân tài tử thường đến đây xướng họa thơ văn để qua đó bày tỏ nỗi lòng trước vận mệnh đất nước. Do đó, việc đứng vận động mọi người góp công, góp sức trùng tu Văn Miếu của Tống Hữu Định có ý nghĩa sâu sắc. Công việc này diễn ra từ năm 1902 đến giữa năm 1903 thì hoàn tất.

Chỉ riêng việc xây dựng lại Văn Miếu của Tống Hữu Định đã là một điều rất đáng quý, đáng để đời sau ngưỡng mộ, đằng này ông còn là người đi tiên phong trong việc đặt những viên gạch đầu tiên trong nghệ thuật cải lương. Nhà nghiên cứu Hoài Ngọc trong bài Thành công và thất bại của “Nửa thế kỷ cải lương” xét trên quan điểm nghệ thuật đã đưa ra những nhận định xác đáng: “Ca ra bộ dần dần phát triển thành phong trào, trên sân khấu gỗ dưới sân khấu đất và lan rộng đến tận những nơi có đông đảo quần chúng tụ họp tiệc vui, tiệc cưới, các đám ma, tế lễ v.v… Qua sự sôi nổi của phong trào ca ra bộ, chúng ta có thể kết luận rằng: cổ nhạc của ta cách đây hơn 50 năm rất được đông đảo quần chúng mến chuộng, dẫn đến một nhu cầu: nghe hát, chưa đủ; cần được xem hát, quần chúng mới thỏa mãn hoàn toàn.

Giai đoạn chuyển biến từ ca đến diễn do đòi hỏi bức thiết của quần chúng như thế, đó chính là một bước ngoặt quyết định sự cấu thành của sân khấu cải lương sau này.

Phong trào ca bộ cứ lần tiến lên chiếm lĩnh sân khấu. Tiếp theo hình thức ca ra bộ là hát chập. Hát chập có nghĩa là hình thức liên ca, gồm nhiều bài ca nối tiếp nhau có nhiều động tác, lồng vào đó là một cốt truyện ngắn, có ý nghĩa, có nội dung. Đà phát triển của ca ra bộ và hát chập hết sức nhanh chóng. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, từ vị trí “phụ diễn” hết sức khiêm tốn, màn độc đáo “Bùi Kiệm – Nguyệt Nga” được dựng lên thành vở ca kịch hoàn toàn. Đó là vở “Lục Vân Tiên” tức “Nguyệt Nga cống Hồ”- vở cải lương đầu tiên trên sân khấu thầy Năm Tú tại Mỹ Tho, do nhà soạn giả đầu tiên là ông Trương Duy Toản biên soạn.

Đó là một kỳ công của những người khai sơn phá thạch”.

Những nhận định chính xác này đã khẳng định tầm quan trọng vai trò tiên phong của Tống Hữu Định và những người cùng thời với ông trong việc đặt nền móng cho nghệ thuật cải lương. Cải lương còn thì tên tuổi của họ mãi mãi còn.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Tống Hữu Định

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)