Thông tin chung
“Người đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm là Thế Lữ. Những bài thơ có tiếng của Thế Lữ ra đời từ đầu 1933 đến cuối 1934 (tuy có bài làm từ năm 1928). Giữa lúc người thanh niên Việt Nam đương ngập trong quá khứ đến tận cổ thì Thế Lữ đưa về cho họ cái hương vị phương xa. Tác giả Mấy vần thơ liền được tôn làm đương thời đệ nhất thi sĩ và nhờ thế lập được công lớn, đã mở đường cho các nhà thơ mới sau này…Cái vinh quang rực rỡ của Thế Lữ có lẽ đã khiến cho nhiều người thèm thuồng”; “Độ ấy thơ mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột hiện ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam” (Hoài Thanh – Thi nhân Việt Nam).
“Ông là một thi sĩ có công đầu trong việc xây dựng nền thơ mới. Phan Khôi và Lưu Trọng Lư chỉ là những người làm cho người ta chú ý đến thơ mới mà thôi, còn Thế Lữ mới chính là người làm cho người ta tin cậy ở tương lai của thơ mới. Thơ ông, không phải chỉ mới ở lời mà còn mới ở ý nữa. Những ý ấy, ông đã phô diễn với mọi sự nồng nàn, làm cho người đọc phải thổn thức, say sưa”; “ông lại là một tiểu thuyết gia có tiếng nữa, về tiểu thuyết, ông chuyên viết hai loại: rùng rợn, ghê rợn và loại trinh thám”; “là một tiểu thuyết gia có biệt tài” (Vũ Ngọc Phan – Nhà văn hiện đại).
“Thế Lữ là một trong những người đầu tiên đã đưa kịch nói lên sân khấu Việt Nam. Ông cũng là nhà đạo diễn số một, đầu tiên ở nước ta, là người đưa kịch nói từ trình độ nghiệp dư lên chuyên nghiệp. Trong khi những người hoạt động kịch nói cùng thời chỉ thỉnh thoảng tổ chức biểu diễn kịch nói với lý do quyên góp tiền bạc làm việc thiện – thì Thế Lữ lần lượt lập ba ban chuyên nghiệp sống được bằng tiền bán vé: Ban kịch Tinh hoa (1938), ban kịch Thế Lữ (1941), Ban kịch Anh Vũ (1943). Xét về phương diện này, Thế Lữ xứng đáng được gọi là Người sáng lập ra nền kịch nói Việt Nam” (Dương Ngọc Đức – Lời truy điệu Thế Lữ của Hội Sân khấu Việt Nam).
Không những thế – là một trong những cây bút trụ cột của nhóm Tự lực Văn đoàn, khi làm báo Phong hóa, Ngày nay – Thế Lữ đã chứng tỏ là một nhà báo xông xáo, có khả năng viết nhiều thể loại nhưng sở trường nhất là viết bình thơ trong mục “Tin văn…vắn” với lối văn trào phúng, hài hước với bút danh Lê Ta, Lê Ngã…
Thế Lữ – con người rất tài hoa ấy đã tự nói về mình:
Tôi là kẻ bộ hành phiêu lãng
Đường trần gian xuôi ngược để vui chơi…
Thân thế
Ông tên thật là Nguyễn Thứ Lễ vì là con thứ, nên ký bút danh Nguyễn Thế Lữ, một cách nói lái tên của mình – sau khi người anh cả mất thì bỏ chữ Thứ; lại còn có tên Nguyễn Đình Lễ nên ký bút danh Đề Lĩnh; lại có tên Nguyễn Khắc Thảo (vì bố tên là Thuận), sau vì trùng tên với người trong họ nên bỏ. Thế Lữ sinh ngày 6/10/1907 tại ấp Thái Hà (Hà Nội). Thuở nhỏ, ông sống ở Lạng Sơn do bố làm sếp ga nơi đó. Có lẽ phong cảnh rừng núi nơi đó đã ảnh hưởng sâu sắc đến những trang văn của Thế Lữ sau này. Ông kể: “Ngày còn bé, những khi ở với cha, lêu lổng, không ai ngăn giữ. Trong khi ấy tiếp xúc với thiên nhiên, thì cái sợ nhiều hơn là cái đẹp. Rừng núi đầy vẻ bí mật. Chuyện người lớn kể cho nghe toàn là chuyện ghê sợ: chuyện để của, chuyện thổ phỉ, chuyện ma cà rồng, ma gà; ông chú xem họ xử chém người ở bên kia biên giới, về kể, làm tôi sợ. Thuở ấy, tiếng chim kêu nghe ra cũng có những âm vang ghê sợ. Mặt khác: những tên thực dân Pháp. Tôi sợ Tây đến nỗi cuối phố thấy Tây râu xồm, tôi hét lên, chạy! Nó muốn mơn tôi, móc ra một đồng xu mới vàng chói, cho; tôi càng sợ. Ở Lạng Sơn xưa: nhớ thương và sợ.
… Năm 1924, tôi thi đỗ sơ học, rồi ốm một năm. Linh mục công giáo bảo “lấy vợ cho nó”. Mẹ xách đi dạm vợ; thế là tôi lập gia đình lúc 17 tuổi! Có vợ rồi, vào trường Thành chung Hải Phòng.”
Sự nghiệp
Nhưng chỉ học ba năm thì Thế Lữ bỏ học. Năm 1929-1930 lên Hà Nội thi vào trường Mỹ thuật, không đậu chính thức mà chỉ học dự thính, nhưng chỉ một năm sau ông bỏ về Hải Phòng.
Trước khi về Hải Phòng, có thời gian Thế Lữ làm người sửa bản in cho báo Volonté Indochinoise (Ý muốn của Đông Dương). Hàng ngày, người ta vẫn thấy ông mảnh khảnh, đội mũ “cát”, đi đôi guốc gỗ, mặc quần áo ta (quần chùng áo dài) quẹo từ đường Hoàng Hoa Thám qua vườn Bách Thảo xuống tòa soạn nằm ở phố Cửa Bắc. Khi ngang qua vườn Bách Thảo, ông thường chứng kiến cảnh mấy chú Tây con rủ nhau đến chọc phá những con hổ “Bị ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi. Với cặp báo chuồng bên vô tư lự”… Hình ảnh con hổ tức giận “Với khi thét khúc trường ca dữ dội” để đòi lại “Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!” đã khiến ông bàng hoàng xúc động. Bấy giờ, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc dân Đảng vừa bị thực dân Pháp dìm trong máu, thống chế Robin hạ lệnh ném bom tàn phá cả làng Cổ Am (Hải Dương) để tiêu diệt hết quân “phiến loạn” đang ẩn náu, rồi trước đó những cuộc biểu tình đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, đám tang cụ Phan Châu Trinh với hàng vạn người yêu nước tham dự đã hiện về trong tâm trí của ông. Lập tức ông liên tưởng đến số phận của dân tộc chẳng khác gì con hổ đang “Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt”. Tứ thơ hình thành dần trong đầu… Rồi một trưa hè nắng gắt, ngồi nghỉ chân trong vườn Bách Thú, Thế Lữ đã viết bài thơ nổi tiếng này.
Chính thời gian học Mỹ thuật, ông bắt đầu viết lại các chuyện ma quái mà thuở nhỏ ở Lạng Sơn đã nghe kể và đọc cho bạn bè cùng nghe. Đó là những truyện ngắn Một chuyện báo thù ghê gớm, Tiếng hú hồn của mụ ké, Tiếng nói thầm của người chết… Vũ Đình Liên khuyên là nên đem xuất bản. Để tạo sự thu hút ở độc giả, ông ký thêm tên tưởng tượng Đào Thị Tô viết chung với Thế Lữ. Tập sách này do nhà xuất bản Tân Dân của Vũ Đình Long in đầu tiên. Sau khi trở về Hải Phòng, ông tiếp tục viết Vàng và máu…
Có thể nói đây là thời gian Thế Lữ đã tìm cho mình một hướng đi riêng, khác hẳn với các nhà văn cùng thời. “Cái ý phá những lề lối trói buộc là nhất quán trong tôi; trước đây, khi tôi viết truyện, tôi cũng muốn phá thói quen. Trong người mình, chứa chất những tình cảm mạnh mẽ về yêu đương, nhưng đương thời đã có bao nhiêu người viết truyện tình rồi, mình còn viết làm gì nữa; cho nên tôi tìm kiếm về một phía khác, một mạch khác”.
Chính ý muốn “trái khoáy” như trên đã tạo cho Thế Lữ một vị trí đặc biệt trong nền văn học nước nhà.
Bấy giờ, vào học trường Mỹ thuật khóa 1925-1926 có Nguyễn Tường Tam, nhưng chỉ được một năm thì bỏ học, đi Pháp. Từ năm 1930, trên chuyến tàu Compiègne, Nguyễn Tường Tam về nước và hăm hở thực hiện hoài bão lớn lao của cuộc đời mình. Để tổ chức quần chúng và thực nghiệp, nếu phong trào Duy tân lấy việc dạy học thì Nguyễn Tường Tam lấy báo chí làm điểm xuất phát. Tờ báo trào phúng Phong hóa (bộ mới) số đầu tiên ra ngày 22.9.1932, người ta thấy những tên tuổi mới, chưa mấy ai biết đến như Nhất Linh (bút hiệu của Nguyễn Tường Tam), Khái Hưng, Tú Mỡ, Tứ Linh, Thạch Lam… Nhưng lập tức, tờ báo này tạo được tiếng vang lớn trong dư luận.
Trong khi đó, bằng con mắt tinh đời của một nhà tổ chức lão luyện, khi đọc truyện ngắn Một đêm trăng in trên báo Nông công thương, rồi truyện Vàng và máu dịch ra tiếng Pháp dưới nhan đề L’or et le sang in trên báo France-Annam ký tên Thế Lữ – nhận thấy cốt truyện ly kỳ, lời văn bay bướm, giàu nhạc điệu và hình ảnh nên Nhất Linh đã tự nhủ phải tìm cho bằng được tác giả chân tài ấy để mời cộng tác. Dịp may ấy đã đến. Đó là lúc báo Phong hóa tổ chức trao giải cho những độc giả đoạt giải thi viết truyện cười tại trụ sở tòa soạn 80 Quan Thánh. Thế Lữ đến nhận giải thì Nhất Linh đã sốt sắng mời ông vào ban biên tập của báo.
Từ đây, Thế Lữ sẽ trở thành một trong những người đầu tiên sáng lập nhóm Tự lực Văn đoàn. Nhóm này ra đời vào đầu năm 1933 gồm bảy thành viên như nhóm Thất tinh của Pháp: Nhất Linh, Tú Mỡ, Hoàng Đạo,Thạch Lam, Khái Hưng, Thế Lữ và Nguyễn Gia Trí (về sau còn có thêm Xuân Diệu, Trần Tiêu). Theo đánh giá của GS Hoàng Xuân Hãn: “Đây là một nhóm của những thấm nhuần văn hóa Việt – Pháp, văn hóa Việt Nam tiếp thu được nhờ môi trường chung quanh: gia đình, bạn bè, sách vở và sự quan sát cá nhân, văn hóa Pháp có được ở mức độ tối thiểu là Trung học Cao đẳng.
Thủ lĩnh của nhóm là Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) đã dấn thân vào con đường mới bằng cuốn Nho phong xuất bản năm 1926. Tiếp theo đó, ông sang Pháp để học về bộ môn khoa học. Lúc về lại Hà Nội, ông đã hăng hái lôi kéo các bạn của ông vào con đường mới ấy theo một mục đích thứ hai: tiêu diệt những truyền thống cũ, độc đoán và lỗi thời của một quan điểm Nho giáo lạc hậu.
Để thực hiện ý đồ ấy, ông đã thành lập một tạp chí trào phúng châm biếm: tờ Phong hóa vào năm 1932 với giọng điệu rất trẻ trung, rất tự do và chẳng chút tôn kính nhường nhịn. Tạp chí cho phép cả nhóm đăng thử những tác phẩm của họ, đồng thời phê phán nặng nề và có khi bất công với những người mà nhóm ấy không thích.
Tạp chí và các tiểu thuyết của nhóm ấy xuất bản đã thành công rất lớn. Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng, Đoạn tuyệt của Nhất Linh được xem như là những kiệt tác và đã kích thích cổ vũ nhiều người chọn con đường sự nghiệp văn chương ngay cả ngoài nhóm nữa.
Sau đó nhóm Tự lực đã công bố một bản Tuyên ngôn văn học xác định quan điểm của họ. Họ chống lại: sự bắt chước, những tư tưởng xã hội lạc hậu, Nho giáo lỗi thời. Họ ủng hộ: nghệ thuật dân gian, văn phong giản dị, tuổi trẻ, cái đẹp, cuộc chiến đấu vì hạnh phúc của nhân dân, Tổ quốc xứ sở, tự do cá nhân, thực hiện tinh thần khoa học vào việc xây dựng nền văn học Việt Nam. Nhóm ân cần mời gia nhập những người có tác phẩm cùng chung tinh thần ấy, nhưng lại phê phán hung hăng những người chống lại, những người cạnh tranh trong nghề (riêng lẻ hay thành nhóm)…
Có một điều là, tờ báo có rất nhiều kẻ thù. Tờ tạp chí trào phúng bị cấm, đã phải thay tên bằng Ngày nay rồi vĩnh viễn đóng cửa vào giai đoạn đầu thế chiến thứ hai. Thế là đóng cửa một con đường chắc chắn để tự phát hiện hay tự xác định cho những tài năng trẻ: văn sĩ, kịch tác gia, thi sĩ… của thời đại ấy. Quả thế, tôi đã quên kể rằng tạp chí đã đưa lên nhiều tên tuổi của nhiều nhà thơ trong trường phái Thơ mới: Xuân Diệu, Huy Cận… Nhân vật Tú Mỡ tài ba của chúng ta hàng tuần một bài thơ trào phúng làm nạn nhân phải dở khóc dở cười.
Tóm lại, nhóm Tự lực không phải là nhóm duy nhất nhưng là nhóm quan trọng nhất và là nhóm cải cách đầu tiên của nền văn học hiện đại”. Cơ quan ngôn luận của Tự lực văn đoàn ngoài tờ Phong Hóa, Ngày Nay thì còn đoàn Ánh Sáng và nhà xuất bản Đời nay. Theo tài liệu của chúng tôi tìm được trên báo Ngày Nay, thì nhà xuất bản Đời nay đặt trụ sở tại 80 Quan Thánh (Hà Nội) xuất bản sách theo 4 phương châm: “1. Tìm tòi những nhà văn có giá trị, khuyến khích họ, làm cho nhà văn và tác phẩm được nhiều người biết đến; 2. Săn sóc đến cách in, lối trình bày cho có mỹ thuật, để người ngoại quốc khỏi bĩu môi khinh bỉ khi cầm đến cuốn sách của người Annam. Cuốn sách phải xứng đáng với văn trong sách; 3. Làm một người môi giới sáng suốt và đáng tin cẩn giữa người viết sách và người đọc sách. Người đọc bỏ tiền ra mua cho xứng đáng đồng tiền. Người viết có thể sống đường hoàng về sách, coi công việc viết sách như một nghề hẳn hoi, điều đó rất cần cho sự tiến bộ của văn hóa nước nhà; 4. Nhà xuất bản cũng có tôn chỉ noi theo thận trọng như xuất bản một tờ báo”. Phương châm này, đến nay vẫn chưa lỗi thời.
Được cộng tác với anh em Nhất Linh và các cộng sự cùng chí hướng, từ đây Thế Lữ hội đủ điều kiện để trở thành một trong những người tiên phong khởi xướng phong trào văn nghệ mới. Ngôi sao Thế Lữ bước ra giữa làng thơ với những bài thơ “không ai có quyền bĩu môi trước cuộc cách mạng thi ca đang nổi dậy” (Hoài Thanh). Bài thơ gây ấn tượng nhất của ông và trở nên bất tử trong thi ca Việt Nam hiện đại là Nhớ rừng, tác giả ghi dưới bài thơ “Tặng Nguyễn Tường Tam” và “Lời con hổ ở vườn bách thú”.
Từ tiết tấu đến nhịp điệu của bài thơ đã cuốn hút người đọc ngay từ câu đầu tiên, và càng đọc ta lại thấy bóng dáng chúa sơn lâm hiện rõ với những đường nét dũng mãnh, hiên ngang khó phai mờ:
Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
Thuở tung hoành, hống hách những ngày xưa
Nhớ cõi sơn lâm, bóng cả, cây già
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
Với khi thét khúc trường ca dữ dội
Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
Vờn những đám âm thầm, lá dài cỏ sắc
Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho mọi vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể của muôn loài
Trong chốn cỏ hoa không tên, không tuổi
Nhưng ở đây không chỉ là lời của con hổ, ẩn giữa hai dòng chữ là thân phận cả một kiếp người đang sống trong tù ngục, trói buộc của chế độ đương thời. Tự bản thân bài thơ đã có sức tố cáo một không gian tù hãm, chật chội đến u uất mà bản thân tác giả đã muốn phá toang để tìm đến với khát vọng của tự do. Thật vậy, sau này trong hồi ký nhạc sĩ Lưu Hữu Phước có kể lại: “Ở chiến khu miền Đông, đồng chí Nguyễn Văn Linh nói với tôi: Hồi còn đi học, có lẽ người tuyên truyền giác ngộ cách mạng cho đồng chí là anh Thế Lữ. Vì, ở tuổi cắp sách ấy, thanh niên rất dễ cảm nhận cái hơi thở cách mạng của bài thơ Nhớ rừng”. Bên cạnh đó, những bài thơ mới của ông như Tiếng sáo Thiên thai, Lời than thở của nàng mỹ thuật, Lựa tiếng đàn, Cây đàn muôn điệu, Mấy vần ngây thơ… cũng đã được mọi người đón nhận cuồng nhiệt. Nhà thơ Xuân Diệu cho rằng: “Tản Đà là báo hiệu và đã mở đầu chủ nghĩa lãng mạn về nội dung tâm tình, nhưng văn của ông chưa thoát ra ngôn từ của thơ truyền thống, chưa phải là văn hiện kim, moderne. Thế Lữ thật sự vào chủ nghĩa lãng mạn (romantisme) về nội dung cũng như về hình thức và là giai đoạn đầu của chủ nghĩa lãng mạn; sức hấp dẫn và tính cách của Thế Lữ cũng ở đó”. Và cũng theo Xuân Diệu thì “Có lẽ Thế Lữ là người đầu tiên đã tạo ra chữ “cô em” ở trong thơ, đây không phải là “em” – đối tượng cả tình yêu, của “anh”; mà đây là bản thể của người thiếu nữ, chính bản thân cô ấy; là ngôi thứ ba, nhưng có thể bao gồm cả ngôi thứ hai. “Cô em” của Thế Lữ dễ thương biết chừng nào, có thể là đối tượng để người ta yêu, nhưng đặc biệt là đối tượng để người ta mơ; “cô em” ấy thường sóng đôi với hình tượng cái hồ – hồ là sở hữu riêng của Thế Lữ trong thơ, các nhà thơ khác hầu như không nói đến hồ”. Nhận xét của Xuân Diệu rất tinh tế mà sau đó GS Lê Đình Kỵ cũng có chia sẻ tương tự: “Thi nhân không gọi người đẹp là em mà là cô em nghe thân mật mà vẫn xa cách, tình tứ mà thiếu mặn nồng”.
Lúc bấy giờ, Thế Lữ đã nổi tiếng, nhiều người ngưỡng mộ, trọng vọng. Những câu thơ của ông đã được nhiều người truyền tụng:
Than ôi thời oanh liệt nay còn đâu!…
…Anh đi đường anh, tôi đường tôi
Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
Đã quyết không mong sum họp mãi
Bận lòng chi nữa lúc chia phôi
…Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên
…Tiên nga xõa tóc bên nguồn
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi
Trời cao, xanh ngắt
– Ô kìa Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai…
Không chỉ là một nhà thơ đầy tài năng, Thế Lữ còn chinh phục người đọc qua những tiểu thuyết trinh thám và những truyện ma quái như của Edgar Poe với một trí tưởng tượng phong phú, một đầu óc phân tích sắc bén. Đúng như giáo sư Lê Đình Kỵ nhận xét: “Cho đến nay, trong lịch sử văn học Việt Nam, không có một tên tuổi nào đáng được xếp bên cạnh Thế Lữ trong loại sáng tác độc đáo này”.
Nhưng Thế Lữ không dừng lại đó, năm 1936 khi đang là cây bút chủ lực của báo Ngày nay trong nhóm Tự lực Văn đoàn, Thế Lữ đã cùng với Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Lương Ngọc, Phạm Văn Hạnh, Trần Bình Lộc, Nguyễn Đỗ Cung, Vũ Đình Liên… thành lập ban kịch Tinh hoa với ý định “khởi sắc kịch Việt Nam khả dĩ không thua kém kịch trường Pháp”. Đoàn kịch này đã diễn một loạt vở của Đoàn Phú Tứ như Ghen, Những bức thư tình, Mơ hoa, Gái không chồng… với nội dung “vui vẻ trẻ trung” phù hợp với tầng lớp thị dân đương thời. Và đây cũng là thời điểm Thế Lữ lập ra Nhóm kịch Thế Lữ tại Hải Phòng. Ông đã làm đạo diễn dàn dựng hoặc đóng vai trong các vở như Ông Ký Cóp (Vi Huyền Đắc), Đoạn tuyệt (dựa theo tiểu thuyết của Nhất Linh), Hai người học trò (Lê Đại Thanh), Cô gái với hũ vàng (Mai Hương phóng tác)… cùng với sự cộng tác của các văn nghệ sĩ như Tô Ngọc Vân, Lê Thị Lựu, Song Kim, Minh Trâm, Thanh Hương, Nguyễn Tuân, Tú Mỡ… Trong lúc làm đạo diễn, Thế Lữ tỏ ra khá nghiêm khắc với cộng sự trong từng chi tiết nhỏ trong luyện tập, diễn xuất – nhờ vậy nghệ thuật của nhóm kịch này tỏ ra già dặn so với các nhóm kịch đương thời. Ông từng nhắc nhở mọi người: “Sân khấu là thánh đường. Ai làm nghề này nên tẩy rửa tâm hồn cho trong sạch rồi hãy bước chân vào” và chính ông suốt đời đã làm đúng như thế.
Vào khoảng cuối năm 1938, vào một buổi chiều nhân ngày kỵ của gia đình nghệ sĩ Song Kim, Thế Lữ đến, trên tay cầm theo bó hoa, bọc cẩn thận trong giấy kính. Sau này NSND Song Kim kể lại thật xúc động: “Trước khi ra về, anh ngồi lại nói chuyện riêng với tôi khá lâu, và cuối cùng đưa ra một đề nghị không phải quá bất ngờ, nhưng cũng không phải không đột ngột: anh đề nghị anh cùng tôi kết hợp hai cuộc đời lại với nhau… Một phút im lặng… tôi khẽ hỏi:
– Có cần thế không anh?
– Rất cần, vì thế mới đủ sức lực thủy chung để mà thương yêu nhau, chia sẻ ngọt bùi cay đắng hiến dâng cả cuộc đời mình cho cuộc sống nghệ thuật lúc này và mai sau.” Đây là khoảnh khắc kỳ diệu để gắn chặt hai tâm hồn tài năng lại với nhau.
Những năm tháng này, không khí chính trị ngày càng thêm ngột ngạt. Thế giới bước vào cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ở Đông Dương, thực dân tăng cường đàn áp những tổ chức yêu nước và bóp chết tự do ngôn luận, báo chí… Báo Ngày nay bị đóngcửa. Thế Lữ cảm thấy bất lực, sức khỏe của ông yếu dần. Nhà thơ Tú Mỡ ái ngại nên tìm cho vợ chồng Thế Lữ một ngôi nhà yên tĩnh ở đường Láng – nhà quay mặt ra đường cái mà bên kia đường là khúc sông Tô Lịch chảy qua. Tranh thủ thời gian nghỉ ngơi này, ông quay sang học chữ Hán.
Nhưng bước sang năm 1942, nhận thấy tình hình xã hội dễ thở hơn, phong trào kịch đã hưng sắc, con người ham thích hoạt động trong Thế Lữ lại bừng dậy. Ông thành lập nhóm “Những người yêu kịch”, rồi thảo điều lệ và xây dựng chương trình kịch gồm mười hai vở của Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Khái Hưng, Mai Phương để nhóm kịch Thế Lữ biểu diễn trong thời gian tới.
Để có vốn, vợ chồng ông kêu gọi các cộng sự cùng góp. Nếu ai không góp vốn thì cũng không sao, chỉ không được danh hiệu “người sáng lập chủ yếu” mà thôi. Cuối cùng có năm người là Phạm Văn Đôn, Trịnh Như Lương, Phạm Văn Khoa, Trần Đình Thọ, Thế Lữ góp vốn. Tất cả đều đồng ý lấy tên chính thức là Ban kịch Thế Lữ.
Có một điều thú vị, đây cũng là thời gian mà hai tài năng lớn Thế Lữ và Lưu Hữu Phước đã có dịp tri ngộ. Lúc này, trường nữ sinh trung học Đồng Khánh dự định mở dạ hội học sinh, họ chọn vở Tục lụy do Thế Lữ chuyển sang thể kịch thơ từ tác phẩm văn xuôi của nhà văn Khái Hưng. Dĩ nhiên chỉ mới là kịch thơ chứ chưa có nhạc, không thể hát lên được, họ tìm đến Thế Lữ vì cứ nghĩ ông đạo diễn tài ba này sẽ giải quyết tất tần tật được mọi thứ! Tác giả Mấy vần thơ không mấy thích thú trước lời đề nghị khẩn khoản này, vì ông không tin các nữ sinh này có thể hát được những lời ca chưa có giai điệu và ngâm được những lời văn xuôi nên tìm cách thoái thác:
– Các cô phải tìm cho ra một nhạc sĩ soạn ngay được những bài ca mới, đúng theo lời thơ đã có trong này. Mà nhất định phải là bài ca mới soạn, chứ không được dùng những giai điệu sẵn có như người ta quen làm.
Với điều kiện khó khăn này, ông nghĩ họ sẽ bỏ cuộc. Nhưng không ngờ các cô nữ sinh lại tìm đến nhờ tác giả ca khúc Tiếng gọi sinh viên – dù mới chỉ là một sinh viên trường Cao đẳng nhưng cũng đã nổi tiếng. Lưu Hữu Phước sững người trước lời đề nghị “Phổ nhạc một vở kịch thơ của Thế Lữ!” nên tìm cách hoãn binh. Dù nói phân bua này nọ, nhưng trong thâm tâm đã nhận lời, vậy là Lưu Hữu Phước tìm đến Láng để “đàm phán” với bậc đàn anh danh tiếng. Thế Lữ nhất trí với điều kiện duy nhất mà đôi bên cùng thỏa thuận: thơ nhạc phải giàu phong cách dân tộc. Sau khi Lưu Hữu Phước soạn xong mấy bài nhạc đầu tiên, “Thế Lữ reo lên như gặp một thiên tài. Anh nhận lời làm đạo diễn cho các cô nữ sinh và tức khắc bắt tay vào viết thêm một số bài ca cần thiết và chuyển văn xuôi thành lời đối thoại thơ. Thơ và ca xong được đến đâu, Thế Lữ cho làm thử ngay, lấy một phần căn nhà chúng tôi đang ở làm phòng tập cho bước thứ nhất. Trong khi đó Lưu Hữu Phước vẫn tiếp tục soạn bài hát, và Thế Lữ làm tiếp việc soạn kịch, chuyển văn xuôi ra thơ”(1). Như thế, không ngờ từ một lời giao hẹn oái oăm của Thế Lữ dành cho các nữ sinh Đồng Khánh mà sau này Lưu Hữu Phước tự đánh giá bước trưởng thành của mình: “Đối với tôi, phổ nhạc vở ca kịch Tục lụy là một phát hiện quan trọng… Tôi được dịp thể hiện các loại phong cách dân tộc”(2). Chính vở Tục lụy sau đó sẽ là tiết mục mở màn cho Ban kịch Thế Lữ ra mắt tại Nhà hát lớn Hà Nội, do nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát chỉ huy dàn nhạc đệm. Còn khi biểu diễn tại các trường đại học thì nhạc sĩ Trần Văn Khê đảm nhiệm vai trò này.
Ban kịch Thế Lữ ngày càng tạo được tiếng vang trong công chúng. Nhưng khổ thay, chính vì tạo được tiếng vang mà bọn thực dân đưa vở Đức cha Bá Đa Lộc – ca ngợi một cố đạo mở đường cho Pháp xâm lược nước ta và ép Ban kịch Thế Lữ phải diễn. Trước tình thế này, để giữ thiên lương của một người làm nghệ thuật chân chính, không thể bán linh hồn cho quỷ, Thế Lữ tuyên bố giải tán ban kịch mà ông đã dầy công gầy dựng.
Nhưng rồi, hữu xạ tự nhiên hương, cuối năm 1943, kiến trúc sư Vũ Đức Diên tìm đến mời ông đứng ra làm đạo diễn, chỉ đạo về chuyên môn, chọn tiết mục, chọn nghệ sĩ; còn ông Diên lo toàn bộ về tài chính. Ông đồng ý. Từ đây Ban kịch Thế Lữ có tên mới là Anh Vũ. Điều đáng lưu ý là thời gian này, Thế Lữ đã cải tiến lối ngâm của kịch thơ, ông chủ trương phát huy tính nhạc điệu, tính hàm súc của lời thơ trong cách nói thường chứ không ngâm nga đơn điệu như trước đó người ta vẫn làm. Thành công của thể nghiệm này được chứng minh rực rỡ qua hai vở thoại kịch Trầm hương đình (kịch thơ), Mã Ngôi Pha (kịch lịch sử viết bằng văn vần)…
Tình hình chính trị đang có những chuyển biến lớn. Nhật nổ súng đánh nhau với Pháp. Đảng đã tận dụng thời cơ này để phát động cao trào kháng Nhật làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Lúc này, không thể hoạt động ở Hà Nội, Ban kịch Anh Vũ phải lưu diễn ở các tỉnh. Buổi diễn cuối cùng tổ chức tại Nam Định với vở Đời nghệ sĩ (do Thế Lữ cùng nghệ sĩ trong đoàn sáng tác), khi diễn viên Bùi Công Kỳ hát xong bài Hồn Việt Nam, lập tức hiến binh Nhật ùa lên sân khấu bắt ngay! Nhưng Nhật không làm chủ Đông Dương được lâu. Tình thế ngày càng chín muồi và dân tộc Việt Nam đã đứng lên cứu nước, giành lại độc lập. Thế Lữ mừng cách mạng tháng Tám bằng vở kịch Đời nghệ sĩ (bổ sung thêm đoạn cuối) và các hoạt cảnh Những trang oanh liệt kể lại những gương tiền nhân chống ngoại xâm. Để có thêm vở kịch mới, ông gấp rút dựng kịch bản Đề Thám của nhà viết kịch còn rất trẻ là Lưu Quang Thuận và cùng anh em trong đoàn tiếp tục viết các vở Phan Đình Phùng tiếp sứ, Người loong toong Sở mật thám… và đi trình diễn khắp nơi đều được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt. Cuộc kháng chiến toàn quốc đã nổ ra. Trên đường về lại Hà Nội vào năm 1946, Ban kịch Anh Vũ tự động giải tán. Thế Lữ nói với Song Kim:
– Chúng ta không về Hà Nội nữa! Chúng ta sẽ đi kháng chiến!
– Nhưng chúng ta làm được gì cho kháng chiến?
“Kẻ bộ hành phiêu lãng” quả quyết bằng giọng nói chắc nịch:
– Làm kịch! Phải! Làm kịch kháng chiến!
Từ giây phút này, vợ chồng Thế Lữ đã đi theo cuộc kháng chiến của toàn dân tộc. Đốm lửa đầu tiên của kịch kháng chiến ở Việt Bắc được nhen lên từ vở Tay người đàn bà (Thế Lữ viết chung với Bùi Huy Phồn), Cụ đạo và sư ông. Năm 1948, Đoàn Sân khấu Việt Nam được thành lập dưới sự bảo trợ của Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1949, ông là trưởng đoàn kịch Chiến Thắng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, rồi năm 1952, ông phụ trách ngành kịch trong Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương.
Cuộc kháng chiến thành công. Trở về Hà Nội, Thế Lữ giữ cương vị Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cho đến lúc mất – ngày 3/6/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Ông đã có công đầu trong việc xây dựng sân khấu kịch hiện đại Việt Nam. Trong 50 năm lăn lộn trên sàn diễn, ông đã sắm cả trăm vai kịch, dàn dựng hàng chục vở lớn. Cả cuộc đời mình, Thế Lữ đã sống và làm việc cật lực nên khi ông qua đời nhiều người, nhiều giới thương tiếc không nguôi.
“Tóm lại, thời rạng đông của Thơ mới, Thế Lữ đã đưa ra hoặc đã phát triển những cách tân phù hợp với nhu cầu tư duy lô-gic của thời đại, những cách tân sẽ mở đường cho bút pháp của nhiều nhà thơ đến sau. Do đó, Thế Lữ đã để lại cho người đồng thời kỷ niệm sâu sắc “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”.
Thế Lữ là nghệ sĩ tiên phong, trong cái nghĩa trọn vẹn nhất của hai chữ tiên phong. Thế Lữ chỉ thoải mái trên những bước mở đường, say mê những hoa trái đầu mùa, với cái thuở “lần đầu hết, lòng cô mang tình ái”.
Bản tính ấy giải thích những chặng đường trong sự nghiệp Thế Lữ: làm thơ mới, khi thơ mới chưa có nền; viết truyện trinh thám khi thể loại này chưa có móng. Khi nền móng đã vững, người thợ đá lại xoay sang xây kịch nói – một thể loại chưa có truyền thống trong văn học ta. Ông dừng lại dài nhất với ngọn đuốc sân khấu – có lẽ vì ánh sáng hư ảo mỗi ngày mỗi thay đổi trên tiền trường, phù hợp với tâm hồn bất an của Thế Lữ” (Nam Chi – dẫn theo tập Thế Lữ trong cuộc đời nghệ thuật – Hoài Việt sưu tầm, biên soạn – NXB Hội Nhà văn, 1991).
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ.