Trần Tấn Quốc (1914 – 1987)

Trần Tấn Quốc (1914 – 1987)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

“Xướng ca vô loài” là câu nói miệt thị những người đeo đuổi nghề tuồng hát. Nhìn lại lịch sử ta thấy, Quốc triều hình luật dưới thời Hồng Đức quy định các quan lại lấy đàn bà con gái làm nghề hát xướng, dù làm vợ hay làm hầu, đều phải phạt 70 trượng và lưu đày; con cháu các quan lại lấy hạng phụ nữ kể trên, phải phạt 60 trượng và phải ly dị. Và những con nhà phường chèo, phường tuồng, ả đào… con cháu đều không được đi thi; ai trái luật phải tội đầy hay tội đồ. Quan giám ty biết mà không tố giác phải chịu tội. Luật lệ khắc nghiệt và bất công này đã loại bỏ biết bao người muốn đem tài năng ra giúp nước. Mãi đến đời vua Lê Dụ Tông (1706-1729) do bà Trương Quốc mẫu xuất thân là ca nữ, được tiến vào cung, chúa Trịnh Cương rất yêu quý. Quốc mẫu năn nỉ với chúa để bỏ lệ ấy. Từ đó, con nhà ca kỹ mới được đi thi như lương gia tử đệ. Tuy thế, trong quan niệm dân gian thành kiến trên vẫn chưa thay đổi. Trong thập niên 50 của thế kỷ XX, tại miền Nam, một nhà báo tiên phong đã đứng ra thành lập giải thưởng dành cho người nghệ sĩ “với cao vọng xây dựng một thế hệ cải lương tài và đức đi đôi, hầu xóa bỏ ít nhiều thành kiến đối với nghề hát xứ ta.”

Thân thế

Người đó là Trần Tấn Quốc – một trong những nhà báo lão thành của làng báo miền Nam. Ông tên thật là Trần Chí Thành, sinh ngày 25/9/1914 tại làng Mỹ Trà, quận Cao Lãnh (Sa Đéc) – con trai thứ năm của đông y sĩ Trần Tấn Hưng và Lê Thị Lư. Chí hướng theo nghề báo đã hình thành ngay từ lúc ông còn học Trường Tiểu học Cao Lãnh. Bấy giờ, nhà báo Diệp Văn Kỳ có đến thăm trường. Là một người nổi tiếng trong làng văn trận bút, một người “danh gia vọng tộc”, du học ở Pháp về với nhiều bằng cấp, nhưng ông Kỳ không thèm ra làm quan mà lại nhảy vào làng báo! Đứng trước học sinh, ông dặn dò: “Các em ráng học để sau này giúp ích cho nước nhà. Chắc thầy các em đã nói cho các em biết tôi là ai hỉ? Có người lại bảo, tại sao không ra làm quan? Nhưng làm quan để mà chi? Khi ta chỉ sung sướng một mình còn bao nhiêu đồng bào ta cực khổ thì làm quan có ích gì? Tuy nhiên, về sau muốn làm nghề gì thì lúc còn nhỏ, cũng phải ráng học cái đã. Tôi khuyên các em ráng học”. Cậu học trò Trần Tấn Quốc đứng nghe như uống lấy từng lời và suy nghĩ: “Không phải tôi ước muốn có vợ giàu như ông Kỳ, điều khiến tôi suy nghĩ mãi là người viết báo không có chức phận gì cả, không giống như ông Đốc phủ, ông cò-mi hay ông Quận, cũng không như ông bác sĩ, ông giáo sư nhưng theo tôi nghe biết thì ai ai cũng tỏ ý mến phục người làm báo vô cùng”.

Sự nghiệp

Những năm tháng này, cuộc đời học sinh của Trần Tấn Quốc không diễn ra êm ả. Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời và đã phát động trong quần chúng những cuộc biểu tình long trời lở đất để đòi tự do, cơm áo, đòi giảm sưu cao thuế nặng… Ông đã tham gia vào cuộc biểu tình nổ ra ở Cao Lãnh vào ngày Quốc tế Lao động 1/5/1930. Chỉ mới 16 tuổi, ông đã bị thực dân bắt đày ra Côn Đảo với tội danh “hoạt động phá hoại chống nhà nước”.

Trong rủi có may. Ra đến địa ngục trần gian, ông may mắn được gặp người bạn tù cộng sản là Nguyễn Văn Nguyễn, lớn hơn ông 4 tuổi và quê ở Mỹ Tho. Chính nhờ sống chung với người bạn tù này mà về sau tư tưởng của ông đã có những chuyển biến tích cực. Có một điều thú vị là dù sống trong tù đày, nhưng bao giờ chính trị phạm cũng lạc quan, yêu đời vì họ biết lý tưởng của mình sẽ có ngày trở thành hiện thực. Chẳng hạn, ở Côn Đảo, họ đã lập ra gánh cải lương An Hải. Sau này trong hồi ký của Trần Tấn Quốc có kể lại: “Cho đến năm 1932, hình như lần thứ nhứt, dưới chế độ thống trị, Côn Đảo có một cuộc hát xướng như thế, tổ chức trong ba ngày Tết… Trong đoàn hát, chỉ có anh Nguyễn là người “mưu sĩ” nhứt. Nhơn dịp gánh hát được ra diễn tại Châu Thành, anh mới nghĩ một kế cho bọn chánh trị “lên hương” phen này. Anh Nguyễn là soạn giả kiêm đạo diễn và cũng là một diễn viên trội nhứt. Trước ngày gánh dọn ra Châu Thành, anh triệu tập nội bọn và nói: “Theo phép của ông Chánh, bọn mình chỉ được hát ba đêm tại Châu Thành, tối mồng 1 đến tối mồng 3. Đêm đầu tiên đầu năm chúng mình lựa một tuồng vui, có đông đủ “đào kép” gọi là khai trương đầu năm, đến đêm mồng 2, theo ý tôi phải hát tuồng “Tứ đổ tường” rồi qua đêm mồng 3, muốn hát tuồng gì cũng được.

Mọi người chưa ai kịp hỏi ý nghĩa của sự lựa chọn này, anh Nguyễn nói tiếp:

– Trong tuồng “Tứ đổ tường” có một màn Tòa xử. Theo ý tôi, màn này các diễn viên đóng vai Tòa, Biện lý, Trạng sư đều nói tiếng Pháp và bỏ tất cả mấy bài ca. Nghĩa là chúng ta diễn một màn thoại kịch đúng nghĩa.

Một anh hỏi nửa đùa nửa thật:

– Anh Nguyễn tính “lòe” ai mới được chớ?

Nguyễn cười bí mật, đoạn anh giải thích thẳng thắn:

– Từ ngày bị đày ra đây đến nay, chắc anh em nhận thấy điều này: đại đa số thầy chú đều là kém học, có cha viết không nổi tờ giấy “ráp-bo” tội trốn, thế mà họ thường chửi chúng ta là “đồ dốt như con bò”, “đồ ngu như lợn”! Có cha còn tỏ mình bảnh, chửi vào mặt chúng ta: “Đồ ngu dốt, nghe lời xúi biểu… làm bậy”!

Bởi vậy, dịp này tôi muốn chúng ta trả lời cho bọn thầy chú về vấn đề học thức chơi và cũng để “mấy chả” bớt làm tàng. Họ làm việc cho Tây, tay sai của Tây và chỉ biết phục Tây. Bây giờ chúng ta nói… tiếng Tây cho họ nghe chơi.

– Nghĩa là…

– Phải, nghĩa là nơi màn Tòa xử trong tuồng “Tứ đổ tường” chúng ta nói tiếng Tây, phải nói thật trúng và nói cho có giọng rất… Tây.

Anh Nguyễn nghiêm nghị nói thêm:

– Tuy chuyện “báo thù” rất trẻ con, nhưng chúng ta tin rằng sau buổi hát này, có nhiều thầy chú sẽ thay đổi thái độ với nhóm chúng ta nói riêng và cho chánh trị phạm nói chung.

Rồi anh Nguyễn kết luận:

– Nếu anh em tán thành ý kiến của tôi vừa trình bày thì tôi nhờ anh Khình tiếp với tôi mà viết rút màn Tòa, toàn tiếng Pháp để chúng ta kịp tập dượt, từ điệu bộ đến giọng nói.

Anh em hoàn toàn tán thành…”.

Quả thật, sau này mọi việc đã diễn ra đúng như dự kiến của anh Nguyễn.

Năm 1934, Trần Tấn Quốc được thả tự do và trong đầu của ông đã ít nhiều hình thành về chuyện sân khấu. Từ đây với mảnh bằng Thành chung, ông bắt đầu lao vào nghề viết báo. Cuộc đời của Trần Tấn Quốc có thể nói là một nhân chứng sống của nền báo chí Việt Nam, ông đã sống bằng ngòi bút cho đến năm 1975 gắn liền tên tuổi mình với các tờ Việt Nam, Nhựt báo, Công luận, Truyền tin, Điển tín, Tin điển, Dân tộc, Tiếng dội, Đuốc nhà Nam v.v… Vì lẽ đó, ông từng tự hào phát biểu: “Từ khi bước chân vào trường đời, tôi tôn thờ một đạo. Đạo của tôi là nghề làm báo”.

Và tại sao là một người làm báo nhưng Trần Tấn Quốc lại tiên phong đứng ra lập giải Thanh Tâm, là giải dành cho nghệ sĩ sân khấu? Trước hết, ta thử tìm hiểu xem ông quan niệm về “mối đạo” nghề báo như thế nào mà đã đeo đuổi ngót bốn chục năm ròng: “Trước hết, người làm báo có cái sung sướng hơn những ai khác, là mình được đem tất cả những chuyện gì mà chính mắt mình thấy, chính tai mình nghe, thuật lại cho muôn vạn người khác cùng biết với mình, bằng văn chương rèn luyện quy củ từ trường học đến trường đời.

Người làm báo là con chim trời, chu du cùng khắp, để tìm thấy trước hơn ai những điều hay lạ, để hãnh diện khám phá bao nhiêu việc kỳ bí trên đời, rồi trở về thuật lại cho hàng muôn vạn người khác cùng nghe cùng biết, bằng văn chương sáng tạo và kỹ thuật viết lách của mình.

Người làm báo còn bị nghề nghiệp bắt buộc học tập và học tập mãi để mở rộng kiến văn và trau dồi kiến thức nữa, để chuyện nào mình cũng biết, chuyện đâu mình cũng hay.

Người làm báo là vị luật sư. Nhưng không chỉ đứng trên cương vị luật pháp để biện hộ cho một người hay một số người trong vụ án trước công lý, mà người làm báo luôn luôn đứng trên cương vị của Công bằng và Chánh nghĩa để bênh vực cho tất cả, từ cá nhân đến đoàn thể, từ đoàn thể đến đại chúng và bênh vực cho cả một dân tộc trước dư luận và lịch sử. Người làm báo binh vực cho lẽ phải và công bằng một cách hăng say với tinh thần hiệp sĩ, không cần ai kêu gọi, không màng việc oán trả ơn đền. Nơi nào có tiếng thì thầm than thở của dân là có tai của nhà báo ghé vào, nơi nào có sự lộng quyền ỷ thế, là có mắt của nhà báo ngó tới.

Người làm báo còn là một chiến sĩ nữa. Chẳng những túc trực ở mặt trận bảo vệ tự do chung mà mặc nhiên trở thành anh lính tiên phong trong cuộc đấu tranh của dân tộc chống xâm lăng vì chánh nghĩa.

Nghề làm báo cao cả như vậy, lý tưởng cao sâu của người cầm bút như vậy, há chẳng đáng gọi là một đạo sao?”

Có thể nói, Trần Tấn Quốc đã kiên trì, thủy chung với đạo của mình. Ngòi bút của ông chưa một lần vấy bẩn vì đồng tiền mua chuộc hoặc uốn cong vì cường quyền bạo lực. Ông là nhà báo chân chính và để lại những tác phẩm như Nam bộ kháng chiến (sưu tập tài liệu), Cô gái Côn Đảo (ký sự), Kỷ niệm làm báo 1936-1975 (hồi ký), Ba tháng khói lửa đô thành (phóng sự), Đồng lương nghệ sĩ (phóng sự), v.v… hầu hết chưa xuất bản thành sách. Chính từ công việc làm báo mà Trần Tấn Quốc đã có sáng kiến lập ra giải Thanh Tâm – một đóng góp lớn đối với sự phát triển của sân khấu miền Nam. Sau này, khi Trần Tấn Quốc mất, nhắc lại sự nghiệp của ông, soạn giả Viễn Châu có khóc câu đối thật hay:

Công nhân, Buổi sáng, Tiếng dội, Đuốc nhà Nam, giải Thanh Tâm gắng sức vun bồi, duyên bút mặc, nghiệp báo chương, xếp lại hành trang, đất Cao Lãnh bao dài bao nuối tiếc;

Phùng Há, Năm Châu, Ba Vân, Lê Thị Phỉ, lòng ca kịch góp phần tô điểm, nợ phấn son, tình sân khấu, tàn rồi mộng ước, sông Đình Trung, mấy khúc mấy u sầu.

Từ năm 1958, giải thưởng Thanh Tâm chính thức ra đời nhằm mục đích khích lệ và nâng đỡ lớp nghệ sĩ trẻ hăng hái tiến lên thay thế lớp nghệ sĩ lành nghề đã luống tuổi. Có ba tiêu chuẩn để tuyển chọn: diễn, ca, sắc vóc và đạo đức. Phần đức hạnh được đặt ra vì theo ông làm nhằm ngăn chận, kiềm chế phần nào nếp sống buông thả của nghệ sĩ nói chung. Ban tuyển chọn gồm có những ký giả kịch trường, nghệ sĩ ưu tú, soạn giả tên tuổi… đủ uy tín và chính xác trong việc xét giải. Chẳng hạn, trong ban tuyển chọn đầu tiên năm 1958 ta thấy có nghệ sĩ Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu; nhà báo Trần Tấn Quốc và ông Nguyễn Hoàng Nam – đại diện cho khán giả đã trao Huy chương vàng cho một nữ nghệ sĩ duy nhất có “nhiều triển vọng” là Thanh Nga.

Qua năm 1959, trong ban tuyển chọn có nghệ sĩ Phùng Há, Bảy Nhiêu, Duy Lân; soạn giả Kiên Giang, Hà Triều, Viễn Châu; ký giả Ngọc Linh, Nguyễn Ang Ca, Anh Nguyên, Lê Hiền, Phong Vân, Trần Tấn Quốc, Hoài Ngọc, Bạch Tùng Dương và trao Huy chương vàng cho hai nghệ sĩ Lan Chi, Hùng Minh.

Rồi các năm tiếp theo, các nghệ sĩ được trao Huy chương vàng là Bích Sơn, Ngọc Giàu (1960), Thanh Thanh Hoa (1961), Ngọc Hương, Ánh Hồng (1962), Bạch Tuyết, Kim Loan, Trương Ánh Loan, Tấn Tài, Diệp Lang, Thanh Tú (1963), Lệ Thủy, Thanh Sang (1964), Thanh Nguyệt, Bo Bo Hoàng (1965), Phượng Liên, Phương Quang (1966), Mỹ Châu, Ngọc Bích, Bảo Quốc, Phương Bình (1967). Còn giải Diễn viên xuất sắc năm 1965 trao cho Hữu Phước trong tuồng Chuyện tình 17, Bạch Tuyết trong tuồng Nỗi buồn con gái; năm 1966 trao cho Thành Được trong tuồng Tiếng hạc trong trăng, Thanh Nga trong tuồng Sân khấu về khuya; năm 1967 trao cho Ngọc Giàu, Thanh Hải.

Thành phần ban tuyển chọn mỗi năm đều mời thêm những nhân vật tiếng tăm trong nhiều giới để tạo uy tín cho giải, chẳng hạn năm 1965 có mời thêm luật sư Dương Tấn Trương; nhân sĩ Phùng Văn Quý, Phan Bá Thúc, bà Đỗ Dư Ánh để hợp tác chấm giải Tuồng hay nhứt trong năm. Giải này, năm 1965 trao cho soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng với tuồng Nỗi buồn con gái; năm 1966 trao cho Nguyễn Thành Châu với tuồng Nước biển mưa nguồn, Yên Ba – Loan Thảo với tuồng Tiếng hạc trong trăng.

Về hình thức của Huy chương vàng được chạm khắc với trọng lượng bốn chỉ vàng – nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan giải thích: “Số 1 là hình “vương miện” không phải có đặc tính “vua chúa” mà tượng trưng sự “vinh quang, tối cao”; số 2 tiêu biểu màn nhung của sân khấu; số 3 là hai cành dương liễu giao ngọn, tượng trưng “danh dự” và cũng có ý nghĩa “tươi trẻ mãi” vì dương liễu là loại cây xanh lá suốt năm; số 4 hình “bội tinh”; số 5 hai hàng chữ hơi cong bao quanh bội tinh là “Nghệ sĩ có nhiều triển vọng nhứt”. Huy chương trao năm nào thì chạm con số của năm đó”.

Điều đáng lưu ý là khi đứng ra tổ chức giải Thanh Tâm, Trần Tấn Quốc đã bỏ tiền túi ra để thực hiện, chứ không nhận nguồn tài trợ nào. Tồn tại trong vòng 10 năm trời, giải thưởng này đã có tác động nhất định đến sinh hoạt sân khấu miền Nam và ta thấy, những nghệ sĩ được tuyển chọn từ giải này đều là những tài năng thật sự và đã khẳng định qua thời gian. Sau năm 1967, giải Thanh Tâm tạm ngưng vì tình hình chiến cuộc ngày càng khốc liệt…

Có thể nói, thiện chí của Trần Tấn Quốc đã được nung nấu trong tâm trí từ những năm 1950. Bấy giờ, ông đã ý thức: “Ngược thời gian, chúng ta thấy cũng tội cho nghệ sĩ cải lương xứ mình. Vì cái thành kiến “xướng ca vô loài” mà người ta như cố tình lựa chọn những danh từ không đẹp để gán cho giới sân khấu. Như nam nghệ sĩ thì gọi “thằng kép”, nữ nghệ sĩ thì “con đào”. Và thằng kép, con đào có danh từ chung là “con hát’. Soạn giả được gọi là thầy tuồng, nhạc sĩ thì không gọi bằng thầy mà cũng không kêu bằng thằng, họ gọi chung là “thằng cha thầy đờn”, anh em dàn cảnh thì gọi là “tụi dọn lớp” hay bọn “kéo đề-co” v.v… Còn gọi chung nhân viên của một đoàn hát thì có một danh từ khác “bạn hát” hay “tụi cải lương”; chữ “bạn” trong danh từ “bạn hát” có nghĩa là “bầy” chớ không phải là thân hữu.

Vì cảm thấy bị xã hội bỏ rơi, thêm đời bạc đãi, đa số người theo nghề hát như muốn bỏ phí cuộc đời mình, tạo ra một nếp sống riêng biệt từ vật chất đến yêu đương, bất chấp dư luận, vả lại dư luận có để ý đến đâu mà cần! Họ không còn nhận thấy trách nhiệm hay nghĩa vụ nào khác hơn là “làm trò tiêu khiển cho thiên hạ”.

Cũng vì xã hội không ngó đến, nên trước kia trong làng ca kịch nảy sinh lắm tệ nạn: Bầu thì mặc tình thao túng, xem anh chị em nghệ sĩ là những người làm mướn cho mình, không hơn không kém. Bóc lột thẳng tay bằng nhiều thủ đoạn, nhứt là kể từ ngày chế độ trả lương tháng được thay thế bằng cách phát lương theo mỗi suất hát, tức “lương đêm” cho nghệ sĩ và nhơn viên trong đoàn, thì nghệ sĩ không bao giờ lãnh đủ số lương trong mỗi tháng! Có nhiều ông bầu còn đối xử hà khắc như đánh chửi đào kép, sa thải ngang ngược mà không hề bị thưa gởi hay bị phản đối. Có một ông bầu khi xưa luôn luôn cầm chiếc roi gân bò để đánh đào kép của mình. Gây lộn trong gánh là bị đánh đòn, hát mà không thuộc tuồng cũng bị đòn ngay khi vừa bước vô hậu trường. Vì nợ nần hoặc vì một lý do nào đó mà phải trốn gánh hát – là cô đào hay anh kép ấy thấy gông cùm và tù tội trước mắt. Sống vào thời buổi “kim ngân phá luật lệ”, ông bầu tung vãi tiền ra là nắm gọn luật pháp trong tay để đối xử với đào kép của mình”.

Viết được những dòng như là người trong cuộc, ta thấy Trần Tấn Quốc đã thấu hiểu, thông cảm và chia sẻ với bao đoạn trường của đời người nghệ sĩ. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà khi làm báo, ông đã mở trang “kịch trường” như trên báo Tiếng dội để kịp thời bệnh vực, biểu dương lẫn phê phán những điều được và chưa được của nghệ sĩ bằng cả tấm lòng. Đến khi Giải Thanh Tâm do ông sáng lập thì lập tức trở thành một sự kiện đáng chú ý của đời sống văn hóa thời bấy giờ.

Sự kiện này vẫn giữ nguyên giá trị thời sự cho mãi đến hôm nay. “Kế thừa và phát huy kết quả của giải Thanh Tâm trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ở Sài Gòn, Hội Sân Khấu và tuần báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức giải Trần Hữu Trang nhằm tuyển chọn diễn viên cải lương trên năm tiêu chuẩn có hệ số như sau: Ca (hệ số 3), diễn (hệ số 3), sắc vóc (hệ số 2), đạo đức (hệ số 1), văn hóa (hệ số 1). Lại có cái mới được ghi nhận, đó là phương thức chấm giải qua ba vòng bỏ phiếu. Vòng thứ nhất, khán giả và độc giả tuần báo Sân khấu chọn diễn viên triển vọng mà mình yêu thích. Vòng thứ hai, sự lựa chọn của ký giả các báo. Vòng thứ ba, Hội đồng chấm giải quyết định, sau khi tham khảo kết quả của vòng một và vòng hai”(1). Cách làm nghiêm túc này đã giúp cho giải Trần Hữu Trang ngày một có uy tín, không chỉ tuyển chọn diễn viên trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh mà trong cuộc tuyển chọn năm 2001, nó đã được tổ chức tại 18 tỉnh thuộc khu vực các tỉnh phía Nam và Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả của năm tổ chức đầu tiên – năm 1991, ta thấy có 6 Huy chương vàng triển vọng dành cho nghệ sĩ: Thanh Thanh Tâm, Vũ Linh, Ngọc Huyền, Tài Linh, Phương Hồng Thủy, Thanh Hằng. Hiện nay giải thưởng Trần Hữu Trang vẫn còn tiếp tục duy trì.

Việc lập giải Thanh Tâm của nhà báo Trần Tấn Quốc rất đáng ghi nhận, bởi lẽ ông là người tiên phong góp phần tích cực để xóa bỏ thành kiến “xướng ca vô loài” và nâng đỡ tâm hồn cho người nghệ sĩ về ý thức đem tài đức của mình để cống hiến cho xã hội.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Trần Tấn Quốc

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)