Đền Ngọ Dương (phường An Phong, Hải Phòng)

Đền Ngọ Dương (phường An Phong, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Ngọ Dương, còn gọi là miếu Ngọ Dương hoặc Ngọ Dương linh từ, tọa lạc tại thôn Ngọ Dương, xã An Hòa, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng (nay thuộc phường An Phong, thành phố Hải Phòng). Di tích nằm cách trung tâm hành chính huyện An Dương trước đây hơn 7 km theo tuyến đường 208. Tên gọi Ngọ Dương được viết bằng chữ Hán là 午陽, gắn với địa danh nơi hình thành và duy trì hoạt động thờ tự. Đền tọa lạc bên hữu ngạn sông Cổ Bồng, mặt quay về hướng Tây Nam, phía trước là dòng sông gắn với truyền thuyết về Hoàng Độ và các anh chị em trong gia đình. Khuôn viên đền nằm gần tuyến đường đê hữu ngạn sông, tiếp giáp hệ thống đường liên thôn và đường nội đồng. Khu vực sông Cổ Bồng trước đền còn là địa điểm tổ chức hội bơi trải truyền thống trong những dịp tưởng niệm các vị Thành hoàng.

Nhân vật và lịch sử

Nhân vật thờ phụng

Đền Ngọ Dương thờ Thành hoàng Hoàng Độ, nhân vật được thần tích địa phương ghi nhận có công tham gia cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40. Ông là người làng Nại Xuyên, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương trước đây, thuộc vùng đất nằm đối diện Ngọ Dương qua sông Cổ Bồng. Theo thần tích, Hoàng Độ là con trưởng trong gia đình có bảy anh chị em, gồm Hoàng Độ, Hoàng Công Uy, Hoàng Công Thượng, Hoàng Công Đức, Hoàng Cao, Hoàng Thị Hộ và Hoàng Thị Bộ. Khi Hai Bà Trưng phát động khởi nghĩa chống chính quyền Đông Hán vào mùa xuân năm 40, cả gia đình đã tham gia hưởng ứng. Vốn thành thạo nghề sông nước, bảy anh chị em họ Hoàng gia nhập lực lượng thủy binh của nghĩa quân. Theo thần tích, họ tham gia nhiều trận chiến chống quân Đông Hán và lập được công lao trong cuộc khởi nghĩa. Sau khi qua đời, các nhân vật được nhân dân tại những địa phương liên quan lập đền thờ và suy tôn làm Thành hoàng. Hoàng Độ được truyền tụng là đã hóa tại Ngọ Dương, vì vậy nhân dân địa phương lập nơi thờ phụng ông. Do ông là con trưởng trong gia đình, đền còn phối thờ Thánh vương phụ và Thánh vương mẫu, tức cha và mẹ của Hoàng Độ. Việc phụng thờ ba vị được duy trì trong hệ thống nghi lễ của cộng đồng làng Ngọ Dương.

Lịch sử hình thành và trùng tu

Theo thần tích địa phương, đền Ngọ Dương được lập sau khi Hoàng Độ qua đời, tại vùng đất gắn với nơi ông hóa. Thời điểm khởi dựng ban đầu chưa được xác định cụ thể. Các tư liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hải Phòng, trong đó có hồ sơ kiểm kê di tích lập tháng 5 năm 1990, ghi nhận những tên gọi như miếu Ngọ Dương, đền Ngọ Dương và Ngọ Dương linh từ. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngôi đền bị xuống cấp và chịu ảnh hưởng của các hoạt động tiêu thổ kháng chiến. Đến cuối thập niên 1990, nhân dân địa phương xây dựng lại đền trên nền đất cũ. Công trình được phục dựng theo bố cục kiến trúc truyền thống, gồm tòa tiền bái năm gian và hậu cung ba gian, sử dụng kết cấu bê tông cốt thép kết hợp những hình thức trang trí mô phỏng kiến trúc gỗ cổ truyền. Trong những năm tiếp theo, đền tiếp tục được trùng tu, tôn tạo, bổ sung các hạng mục nghi môn, tắc môn, sân và những chi tiết trang trí kiến trúc. Một số hiện vật cũ như bia đá, nhang án, bát biểu, bát hương đồng và câu đối được lưu giữ tại di tích.

Kiến trúc cảnh quan

Tổng thể kiến trúc

Đền Ngọ Dương được xây dựng trên khuôn viên đất gần sông Cổ Bồng, mặt chính quay về hướng Tây Nam. Tổng thể kiến trúc gồm nghi môn, tắc môn, sân đền, tòa tiền bái và hậu cung. Công trình thờ chính có mặt bằng hình chữ Đinh (丁), gồm năm gian tiền bái và ba gian hậu cung, trong đó có một gian cung cấm. Kiến trúc đền hiện nay chủ yếu được xây dựng lại từ cuối thập niên 1990 và tu bổ trong những năm sau đó. Tòa tiền bái và hậu cung sử dụng kết cấu bê tông cốt thép, tạo hình theo những đặc điểm của bộ khung kiến trúc gỗ truyền thống. Mái lợp ngói mũi, các bộ vì được tạo dáng con thuận, giá chiêng và chồng rường, kết hợp hệ thống trang trí hoa sen, đầu rồng, lá lật cùng các họa tiết truyền thống.

Nghi môn

Nghi môn đền Ngọ Dương nằm trên trục đường dẫn từ đê hữu ngạn sông Cổ Bồng vào khuôn viên. Công trình được xây dựng theo kiểu cột đồng trụ, gồm bốn trụ bố trí thành hai cặp lớn và nhỏ, đối xứng qua trục chính của đền. Hệ thống nghi môn phân định lối vào khu vực thờ tự với không gian giao thông bên ngoài. Sau nghi môn là tắc môn, tiếp đến là sân đền và khu kiến trúc chính.

Tắc môn

Tắc môn, còn gọi là bình phong, nằm phía sau nghi môn. Công trình được xây dựng theo hình thức cuốn thư, bề mặt có các họa tiết đắp nổi và vẽ trang trí theo đề tài truyền thống. Tắc môn là một thành phần trong bố cục kiến trúc tín ngưỡng dân gian, được đặt trên trục dẫn vào khu thờ chính. Theo quan niệm truyền thống, bình phong có chức năng ngăn các luồng khí không tốt đi trực tiếp vào nơi thờ tự.

Sân đền và mặt đứng kiến trúc

Sân đền được lát gạch đỏ, nằm giữa tắc môn và tòa tiền bái. Từ sân, người vào đền bước qua năm bậc cấp để lên khu vực hiên tiền bái. Mặt đứng tòa tiền bái được xây theo hình thức đầu hồi bít đốc, kết hợp hệ thống trụ đấu hồi văn và các bức tường cánh gà. Mái đền lợp ngói mũi, trên bờ nóc đắp hình lưỡng long chầu nguyệt, hai đầu bờ nóc trang trí hình con kìm. Từ hai tường hồi, các đoạn tường được xây kéo dài và mở rộng về phía trước theo hình cánh quạt, tạo thành hệ thống cánh gà. Trên các mảng tường này có họa tiết năm con dơi chầu vào chữ Thọ được trổ thủng ở giữa, thể hiện đề tài ngũ phúc trong nghệ thuật trang trí truyền thống. Hai gian hồi của tòa tiền bái được xây tường bao che, mỗi bên có cửa sổ thông thoáng với ô trang trí chữ Thọ cách điệu dạng bầu dục. Ở các góc tường hạ cấp, giữa những trụ đấu có các dải hoa văn đắp nổi chạy dọc theo phần chân tường.

Hệ thống trụ biểu

Tại điểm kết thúc của hai bức tường cánh gà có các trụ biểu, còn gọi là trụ đèn. Mỗi trụ được xây trên phần đế quả bồng, thân trụ hình vuông, có khung đắp câu đối. Phần đầu trụ được tạo hình đèn lồng, phía trên đắp tượng nghê chầu hướng vào cửa đền. Các trụ biểu cùng hệ thống tường cánh gà và mặt đứng tiền bái tạo thành phần kiến trúc phía trước của khu thờ chính.

Tòa tiền bái

Tòa tiền bái có quy mô năm gian, là công trình phía trước trong bố cục mặt bằng hình chữ Đinh. Bộ khung chịu lực được làm bằng bê tông cốt thép, mô phỏng hệ kết cấu gỗ truyền thống với cột cái, cột quân, câu đầu, xà thượng, xà hạ và các bộ vì mái. Hệ thống khung gồm bốn bộ vì, được bố trí theo kết cấu bốn hàng chân cột. Các cột quân nằm trong tường bao, trong khi những hàng cột phía trong cùng hệ thống xà tạo thành bộ phận chịu lực chính. Bộ vì nóc được cấu tạo theo kiểu con thuận tạo giá chiêng. Phần vì nách sử dụng kết cấu chồng hai con thuận. Các con thuận đặt trên những đấu vuông thót đáy, thân đấu trang trí hoa sen cách điệu. Đầu dư được tạo hình đầu rồng, còn thân xà nách và câu đầu có các hoa văn lá lật đắp nổi. Hai bộ vì hồi được đắp trực tiếp trên tường hồi, sử dụng hình thức kết cấu và trang trí tương tự những bộ vì bên trong. Toàn bộ hệ thống được liên kết bằng xà thượng và xà hạ có tiết diện tạo dáng vỏ măng. Phần chân các cột được đắp giả chân tảng, mô phỏng hình thức cột gỗ đặt trên tảng đá xanh của kiến trúc truyền thống. Hệ thống cấu kiện sử dụng màu nâu trầm, kết hợp những chi tiết trang trí hoa sen và hoa văn trên các con thuận, đấu và đầu dư.

Mặt trước tòa tiền bái có ba gian cửa tương ứng với ba gian giữa. Các cửa được làm theo kiểu thượng song, hạ bản, phần trên là hệ thống song thoáng, phía dưới sử dụng những tấm ván bưng. Theo tư liệu mô tả kiến trúc, hệ thống cửa mang hình thức cửa cổ, với khung và các tấm cửa được bố trí theo từng gian. Hai gian hồi được xây tường, có ô cửa sổ trang trí chữ Thọ cách điệu. Từ các cửa chính, không gian tiền bái được kết nối với hậu cung phía sau theo trục kiến trúc hình chữ Đinh.

Tòa hậu cung

Hậu cung gồm ba gian, trong đó có một gian cung cấm là nơi đặt đối tượng thờ phụng chính. Công trình được kết nối với tòa tiền bái theo bố cục hình chữ Đinh. Hệ thống khung hậu cung gồm hai bộ vì, có cấu trúc tương tự bộ vì tòa tiền bái. Các cấu kiện được tạo hình theo kiểu con thuận, giá chiêng biến thể và kết cấu chồng rường đấu sen. Khác với tiền bái, các bộ vì hồi của hậu cung không được đắp trực tiếp lên tường. Các thanh con thuận và đấu sen có hoa văn trang trí đắp nổi, sử dụng màu nâu trầm. Bộ khung được liên kết bằng hệ thống xà thượng và xà hạ, tạo thành kết cấu chịu lực thống nhất với khu tiền bái.

Phía trước cung cấm có hệ thống cửa, gồm cửa chính ở gian giữa và các cửa nách hai bên. Cửa chính có chiều rộng lớn hơn cửa nách, phần ngưỡng được làm cao khoảng ngang bụng người. Cửa chính gồm hai cánh, bề mặt cửa và những tấm ván bưng bên trong khung được chạm khắc các đề tài tứ quý: tùng, cúc, trúc, mai. Ngoài ra còn có hai đôi rồng, phượng hướng vào chữ Thọ được chạm thủng tại vị trí trung tâm. Các chi tiết chạm khắc được sơn son, thếp màu vàng, kết hợp kỹ thuật chạm nổi và chạm thủng. Đây là khu vực tập trung nhiều hoa văn trang trí của nội thất đền Ngọ Dương.

Nghệ thuật trang trí kiến trúc

Hệ thống trang trí tại đền Ngọ Dương gồm những đề tài lưỡng long chầu nguyệt, kìm mái, nghê chầu, chữ Thọ, ngũ phúc, hoa sen, lá lật và tứ quý. Trên mái là hình lưỡng long chầu nguyệt, hai đầu bờ nóc có hình con kìm. Tại các trụ biểu, đầu trụ được đắp đèn lồng và nghê chầu. Những bức tường cánh gà trang trí năm con dơi chầu chữ Thọ, trong khi hai gian hồi có ô thoáng chữ Thọ cách điệu. Ở phần kết cấu, các đấu được trang trí hoa sen, đầu dư tạo hình đầu rồng và câu đầu, xà nách có hoa văn lá lật. Cửa cung cấm sử dụng các đề tài tứ quý, rồng, phượng và chữ Thọ, kết hợp kỹ thuật chạm thủng, sơn son thếp vàng. Phần lớn hệ thống kiến trúc và trang trí hiện nay được tạo tác trong quá trình dựng lại và tu bổ đền vào cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI.

Cảnh quan khu di tích

Đền Ngọ Dương nằm bên hữu ngạn sông Cổ Bồng, phía trước hướng ra dòng sông. Theo thần tích, đây là khu vực Hoàng Độ và các anh chị em thường bơi lội, sinh hoạt khi còn nhỏ. Con đường dẫn vào đền xuất phát từ tuyến đê hữu ngạn, qua nghi môn, tắc môn và sân lát gạch đỏ rồi đến tòa tiền bái. Khuôn viên còn có các khoảng sân phục vụ hoạt động dâng hương, tế lễ và sinh hoạt cộng đồng. Sông Cổ Bồng là địa điểm tổ chức hội bơi trải trong những dịp tưởng niệm các vị Thành hoàng. Hoạt động này gắn với truyền thống sông nước và thần tích về lực lượng thủy binh do các anh chị em họ Hoàng tham gia trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Hiện vật

Đền Ngọ Dương hiện lưu giữ một số hiện vật và đồ thờ truyền thống gồm bia đá, nhang án tiền, bộ bát biểu, bát hương đồng, câu đối gỗ và đại tự.

Bia đá: Là hiện vật thuộc nhóm tư liệu văn khắc được lưu giữ tại di tích. Nguồn tư liệu hiện có chưa cung cấp niên đại, kích thước và nội dung văn bia.

Nhang án tiền: Được sử dụng trong không gian thờ tự, phục vụ việc bài trí đồ thờ và thực hiện các nghi thức dâng hương.

Bộ bát biểu: Gồm tám đơn chiếc, thuộc hệ thống nghi trượng truyền thống được sử dụng trong hoạt động tế lễ, rước và thờ phụng tại đền.

Bát hương đồng: Là hiện vật phục vụ hoạt động thắp hương, thờ cúng các vị Thành hoàng.

Câu đối và đại tự: Đền còn lưu giữ hai câu đối gỗ cùng đại tự. Tư liệu được cung cấp chưa mô tả đầy đủ nội dung chữ, niên đại và đặc điểm tạo tác của các hiện vật này.

Các hiện vật trên được bảo lưu qua những giai đoạn đền xuống cấp, xây dựng lại và trùng tu. Danh mục hiện vật hiện có chưa đủ thông tin để xác định niên đại cụ thể của từng hiện vật.

Lễ hội

Hằng năm, nhân dân làng Ngọ Dương tổ chức các nghi lễ thờ Thành hoàng Hoàng Độ cùng Thánh vương phụ và Thánh vương mẫu. Theo tư liệu địa phương, những ngày lễ chính diễn ra vào ngày 11 tháng Giêng và ngày 25 tháng Chạp âm lịch.

Ngoài những ngày lễ trên, đền còn tổ chức tế kỳ phúc vào ngày mồng 2 tháng Hai âm lịch, cùng các nghi thức tế xuân, tế thu, thượng điền và hạ điền. Đây là những hoạt động tế lễ truyền thống gắn với tục thờ Thành hoàng và đời sống sản xuất nông nghiệp của cộng đồng làng Ngọ Dương.

Trong các dịp tưởng niệm ngày hóa của các vị Thành hoàng, nhân dân địa phương còn tổ chức hội bơi trải trên sông Cổ Bồng, đoạn phía trước đền. Theo thần tích, Hoàng Độ và các anh chị em là những người thành thạo sông nước, từng tham gia lực lượng thủy binh trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Tục bơi trải được duy trì gắn với truyền thống này.

Các nghi thức thờ Thành hoàng và hoạt động bơi trải là những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa được cộng đồng làng Ngọ Dương duy trì qua nhiều thế hệ.

Xếp hạng

Ngày 26 tháng 4 năm 2006, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Quyết định số 886/2006/QĐ-UBND, công nhận cụm di tích đền và chùa Ngọ Dương là Di tích lịch sử – văn hóa cấp thành phố.

Đền Ngọ Dương là một thành phần của cụm di tích được xếp hạng, gắn với truyền thống thờ Thành hoàng Hoàng Độ, các di vật thờ tự và hệ thống nghi lễ truyền thống của cộng đồng địa phương.

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)