Tên di sản: Lễ hội Cầu ngư ở Vạn Thủy Tú
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Vạn Thủy Tú, phường Đức Thắng, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là phường Phan Thiết, tỉnh Lâm Đồng); khu vực bến cảng và vùng biển Phan Thiết
Thời gian tổ chức: Ba kỳ lễ hằng năm: Cầu ngư đầu mùa ngày 20 tháng Tư âm lịch; Cầu ngư chính mùa từ ngày 19 đến 22 tháng Sáu âm lịch; Cầu ngư mãn mùa ngày 23 tháng Tám âm lịch. Đại lễ cúng chay chính mùa được tổ chức theo lệ ba năm một lần.
Đối tượng thờ phụng: Thần Nam Hải (cá Ông), các vị Hải thần, Thủy thần, Thủy tổ nghề biển và các bậc tiền hiền, tiền vãng.
Cộng đồng thực hành: Ngư dân Vạn Thủy Tú và các lăng vạn vùng Phan Thiết; Ban Nghi lễ, Ban Phụng sự lễ hội, các vị hào lão, đội nhạc lễ, đội chèo Bả trạo và cộng đồng dân cư ven biển.
Nghi lễ đặc trưng: Trần thiết, Nghệ sắc, cung nghinh Ông Sanh Thủy lục, khai kinh, thỉnh Thập điện, cầu siêu, phóng sanh, phóng đăng, cầu quốc thái dân an, khai xá và thả thuyền rồng, chẩn tế âm linh, chánh lễ tế thần, tế tiền vãng và Nghệ sắc hồi đình hoàn mãn.
Nghệ thuật diễn xướng tiêu biểu: Chèo Bả trạo và hát Bội.
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4614/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Vạn Thủy Tú được tạo dựng vào năm Nhâm Ngọ (1762), là một trong những cơ sở thờ tự nghề biển ra đời sớm tại Bình Thuận, có quy mô và kiến trúc bề thế so với nhiều lăng vạn khác trong vùng. Nơi đây thờ phụng cá Ông, các vị Hải thần và những người có công khai mở, duy trì nghề biển. Trong đời sống ngư dân Phan Thiết, vạn không chỉ là nơi dâng hương cầu nguyện trước những chuyến ra khơi mà còn là thiết chế văn hóa truyền thống, nơi cộng đồng tổ chức tế lễ, gặp gỡ và duy trì các phong tục ngư nghiệp. Trải qua nhiều thế hệ, lễ hội Cầu ngư trở thành sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, thể hiện lòng biết ơn biển cả và niềm tin vào sự che chở của thần Nam Hải.
Vạn Thủy Tú và tín ngưỡng thờ cá Ông
Trong tín ngưỡng của ngư dân ven biển miền Trung và Nam Bộ, cá Ông, tức cá voi, được tôn kính là vị thần có khả năng cứu giúp người đi biển khi gặp sóng to, gió lớn. Ngư dân thường gọi Ngài bằng danh xưng Ông Nam Hải hoặc Thần Nam Hải, thể hiện sự kính trọng đối với loài vật gắn bó với cuộc sống mưu sinh trên biển.
Tại Vạn Thủy Tú, việc thờ cá Ông được duy trì cùng tín ngưỡng thờ các vị Hải thần, Thủy thần và những bậc tiền hiền có công với làng biển. Trước những chuyến đánh bắt, ngư dân gửi gắm ước nguyện được ra khơi bình an, tránh tai nạn, rủi ro và trở về với những khoang thuyền đầy cá. Sau mỗi mùa biển, họ lại tổ chức tế lễ để tạ ơn thần linh, tưởng nhớ tổ tiên và những người đã khuất.
Tín ngưỡng ấy được thể hiện rõ nét qua các kỳ lễ Cầu ngư hằng năm, đặc biệt là kỳ lễ chính mùa với hệ thống nghi thức phong phú và sự tham gia của đông đảo cộng đồng ngư dân.
Hơn một trăm bộ xương cá Ông được lưu giữ tại vạn
Một nét đặc biệt của Vạn Thủy Tú là nơi đây còn lưu giữ hơn 100 bộ xương cốt cá Ông, trong đó có hàng chục bộ xương lớn với niên đại trên 250 năm. Việc bảo quản những bộ xương này thể hiện lòng tôn kính của nhiều thế hệ ngư dân đối với cá Ông và là một phần trong tập tục thờ phụng truyền thống của làng biển.
Đáng chú ý nhất là bộ xương cá Ông có chiều dài toàn thân khoảng 22m, trọng lượng khi còn sống được ước tính khoảng 64 tấn. Theo tư liệu, bộ xương có xương hàm dài 2,7m, rộng 1m; xương sườn dài 1,4m; xương sọ dài 2,28m và cao 1,12m.
Từ năm 2003, Ủy ban nhân dân thành phố Phan Thiết phối hợp với Viện Hải dương học Nha Trang nghiên cứu, lắp ráp bộ xương theo nguyên trạng và xây dựng nhà trưng bày trong khuôn viên Vạn Thủy Tú. Năm 2005, Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam xác lập đây là bộ xương cá voi lớn nhất Việt Nam.
Không gian trưng bày bộ xương cá Ông cũng trở thành một địa điểm thực hành nghi lễ trong lễ hội Cầu ngư, đặc biệt khi đoàn nghinh Ông từ biển trở về vạn.
Ba kỳ lễ Cầu ngư trong năm
Hằng năm, Vạn Thủy Tú tổ chức ba kỳ lễ Cầu ngư gắn với nhịp sinh hoạt và mùa vụ đánh bắt của ngư dân.
Lễ Cầu ngư đầu mùa diễn ra vào ngày 20 tháng Tư âm lịch, mang ý nghĩa cầu mong một mùa biển thuận lợi, thuyền bè bình an và việc đánh bắt đạt kết quả tốt.
Lễ Cầu ngư chính mùa diễn ra từ ngày 19 đến 22 tháng Sáu âm lịch, là kỳ lễ quan trọng nhất, thể hiện đầy đủ các nghi thức tế thần, nghinh Ông, cầu siêu, chẩn tế và diễn xướng dân gian. Theo tư liệu, những nghi lễ trọng tâm diễn ra trong khoảng ba ngày; nếu có tổ chức hát Bội, hoạt động lễ hội có thể kéo dài khoảng năm ngày.
Lễ Cầu ngư mãn mùa diễn ra vào ngày 23 tháng Tám âm lịch, nhằm tạ ơn thần linh sau một mùa đánh bắt.
So với kỳ chính mùa, lễ đầu mùa và mãn mùa được tổ chức đơn giản hơn, chủ yếu do Ban Nghi lễ gồm Chánh bái, Bồi bái và Chấp sự thực hiện. Trong khi đó, lễ chính mùa có sự tham gia đông đảo của ngư dân, các vị hào lão, đội nhạc lễ, đội Bả trạo và những người phụ trách các nghi thức.
Đặc biệt, cứ ba năm một lần, Vạn Thủy Tú tổ chức Đại lễ cúng chay chính mùa, với hệ thống nghi lễ được thực hiện quy mô và trang trọng hơn.
Nghi lễ Trần thiết – chuẩn bị không gian thờ tự
Trước khi lễ hội chính mùa bắt đầu, cộng đồng thực hiện nghi lễ Trần thiết. Các thành viên trong vạn cùng quét dọn, lau chùi, trang trí không gian thờ tự và chuẩn bị lễ vật dâng lên các khám thờ.
Sau khi hoàn tất việc sắp đặt, Ban Nghi lễ dâng hương, khấn báo với Thần Nam Hải cùng tổ tiên, ông bà, kính xin các vị chứng giám và cho phép dân làng tổ chức lễ hội Cầu ngư theo tập tục truyền thống.
Nghi thức này đánh dấu sự chuẩn bị về không gian và lễ vật, đồng thời thể hiện quan niệm mọi hoạt động tế lễ đều phải được trình báo, xin phép các vị thần linh được thờ phụng tại vạn.
Lễ Nghệ sắc và 24 sắc phong triều Nguyễn
Vào 5 giờ sáng ngày 19 tháng Sáu âm lịch, lễ hội chính mùa mở đầu bằng nghi lễ Nghệ sắc tại Chính điện Vạn Thủy Tú.
Tham dự nghi lễ có Ban Nghi lễ, Ban Phụng sự lễ hội, đội nhạc lễ, các vị hào lão và đông đảo dân làng. Chánh bái, Bồi bái và Trưởng vạn đứng trước khám thờ Ông Nam Hải, dâng hương khấn báo, xin phép được thỉnh 24 sắc phong của các vua triều Nguyễn ban cho Ông Nam Hải và các vị thần linh.
Các hộp sắc được đưa từ vị trí lưu giữ trên cao phía sau khám xuống đặt trước khám thờ Ông Nam Hải. Trưởng vạn là người mở hộp sắc đầu tiên, tiếp đó Chánh bái, Bồi bái và các thành viên Ban Nghi lễ lần lượt mở những hộp sắc còn lại.
Việc mở sắc phong được thực hiện nhẹ nhàng, cẩn trọng và mang tính nghi thức. Sau khi mở, các sắc phong được đặt trở lại vào hộp, bọc lớp vải nhung đỏ như ban đầu. Ban Nghi lễ tiếp tục đưa từng hộp sắc lên các khám thờ, bảo đảm sắc phong của vị thần nào được đặt đúng tại khám thờ vị thần đó.
Nghi lễ Nghệ sắc cho thấy sắc phong không chỉ được lưu giữ như những tư liệu lịch sử mà còn hiện diện trong sinh hoạt tín ngưỡng thường niên của cộng đồng ngư dân.
Cung nghinh Ông Sanh Thủy lục – nghi lễ trọng tâm của hội Cầu ngư
Sau lễ Nghệ sắc là nghi lễ cung nghinh Ông Sanh Thủy lục, được xem là nghi thức long trọng và có quy mô lớn nhất trong kỳ lễ Cầu ngư chính mùa.
Mục đích của nghi lễ là nghinh rước Thần Nam Hải từ biển khơi về vạn để chứng giám, thụ hưởng lễ vật và phù hộ cho ngư dân được bình an, đánh bắt thuận lợi, tránh những tai nạn, rủi ro trên biển.
Theo nghi thức truyền thống, Vạn Thủy Tú tổ chức một đoàn thuyền lễ ra khơi. Trên thuyền chính có cờ, lọng, hương án, chiêng, trống, đội nhạc lễ và đội chèo Bả trạo. Các ghe thuyền khác chở ngư dân của Vạn Thủy Tú và những lăng vạn trong vùng cùng hộ tống thuyền lễ chính.
Trước khi xuống thuyền, đoàn lễ di chuyển từ vạn đến bến cảng bằng đường bộ. Trong chặng đường này, đoàn không đánh chiêng trống, không chơi nhạc cổ và không múa hát chèo Bả trạo. Các hoạt động diễn xướng được thực hiện khi đoàn bắt đầu nghi lễ ngoài biển.
Đoàn thuyền ra khơi nghinh Ông Nam Hải
Theo lệ truyền thống được ghi trong tư liệu, đoàn thuyền lễ đi ra biển cách bờ khoảng 2–3km, đến vùng nước tương đối lặng sóng thì dừng lại để thực hiện nghi lễ.
Tại đây, Chánh bái dâng hương đèn lên hương án, các khí cụ lần lượt được gióng lên theo trình tự. Đội chèo Bả trạo mang mái chèo đứng hầu ở hai bên mạn thuyền lễ, trong khi các ghe thuyền hộ tống giãn ra xung quanh để tham dự nghi thức.
Lễ nghinh Ông Sanh do một nhà sư làm chủ lễ, với hai vị Chánh bái và Bồi bái phụ lễ. Đại diện Ban Nghi lễ đọc văn tế, cung thỉnh Ông Nam Hải và các vị Thủy thần ngoài biển về vạn chứng giám, hưởng lễ.
Sau khi tuyên đọc, văn tế được hóa và rải xuống biển. Lúc này, đội Bả trạo bắt đầu hát múa, diễn xướng những động tác chèo thuyền theo các làn điệu dân gian, tạo nên không khí vui tươi để cung nghinh Ông Nam Hải.
Đoàn thuyền tiếp tục ra khơi thêm một đoạn, trong khi đội Bả trạo không ngừng diễn xướng để thỉnh mời Ông trở về vạn.
Theo lời kể của các lão ngư Phan Thiết, trước thời kỳ chiến tranh, trong những cuộc nghinh Ông ngoài biển từng có nhiều cá voi xuất hiện quanh đoàn thuyền lễ và theo về gần bờ. Những câu chuyện này được cộng đồng lưu truyền như dấu hiệu cho thấy sự linh ứng và mối gắn bó giữa cá Ông với ngư dân.
Đón Ông trở về vạn và múa chèo Bả trạo
Khi đoàn nghinh Ông trở về Vạn Thủy Tú, đội Bả trạo thực hiện nghi thức đón tại cổng chính. Các thành viên trong đội quỳ xuống, vừa hát vừa diễn xướng những động tác chèo thuyền để thỉnh mời Ông vào vạn.
Đoàn lễ sau đó đưa hương án Ông vào khu vực trưng bày bộ xương cá Ông lớn nhất ở phía trước vạn. Tại đây, đội Bả trạo tiếp tục trình diễn các động tác ngồi chèo, đứng chèo và di chuyển xung quanh bộ xương cá Ông.
Tiếp đó, hương án được đưa trở về khám thờ trong Chính điện để làm lễ yên vị. Đội Bả trạo tiếp tục hát múa trước Chính điện, diễn xướng những làn điệu truyền thống để mừng Ông Nam Hải trở về.
Phần hát múa, chèo hầu mừng Ông kéo dài khoảng nửa giờ, sau đó nghi thức cung nghinh Ông Sanh Thủy lục được xem là hoàn tất.
Tuy nhiên, theo tư liệu, việc tổ chức đoàn thuyền ra khơi nghinh Ông trong những năm gần đây ít được thực hiện. Thay vào đó, cộng đồng thường tổ chức đoàn lễ ra bờ biển làm nghi thức cung nghinh rồi quay về vạn. Sự thay đổi này cho thấy hình thức tổ chức nghi lễ có điều chỉnh, trong khi ý nghĩa thỉnh mời Thần Nam Hải về chứng giám lễ hội vẫn được duy trì.
Chèo Bả trạo – nghệ thuật diễn xướng của ngư dân
Chèo Bả trạo là một trong những hình thức nghệ thuật trình diễn dân gian nổi bật của lễ hội Cầu ngư ở Vạn Thủy Tú. Hoạt động này gắn trực tiếp với nghi thức nghinh Ông Nam Hải và được thực hiện tại nhiều không gian khác nhau, từ thuyền lễ, cổng vạn, nhà trưng bày bộ xương cá Ông đến Chính điện.
Trong diễn xướng, những người tham gia sử dụng mái chèo làm đạo cụ, kết hợp các động tác đứng chèo, ngồi chèo, di chuyển đội hình và hát những làn điệu dân gian truyền thống. Các động tác mô phỏng hoạt động chèo thuyền trên biển, đồng thời thể hiện niềm vui khi cung nghinh Ông Nam Hải trở về.
Điểm đặc sắc của chèo Bả trạo tại Vạn Thủy Tú là nghệ thuật diễn xướng không tách rời nghi lễ. Những động tác chèo, lời hát và sự thay đổi đội hình đều gắn với từng chặng trong hành trình thỉnh Ông, góp phần tái hiện đời sống lao động và niềm tin tâm linh của cộng đồng ngư dân.
Khai kinh, thỉnh Thập điện và cầu siêu cho hương linh
Bên cạnh nghi thức nghinh Ông, lễ hội Cầu ngư chính mùa còn có nghi lễ Khai kinh, thỉnh các vị Thủy thần và những bậc tiền hiền về chứng giám.
Tiếp đó là nghi lễ Thỉnh Thập điện và cầu siêu cho chư vị hương linh, thể hiện sự tưởng nhớ đối với những người đã khuất, đặc biệt là những người không may gặp nạn trên biển.
Trong quan niệm của ngư dân, biển cả vừa đem lại nguồn sống, vừa tiềm ẩn những hiểm nguy khó lường. Vì vậy, lễ cầu siêu không chỉ mang ý nghĩa tưởng niệm mà còn thể hiện lòng thương cảm và mong ước những hương linh được siêu thoát.
Các nghi lễ này góp phần mở rộng ý nghĩa của hội Cầu ngư, từ việc cầu bình an cho người đang lao động trên biển đến sự tri ân, tưởng nhớ những người đã khuất.
Phóng sanh và phóng đăng trên biển
Trong diễn trình lễ hội còn có nghi lễ phóng sanh chim, cá, được thực hiện tại khu vực trước cổng chính của Vạn Thủy Tú.
Nghi thức phóng sanh thể hiện lòng hướng thiện và mong ước đem lại sự sống, bình an cho muôn loài. Đây là một trong những hoạt động mang ý nghĩa nhân văn trong hệ thống nghi lễ Cầu ngư.
Bên cạnh đó, nghi lễ phóng đăng được thực hiện ngoài khơi, với mong ước ngư dân đánh bắt được nhiều cá, gặp thuận lợi trong những chuyến ra biển. Những ngọn đèn được thả trên mặt nước tạo nên một hình thức gửi gắm lời cầu nguyện của cộng đồng đối với biển cả.
Cùng với các nghi thức này, lễ hội còn tổ chức lễ cầu quốc thái dân an, cầu mong đất nước thanh bình, nhân dân an cư và đời sống ngư nghiệp thuận lợi.
Khai xá và thả thuyền rồng trên biển
Một nghi lễ đặc biệt khác của hội Cầu ngư chính mùa là Khai xá thuyền rồng. Theo tư liệu, thuyền rồng được xem là hình tượng tượng trưng cho thuyền của Bà Thủy Long Thánh Phi Nương Nương Tôn thần.
Sau nghi lễ Khai xá, cộng đồng thực hiện lễ thả thuyền rồng trên biển. Con thuyền mang theo những phẩm vật và tấm lòng thành kính của ngư dân, được gửi đến các oan hồn, hương linh trên biển.
Nghi thức này gắn với lễ Khai đàn chẩn tế âm linh, còn gọi là lễ cúng Thí thực. Qua đó, ngư dân bày tỏ lòng thương cảm đối với những người đã mất, nhất là những người gặp nạn giữa biển khơi.
Sự kết hợp giữa thuyền rồng, chẩn tế và thả thuyền trên biển tạo nên một chuỗi nghi lễ mang ý nghĩa cầu siêu, bố thí và tưởng nhớ những hương linh không nơi nương tựa.
Chánh lễ tế thần và lễ tế Tiền vãng
Trong kỳ hội chính mùa, cộng đồng còn tổ chức Chánh lễ tế thần để dâng lễ vật, bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với Thần Nam Hải cùng các vị thần linh được thờ phụng tại vạn.
Bên cạnh đó là lễ tế Tiền vãng, tưởng nhớ những người đi trước, các bậc tiền hiền và những thế hệ đã có công khai phá đất đai, lập làng, xây dựng lăng vạn, duy trì nghề biển.
Những nghi lễ này thể hiện rõ quan niệm của ngư dân rằng đời sống hiện tại luôn gắn bó với công đức của thần linh và những người đã khuất. Việc tưởng nhớ tiền nhân trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng làng biển.
Khai diên hát Bội và sinh hoạt văn hóa lễ hội
Trong những kỳ hội có tổ chức biểu diễn, Vạn Thủy Tú thực hiện nghi lễ Khai diên hát Bội, mở đầu cho hoạt động sân khấu truyền thống phục vụ lễ hội.
Hát Bội là một hình thức nghệ thuật biểu diễn dân gian được duy trì trong sinh hoạt văn hóa của nhiều cộng đồng Nam Trung Bộ. Tại Vạn Thủy Tú, hoạt động này góp phần tạo nên không khí trang trọng nhưng cũng giàu tính thưởng thức nghệ thuật trong những ngày hội.
Khi có hát Bội, thời gian tổ chức lễ hội có thể kéo dài khoảng năm ngày. Đây là dịp để ngư dân sau những chuyến lao động vất vả trên biển được gặp gỡ, thưởng thức nghệ thuật và tham gia sinh hoạt văn hóa cộng đồng.
Nghệ sắc hồi đình hoàn mãn
Sau khi hoàn tất các nghi lễ chính, Ban Nghi lễ tiến hành Nghệ sắc hồi đình hoàn mãn.
Nghi thức này khép lại chuỗi hoạt động liên quan đến các sắc phong đã được thỉnh xuống trong lễ Nghệ sắc mở đầu. Những hộp sắc được đưa trở về vị trí lưu giữ theo lệ truyền thống.
Từ việc mở 24 sắc phong vào sáng ngày 19 tháng Sáu đến nghi thức hồi sắc khi lễ hội kết thúc, cộng đồng duy trì một trình tự tế lễ chặt chẽ, thể hiện sự tôn kính đối với Thần Nam Hải và các vị thần được các triều vua ban sắc.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội phản ánh niềm tin của ngư dân đối với Thần Nam Hải, các vị Hải thần và Thủy thần, những đấng được tôn kính là người che chở cho hoạt động mưu sinh trên biển. Các nghi lễ nghinh Ông, tế thần và cầu quốc thái dân an thể hiện mong ước về những chuyến ra khơi bình an, đánh bắt thuận lợi và cuộc sống no đủ.
Giá trị của nghi lễ nghinh Ông: Nghi thức cung nghinh Ông Sanh Thủy lục là điểm nhấn quan trọng của lễ hội. Theo lệ truyền thống, đoàn thuyền lễ có cờ, lọng, hương án, chiêng trống và đội Bả trạo ra biển cách bờ khoảng 2–3km để thỉnh Ông Nam Hải về vạn, sau đó tiếp tục diễn xướng tại cổng vạn, nhà trưng bày bộ xương cá Ông và Chính điện.
Giá trị lịch sử – tư liệu: Vạn Thủy Tú được tạo dựng từ năm 1762, hiện lưu giữ hơn 100 bộ xương cá Ông và 24 sắc phong triều Nguyễn. Nghi lễ Nghệ sắc, trong đó các hộp sắc được mở và đặt đúng khám thờ của từng vị thần, cho thấy sự gắn bó giữa di sản tư liệu, hiện vật thờ tự và thực hành tín ngưỡng của cộng đồng.
Giá trị nghệ thuật – diễn xướng: Lễ hội là không gian bảo lưu nghệ thuật chèo Bả trạo với các làn điệu dân gian, động tác mô phỏng chèo thuyền và đội hình diễn xướng gắn với từng chặng nghinh Ông. Bên cạnh đó, nghi lễ Khai diên hát Bội góp phần duy trì hình thức sân khấu truyền thống trong đời sống văn hóa của ngư dân.
Giá trị nhân văn: Các nghi lễ cầu siêu, chẩn tế âm linh, phóng sanh, phóng đăng và thả thuyền rồng trên biển thể hiện lòng thương cảm, sự tưởng nhớ đối với những người đã khuất, đặc biệt là những người gặp nạn trên biển. Đây là những thực hành phản ánh cách ứng xử nhân ái của cộng đồng trước những hiểm nguy trong cuộc sống ngư nghiệp.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội quy tụ ngư dân Vạn Thủy Tú và các lăng vạn trong vùng, từ việc chuẩn bị lễ vật, tổ chức đoàn thuyền nghinh Ông đến thực hành các nghi thức tế lễ và diễn xướng. Đây cũng là dịp những người cùng nghề biển gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ khó khăn và củng cố tinh thần đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau.
Giá trị văn hóa biển: Lễ hội gắn liền với không gian vạn chài, bến cảng, biển khơi và những tập quán ngư nghiệp truyền thống. Từ tín ngưỡng thờ cá Ông đến nghệ thuật chèo Bả trạo, các nghi thức đều phản ánh mối quan hệ giữa con người với biển cả, thể hiện lòng biết ơn nguồn lợi thủy sản và ý thức gìn giữ truyền thống của cộng đồng ngư dân Phan Thiết.
Điểm đặc biệt nhất của Lễ hội Cầu ngư ở Vạn Thủy Tú nằm ở hệ thống nghi lễ phong phú gắn trực tiếp với tín ngưỡng thờ cá Ông và đời sống ngư nghiệp của cư dân Phan Thiết. Từ lễ Nghệ sắc mở 24 sắc phong triều Nguyễn lúc 5 giờ sáng ngày 19 tháng Sáu, nghi thức cung nghinh Ông Sanh Thủy lục với đoàn thuyền lễ ra khơi, đến những điệu chèo Bả trạo được diễn xướng trên thuyền, trước cổng vạn và quanh bộ xương cá Ông dài 22m, mỗi hoạt động đều thể hiện lòng tôn kính của ngư dân đối với Thần Nam Hải. Đặc biệt, các nghi lễ cầu siêu, chẩn tế âm linh, phóng đăng và thả thuyền rồng trên biển còn gửi gắm lòng thương cảm đối với những người đã khuất giữa biển khơi, trong khi lễ tế Tiền vãng nhắc nhớ công lao của các thế hệ khai phá, lập làng và duy trì nghề biển. Những thực hành ấy tạo nên một không gian văn hóa vừa trang nghiêm, vừa giàu tính nghệ thuật, nơi niềm tin tâm linh, ký ức cộng đồng và kinh nghiệm mưu sinh trên biển được tiếp nối qua nhiều thế hệ. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội Cầu ngư ở Vạn Thủy Tú được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 4614/QĐ-BVHTTDL ngày 20/12/2019.
Nguồn ảnh: Sưu tầm