Vũ Đình Long (1896 – 1960)

Vũ Đình Long (1896 – 1960)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Từ những năm cuối thế kỷ XIX, có một vài đoàn kịch Pháp sang nước ta, chắc chắn những lần biểu diễn ấy đã tạo được sự kích thích cho những nhà hoạt động nghệ thuật của chúng ta thời bấy giờ. Tại Sài Gòn, Nhà hát lớn đã khánh thành vào tháng 1.1900. Năm 1918, Ông đốc phủ Lê Quang Liêm và ký giả Đặng Thúc Liêng cho công diễn vở Hoàng tử Cảnh du Tây (hoặc Gia Long tẩu quốc), nhưng chưa phải là kịch nói và không được công chúng hoan nghênh. Mãi đến năm 1925, người đầu tiên viết kịch nói của Sài Gòn là Trung Tín đã viết các vở như Toa toa moa moa, Kẻ ăn mắm, người khát nước… trong đó có xen lẫn vài điệu hát cải lương, nhưng lại không công diễn trên sân khấu.

Trong khi đó tại Hà Nội, so với Nhà hát lớn Sài Gòn thì phải đến hơn mười năm sau, năm 1911 Nhà hát lớn Hà Nội mới xuất hiện. Ngày 25/4/1920, tại đây đã diễn vở Người bệnh tưởng (Le malade imaginaire) của Molière do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Việt. Báo chí đã ghi nhận sự kiện này và “mong rằng sân khấu Việt Nam sẽ diễn những vở hài kịch theo lối Thái Tây để bổ ích cho nhân tâm, phong tục nước nhà” (Thực Nghiệp dân báo số 7.1920). Sau đó công chúng được xem những vở kịch khác như Ai giết người của Tô Giang – phỏng theo truyện ngắn của Mân Châu in trên Nam Phong tạp chí số 28, Già kén kẹn hom của Phạm Ngọc Khôi, rồi Mảnh gương đời, Bình địa ba đào của Trần Tuấn Khải v.v… Sân khấu kịch nói Việt Nam thuở bình minh đang đi những bước đầu tiên trên đường hình thành.

Thế nhưng, phải đợi đến ngày 22/10/1921 người ta mới thật sự tin tưởng vào loại hình nghệ thuật này.

Thân thế và sự nghiệp

Đó là ngày công diễn vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long (tại Nhà hát lớn Hà Nội) do Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp Ái hữu tổ chức. Sự kiện này đã đánh dấu một cột mốc quan trọng cho sân khấu kịch nói. Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan ghi nhận: “Vũ Đình Long là người đã có ý thức soạn những vở kịch có thứ lớp theo lối Âu Tây trước nhất”, “là nhà soạn kịch lối mới trước nhất ở nước ta” và “vở kịch Chén thuốc độc là cái mốc đầu tiên trên con đường hài kịch Việt Nam lối mới”. Hầu hết các báo chí lúc bấy giờ như Thực Nghiệp, Hữu Thanh, Nam Phong hoặc L’ avenir du Tonkin, France-Indochine v.v… đều có bài tường thuật, phê bình. Thi sĩ lừng danh Tản Đà nhận định: “Vở kịch của ông Vũ Đình Long so với văn giới các nước thời chưa biết ra làm sao, so với quốc văn sau này cũng chưa dám biết ra làm sao. Nhưng cứ trong áng văn chương hiện thời của ta nay thì vở kịch của ông tưởng cũng đáng là có giá trị”. Ông Nguyễn Mạnh Bổng không tiếc lời ca ngợi: “Ngày hôm 22 Octobre 1921 này là một ngày kỷ niệm lớn trong văn học sử nước ta” và “văn học sử nước ta sau này chép đến lối văn kịch có lẽ sẽ kể đầu từ bản kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long”.

Gần đây, hai nhà nghiên cứu Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý khi biên soạn Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (NXB Văn Hóa1978) cũng khẳng định: “Vở Chén thuốc độc ra đời đã có tiếng vang lớn. Đối với đương thời, Chén thuốc độc là một thành công báo hiệu sau những lần thử thách, lần mò. Kịch nói Việt Nam đến đây đã hình thành và chính thức gia nhập đại gia đình sân khấu Việt Nam”(trang 26). Mới đây, trong chuyên đề Lướt qua một thế kỷ, Hội khoa học lịch sử Việt Nam đã ghi nhận: “Vở kịch đã đi vào văn học sử và sân khấu Việt Nam với tư cách một sự mở đầu cho kịch nói dân tộc” (Tạp chí Xưa-Nay số 1/2000).

Di sản

Với những ý nghĩa quan trọng như đã nêu trên, ta thử xem qua nội dung của Chén thuốc độc. “Vũ Đình Long nêu rõ cái tác hại ghê gớm của đồng bóng quàng xiên, cùng là thói chơi bời, cờ bạc, cô đầu con hát, đàn địch dông dài. Theo tác giả thì tất cả hạnh phúc, gia sản, đạo đức luân lý gia đình sẽ vì nó mà tiêu tan. Cảnh sống của nhà thầy thông Thu cũng khá tiêu biểu cho một gia đình trung lưu ở thành thị. Sẵn tiền họ đi tìm lạc thú. Mẹ có thú vui của mẹ, con có lạc thú của con, chồng tìm cách chơi của chồng, vợ tìm cách tiêu khiển của vợ. Lớp thanh niên trong vở kịch (Ấm Sứt, Cả Nhắng…) mà danh từ đương thời gọi “công tử bột” là hạng người đàng điếm, vô giáo dục. Chúng chỉ biết ăn cắp tiền của cha mẹ cho nhà thổ cô đầu, suốt ngày đàn địch, chơi bời lêu lổng, hết bình phẩm cô này xấu đến cô kia đẹp. Lúc nào chúng cũng cặp kè máy ảnh đi chụp trộm thiếu nữ về làm ngoạn tập (Ấm Sứt). Đối với thiếu nữ, chúng chỉ cốt dụ dỗ để thỏa lòng vật dục, tàn hại đời trinh tiết của những cô gái nhẹ dạ (Cả Lém). Chén thuốc độc mô tả sự xung đột giữa dục vọng và lương tri, giữa tệ lậu xã hội với hạnh phúc gia đình”.

Cho đến nay, bản kịch này chưa tái bản, nhưng chúng tôi hiện đang có bản quay ronéo dành cho kịch sinh Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn (1970). Ở trang trong có cho biết: “Hí kịch lối mới, ba hồi, chia làm 36 xen”. Cả ba hồi đều chung một cảnh trong nhà thầy thông Thu – một gia đình quý phái, giàu có, ta thấy trong phòng khách “bày toàn đồ sang trọng như tủ chè, giá gương độc bình, hoành phi, câu đối, sạp sơn son thếp vàng, án thư…”. Bố mất, thầy thông còn trẻ, thường “khoắng” tiền nhà để vào chơi bời ở xóm cô đầu hoặc cờ bạc trác táng. Cụ thông – mẹ thầy và vợ thầy thì mê đồng bóng; còn cô Huệ – em thầy thì không có người dạy dỗ mà chửa hoang! Sau đây là một cảnh cầu hồn tuyệt hay được thể hiện qua ngòi bút trào phúng, châm biếm của Vũ Đình Long ở hồi thứ nhất, sen 4:

“Mẹ đồng quan: – Kìa cô hồn đã lại, sao chậm chạp thế?

Cô hồn: – Lạy mẹ! Lạy bà lớn! Lạy cô!

Cụ thông: – Không dám, cô ngồi chơi. Mời cô xơi chén nước.

Cô hồn: – Xin rước mẹ, rước cụ lớn xơi nước.

Cụ thông: – Mời cô. Quýt lấy dĩa trầu cau hương hoa.

Quýt: – Dạ!

Cụ thông: – Đặt quẻ bao nhiêu cô?

Cô hồn: – Bẩm, một tiền bốn mươi đồng ạ! Hay đâu thưởng đấy!

Cụ thông: – Ừ được, nhưng mà hễ không hay thì tôi lấy tiền lại đấy!

Cô hồn: – Vâng, bẩm tên tín chủ là gì? Tên vong là gì? Bao nhiêu tuổi? Chôn ở đâu?

Cụ thông: – Tên tín chủ là Trần Thị Ba, vong tên Nguyễn Văn Đông, mất ngày rằm tháng giêng, năm Khải Định thứ tư, chôn tại Thịnh Hào, xóm Vườn Dưa.

Cô hồn (nâng dĩa trầu lên ngang đầu): – Sụtt… Nam vô ai di đà Phật, Nam vô ai di đà Phật! Sụtt… Khải Định lục niên, lục nguyệt, sơ thập nhật, tín chủ là Trần Thị Lan, thành tâm, có tên vong Nguyễn Văn Đông chết hôm rằm tháng giêng năm Khải Định thứ tư… Sụtt… chôn ở Thịnh Hào, vườn Xóm Dưa, trách cứ thần kỳ thổ đại dẫn hồn Nguyễn Văn Đông về nơi dương gian để giãi tấm lòng ly biệt… sụtt… Nam vô ai di đà Phật, Nam vô ai di đà Phật! (khấn xong một lát, cô hồn phe phẩy quạt vào mặt rồi ngáp mấy cái, hát):

Thương nhau nên hồn về đây

Hồn ở dưới này nhớ vợ cùng con

(Từ đây trở xuống, cô hồn cứ hát xong một câu lại cầm quạt phe phẩy cụ thông một cái).

Cụ thông: – Thế ai nhớ hồn mà gọi hồn thế?

Cô hồn: – Anh thương em lắm em ôi!

Anh về em luống lẻ loi những ngày

Cụ thông (khóc): – Ối anh ôi là anh ôi!

Mẹ đồng quan (nói nhỏ với cụ thông): – Đấy cô hồn có thiêng không?

Cô hồn: – Anh thương em lắm em ơi!

Song the chiếc bóng cùng ai, em chuyện trò?

Cụ thông: – (khóc hu hu)

Mẹ đồng quan: – Thế hồn chết, ai khâm liệm cho hồn?

Cô hồn: – Khi hồn sắp bước chân ra

Họ hàng, làng nước cùng là anh em

Mẹ đồng quan: – Thế đám đưa có đông không?

Cô hồn: – Đưa đám gần lúc giữa trưa

Kẻ khóc cũng lắm, người đưa cũng nhiều

Mẹ đồng quan: – Thế không nói gì đến vợ à?

Cô hồn: – Vợ hồn lẽo đẽo đi theo

Vừa lăn, vừa khóc, vừa kêu, vừa gào

(Cô Huệ đi chợ về, tay cắp rổ, đẩy cửa bước vào)

Sen 5:

Mẹ đồng quan: -Kìa, cô Huệ…

Cô hồn: – Con ta đấy, phải ai đâu

Thương con luống những mạch sầu chứa chan

Cụ thông: – Chịu hồn, thế hồn ở dưới ấy có yên không? Có đi lại thăm

nhà được không?

Cô hồn (không thấy thưởng): – Thôi trưa rồi! Hồn về đây!

Cụ thông: – Thôi, không mấy khi hồn đã về chơi thì hãy thư thư đã, nói

mấy chuyện nữa rồi còn mấy hào tôi thưởng nốt!

Cô hồn: – Từ khi hồn xuống âm ty

Hồn vẫn hiện ra con đom đóm hồn đi về nhà

Cụ thông (nói với mẹ đồng quan): – Thảo nào, hôm qua tôi thấy con đom đóm to tướng, xanh lè lè, bay vào chuồng lợn rồi lên trên thềm, cứ múa tít đi. Thế thì ra hồn cũng đi lại thật mẹ ạ!

Cô hồn: – Chuồng lợn cho chí chuồng gà

Chỗ nào hồn cũng la cà hồn xem

Xem xong hồn bước lên thềm

Vừa nhảy vừa múa ngoài đèn hồn chơi

(ngáp mấy cái, vứt quạt xuống, thăng)

Mẹ đồng quan (nói nhỏ với cụ thông): – Cô hồn này xem được đấy chứ!

Cụ thông: (gật)”

Vở kịch đã tạo ra những tiếng cười náo nhiệt trên sân khấu. Khán giả cười vì sự ngu muội, mê tín, dốt nát của cụ thông khi tin vào lời của bọn buôn thần bán thánh. Đã thế, trong đó còn có những đoạn rất thú vị về chuyện lên đồng với những nhân vật như cung văn, mẹ đồng quan… Sau đây là những đoạn lên đồng để… chữa bệnh cũng được khán giả tán thưởng:

“Cụ thông: -Tấu lạy đức bà, đức bà đẹp chín nghìn!

(Mẹ đồng quan chèo đò)

Cung văn (hát): Tối hôm qua chớp bể mưa nguồn

Trông ra đã thấy cánh buồm xa xa

Khoan khoan hồ khoan, phách nhất kia ơi! Chèo mở lái ra, khoan khoan hồ khoan! Phách nhị giữ nhịp, khoan khoan hồ khoan! Săm săm săm săm, khoan khoan hồ khoan! Tối cảnh tắt đèn, khoan khoan hồ khoan! Đền xinh cảnh đẹp, khoan khoan hồ khoan! Mọi đồ phong quang khoan khoan hồ khoan!

Cụ thông: – Tấu lạy đức bà, đức bà đẹp chín nghìn!

Cung văn: Chèo nhởi chèo chơi, khoan khoan hồ khoan! Lấy quả đào tiên, khoan khoan hồ khoan! Bà dạo chơi băm sáu phố phường, khoan khoan hồ khoan! Ai hay phép thánh, khoan khoan hồ khoan! Ai tường phép tiên, khoan khoan hồ khoan! Bà chèo chơi băm sáu động tiên, khoan khoan hồ khoan! Chiếc thoi bán nguyệt, khoan khoan hồ khoan! Lên đền Đông Cương, khoan khoan hồ khoan!

Cụ thông: – Tấu lạy đức bà, đức bà đẹp chín nghìn!

Cung văn: Nhác trông ra cửa bể mờ mờ, khoan khoan hồ khoan! Có ô bà Thượng, khoan khoan hồ khoan! Có cờ vua ban, khoan khoan hồ khoan! Lơ lửng bên giang, khoan khoan hồ khoan! Hay thuyền bà Thượng chèo sang đền Ghềnh, khoan khoan hồ khoan! Bà ơi, sai cô nàng bắc cầu noi lên bờ, phẳng lặng bằng tờ, khoan khoan hồ khoan!

(Mẹ đồng quan thăng rồi lễ tạ)

(Mẹ đồng quan đang ngồi uống nước thấy thầy thông đẩy cửa vào,

đứng dậy kiếu)

Mẹ đồng quan: – Thôi bà lớn nghỉ, mẹ về có tí việc.

Cụ thông: – Mẹ hãy thư thả đã.

Mẹ đồng quan: – Lâu lắm rồi, mẹ còn chút việc bận, mai bà lớn lại chơi,

mẹ nói chuyện. Chào bà! Chào ông thông!

Thầy thông (lạnh lùng): – Không dám chào cụ!

Cụ thông (hai tay vái): – Lạy mẹ ạ!

Sen 12

Thầy thông (trông thấy lễ vật đầy bàn, lắc đầu…)

Cụ thông: – Thôi, tôi xin ông! Ông văn minh vừa chứ. Mẹ con tôi khổ

sở tai hại vì ông đấy, ông ạ!

Thầy thông: – Thưa mẹ, con có làm điều gì mà đến nỗi thế?

Cụ thông: – Ông có biết vợ ông làm sao mà ốm không?

Thầy thông: – “Đá còn có khi đổ mồ hôi” huống chi là người, trong mình khí huyết không được điều hòa hay là phong sương cảm nhiễm nên ốm chứ sao!

Cụ thông: – Không phải, thánh troàn rằng tại ông hay báng bổ lắm nên thánh phạt vợ ông đấy!

Thầy thông: – Theo mẹ, thế sao mẹ không kêu cho rằng con làm nên tội thì phạt con, chớ sao lại phạt người vô tội?

Cụ thông (hơi gắt): – Thánh bảo rằng mày Tây, thánh không thèm chấp.

Mày thử nhìn cái bụng con Huệ xem!

Thầy thông (kinh ngạc): – Chết chửa! Sao bụng mày to ra thế, Huệ?

Hay là mày đổ đốn ra rồi, hử?

Quýt: – Thưa thầy, ban nẫy đức bà, ngài về ngài bảo các cậu phạt cô con đấy ạ!

Thầy thông (gắt): – Thế nào, Huệ? Tao hỏi sao mày không nói, làm sao mà bụng mày to ra hử?

Huệ (cúi mặt khóc): – Thưa anh, em không hiểu!

Thầy thông (gắt): – Mày không biết à! Rồi mày sẽ biết! Quýt, vào lấy cho tao cái roi song ra đây mau! Bằng ngần ấy mà đã…

Cụ thông: – Khoan đã, Quýt! Thôi đi, ông thông, ông đừng đánh oan, mắng oan con tôi! Con tôi, tôi biết nó không hư đâu. Để tôi làm lễ tam phủ thục mệnh cho chị nó khỏi đã, rồi làm lễ tứ phủ trình đồng cho nó, rồi ông xem bụng nó có bé đi không? Thôi vào đây với mẹ con!

(vừa nói vừa kéo Huệ vào)”

Và sau đây là một cảnh trai gái tán tỉnh với nhau. Nghĩ cũng lạ, thời trước chỉ cách đây hơn một phần hai thế kỷ mà lời lẽ người ta trò chuyện lại “bay bướm” quá, “văn chương” quá! Nếu thời buổi này được nghe, chắc hẳn ta cũng phì cười. Thế mới biết, mỗi thời cách tỏ tình mỗi khác. Ở sen 13, Vũ Đình Long viết:

“Cậu Lém: – Tôi chào mình!

Cô Huệ (vẫn xem báo, chỉ hơi đưa mắt, miệng mỉm cười)

Cậu Lém (ngồi ghế bành): – Mình ơi! Hôm nay mình cho tôi mở khóa động đào, rẽ mây trông tỏ lối vào thiên thai, tôi vui sướng không sao kể xiết! Mình yêu mình quý của tôi ơi! Tôi xa mình lúc nào tôi cũng nhớ, tôi thương, tôi sầu, tôi não. Thực hồ:

Năm canh trằn trọc tình lai láng
Sáu khắc bồi hồi dạ nhớ mong!
Chẳng biết rằng ai nhớ ai chăng?

Cô Huệ (không nói gì vẫn xem báo, chỉ thỉnh thoảng mỉm cười, hơi đưa mắt tỏ tình âu yếm mà thôi).

Cậu Lém: – Mình ơi chẳng hay mình thấu cho chăng? Tôi thương mình, tôi nhớ mình không lúc nào khuây, lúc nào cũng phất phơ như mình ở trước mắt! Lắm khi bể tình lai láng, nên mấy câu này tôi đọc để mình nghe:

Mình ơi! Mình đẹp, đẹp như hoa,
Yểu điệu thanh tân rất mượt mà.
Má phấn môi son, con mắt phượng,
Yếm đào da trắng, nước da ngà.
Miệng cười đón bạn trăm hoa nở,
Mắt liếc đưa tình chiếc nhạn sa.
Tài tử giai nhân duyên gặp gỡ,
Trăm năm ta nguyện bóng trăng già!

Cô Huệ: – Cậu ơi! Hôm nay tôi nhân nhà vắng mời cậu lại đây, cậu chớ cho tôi là một phường với bọn trong dâu trong bộc. Tôi cũng con nhà gia thế, tôi cũng biết mời cậu đến nhà thế này là phi lễ. Nhưng đau đớn thay là phận tôi! Khó khăn thay là cảnh nhà tôi! (nói đến đó, lấy mùi-soa gạt nước mắt)

Cậu Lém: – Chẳng hay mình có điều chi sầu não, xin cho tôi biết, tôi tuy bất tài, song cũng tận tâm kiệt lực để giúp đỡ mình”.

Những xung đột trong kịch đã diễn ra dồn dập, lôi cuốn được người xem. Gia đình thầy thông về sau nợ ngập đầu, nhà bị tịch biên. Lúc quẫn trí, thầy định kết thúc cuộc đời với chén thuốc độc, thì may thay, bạn của thầy là thầy giáo Xuân đem lời phải trái can ngăn. Sau, nhờ có cái măng-đa sáu nghìn của em trai thầy gửi từ Lào về, cứu vãn được tình thế. Từ đó, gia đình thầy tỉnh ngộ, lo tu tỉnh làm ăn, vui vẻ lại như xưa.

Sau vở Chén thuốc độc, Vũ Đình Long còn tiếp tục viết Tòa án lương tâm (1923). Trong đó, thầy ký Thu chí thú làm ăn, yêu thích văn chương nhưng vợ – cô giáo Quý – lại thích đua đòi, ăn chơi, chê chồng là “ký kiết”, rồi làm nhân tình cho Ả Quay để bòn rút tiền đánh bài bạc. Đôi gian phu dâm phụ này còn bàn cách giết thầy ký Thu. Trước bi kịch không chỉ vợ giết chồng mà còn giết cả đày tớ trung thành và người bạn tốt của chồng, nhưng công lý vẫn không phơi bày ra ánh sáng. Có một nhà báo nhận trách nhiệm điều tra ba cái chết oan khiên này, nhưng vì lóa mắt trước tiền của Quý nên ngậm tăm! Từ đó Quý và Ả Quay sống chung với nhau, nhưng chúng cũng không thể nào yên ổn vì lương tâm ngày càng cắn rứt. “Nghiêm ngặt, ghê gớm thay là tòa án lương tâm. Luật pháp của xã hội thì có thể vượt qua được, chứ cái lưới của tòa án lương tâm thì tội nhân, ác phạm không tài nào trốn thoát”. Thế là cuối cùng chúng phải mượn mấy phát súng để tự kết liễu cuộc đời!

Từ Chén thuốc độc thể loại kịch trên sân khấu Việt Nam đã tiến rất nhanh về số lượng lẫn chất lượng và bài trí sân khấu. Chỉ dăm năm sau, nếu so vở kịch “có thứ lớp theo lối Âu Tây trước nhất” của Vũ Đình Long so với các vở Uyên ương (1927), Hai tối tân hôn (1929)… của Vi Huyền Đắc thì người ta đã thấy khoảng cách “một trời một vực”. Đó là tín hiệu đáng mừng cho con đường phát triển của kịch nói Việt Nam – mà Vũ Đình Long là người có vinh dự được ghi nhận đóng vai trò tiên phong.

Nhưng Vũ Đình Long là ai?

Ông sinh năm 1896 và mất ngày 14/8/1960 tại Hà Nội. Trước khi bước vào trường văn trận bút, Vũ Đình Long làm nghề dạy học. Tác phẩm của Vũ Đình Long ngoài Chén thuốc độc (1921), sau Cordier dịch sang tiếng Pháp và xuất bản thành sách năm 1927; còn có Tòa án lương tâm (1923), Đàn bà mới (1944), Tổ quốc trên hết (1946-dịch vở Horace của Corneille). Là nhà giáo nên trong tháng năm này, ông còn viết nhiều sách giáo khoa như Quốc văn độc bản (1932), 300 bài toán đố xếp riêng từng loại, có lời giải và trả lời (1932)… Sau năm 1954, ông là ủy viên BCH Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam.

Từ năm 1925 ông chuyển hẳn sang hoạt động xuất bản, làm chủ nhà in nổi tiếng Tân Dân tại nhà số 93 Hàng Bông (Hà Nội) và chủ trương nhiều tờ báo như Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ích Hữu, Tao Đàn, Phổ thông bán nguyệt san… quy tụ được hầu hết các nhà văn tiếng tăm của thời đó, để lại một dấu ấn không phai mờ trong lịch sử văn học và lịch sử báo chí Việt Nam. Và khi lao vào kinh doanh, làm xuất bản thì Vũ Đình Long cũng là người có sáng kiến cho đăng tiểu thuyết nhiều kỳ trên báo, bên cạnh truyện ngắn, truyện dịch để lôi cuốn độc giả.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Vũ Đình Long

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)