Pháp Vân tự tường chú tạo hồng chung

Pháp Vân tự tường chú tạo hồng chung

Thông tin cơ bản

Pháp Vân tự tường chú tạo hồng chung
烊鑄造法雲寺洪鍾
Thác bản chuông xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn 東岸縣扶寧社, sưu tầm tại chùa Pháp Vân xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Chuông 4 mặt, cao khoảng 85cm, gồm 90 dòng chữ Hán, khoảng 3000 chữ Hán. Quai chuông có hình rồng, ở giữa có nậm rượu.
Niên đại: Ngày lành tháng 12 năm Quý Tị (1653) niên hiệu Thịnh Đức
Người soạn: Đệ tử nhà Phật mộ duyên Sa di Minh Như soạn, viết chữ. 
Người viết chữ lên chuông: Tri bạ Văn Hoàng nam Ngô Văn Thọ viết chữ lên chuông.
Người đúc chuông: Thợ đúc Đỗ Bá Quý, người thôn Đại Bi xã Đồng Xá huyện Siêu Loại đúc chuông.
Người khắc chữ: Hai vị Văn Hợp nam và Văn Tài nam, người thôn Hữu Lân xã Yên Việt khắc chữ.
Chủ đề:
– Xây dựng, trùng tu di tích.

Nguyên văn chữ Hán

烊 鑄 造 法 雲 寺 洪 鍾

慈山府東彥縣扶寧社法雲寺鍾記

并銘

法雲寺其詞曰

蓋聞天以雷霆而鼓萬物,聖人以樂聲而節?音。大雄氏以鍾聲而正六時,音雖不同,因聲以宣?也。而此鍾音乃寶利之常規,止聖王之至治。我佛於昆畫山頂轍梵音以會龍天,夏禹于?殿門前用義鍾以待賢士。僧敲月下,鯨動樓中;王士用此而?魁科,屠兒田斯乃成佛道。造鍾於前,仁聞復乎天下;鑄鍾於後,法音音及邇遐。仁義禮智信五常之道益明,色受想行識五蘊之心自靈。聲????感隨應,是聲之入人深矣!

顧茲法雲寺,是乃東彥勝地扶寧法寺名藍。右天德江旋遶西南流朝,篤意左月恒山鎮安東北,龍隱有情。道朱雀?浪水澄,後玄武李朝?盛,驗地形田氣所稟,知人才茲此出多。文則登將相之科,名騰于世;武山陞郡國之爵,權重當時。既盛得人,龍多務本農業,則滿克廩庚富。見石王銘斯淨土,啓彼禪天。奉佛有殿,燒香有堂。上宇巍峨,長廟繚繞。宸旦之樓臺燦爛,天之日月崢嶸。寶殿玲瓏金界,及合制度煥輪,規模崇麗。庭旋千章木,門開萬品花。彩般若榮翠,囊真如秀。凡間物外,靜塵囂功德。林中霑利樂,國禱四福及於國,年豐稔世平安,人祈而福及於人。室忠信,域仁壽,境致岑寂。花木鮮研,真嚴林中第一蘭,國第一乾坤也。寺已得名,鍾猶未鑄,必待大手段、大力量、大功德、大因緣者能之。洪惟皇越黎朝盛德萬萬年之元歲癸巳冬孟月念?日啓基圖。將國恭惟仕王府西伯遺風,王季爲父,武王爲子,增福增祿,協皇圖於千千之歲。

(II)??肅宗嗣位不??益面??啓脩道脩德,隆國運於萬萬之年。時有會主優婆夷阮氏玉瓊號妙元,暨領王府侍宮杜氏景號妙如等,菩提其念,慈悲其性,貨財不吝,造此洪鍾?及本社十方老少善信諸人眾等,願爲之助。孔方見之,子白長腰之精,真俗咸來,四方雲集。市首楊之銅徵?氏之匠,火天地之爐,扇陰陽之灰。祝觸助其燄,回祥奮其威風。以凜凜火勢,烘烘條爾而工去畢。宛然而像以成,無寡隙之慮,有完全之美。靡戲索以上瑄,懸?樓而迭擊。蒲牢般般以吼,月花鯨門門以鳴。霜所以警群迷,覺大夢。然則諸檀那鑄鍾之功用永矣哉!以此河沙慶善,康強乎其身,顯榮乎其家,官職超陞爵位盛。大夫婦即樂,子孫眾多,達爲朝廷顯官,進則廟堂碩輔,主詛蟬?勳名,習奕世科名,世將相,世爵祿,世忠貞。增貴于前,克昌厥後。家慶國休,代代不替。陰功陽報,永永無窮矣!鐫勒于鍾,紀其功德,以壽其傳云。銘曰:

東彥勝地
扶寧名鄉
梵宮翼翼
具關堂堂
法雲之寺
勅立寶坊
法音既振
?爲宣揚
美矣老妮
厚載慈航
貴官侍女
敬慕醫王
匠徵?氏
銅採百揚
鍾音爰鑄
天聲自彰
蒲牢兆月
花鯨鳴霜
上通三界
下達群方
化彼頑惡
同歸善良
世陶安樂
身享嘉康
子孫貴顯
家道榮昌
臣待稷契
君致虞唐
名垂竹帛
勳紀??
河沙功德
天地久長

一興功會首阮氏玉瓊號妙元常信府清池縣玲塘社屋盛烈社。

一會主副王府內侍宮杜氏景號妙如國威府慈廉縣安壽社。

一副會主陳氏玉臺義興府天本縣莊?社。陳氏玉庵號法界快州府天施縣?武社銀子五兩。鄧氏鞠號妙護。陳氏祐號妙惠。王氏擺號妙榮。梅氏進。鄭氏王榜號真寶。黎氏玉祥。鄭??。陳氏玉俊。鄭氏玉僉改。李氏緣號妙通。阮氏釧號妙幸。阮氏卷號妙碧。裴氏玉慮。武氏展。阮氏戰。杜氏壽。鄭氏玉祿。阮敷。范氏榮。裴惟普。裴氏碧。裴氏猶。范氏富。江文用。阮文曹。裴氏宜。鄭氏孺。阮氏腰。陳氏哜。范氏科。黃廷珍字真雄。黃氏杜。鄭氏玉令。阮文進。阮氏榮。阮文春。阮氏田。

(III)阮氏禮。阮文秋。阮氏順。艮氏達。陳氏聲。阮氏謹。范氏信。杜氏昌。阮氏遜。阮氏?阮氏差。謝如泉妻黎氏莊。鄭氏玉蘇。鄭氏玉擁號妙衡。裴氏種。杜氏顥。杜氏?黎氏富。黎廷仁。阮衛。裴氏就。裴氏往。阮氏還。裴春。阮氏草。阮氏外。阮氏拙。阮文密。黎氏淨。阮壬。陳歲。陳論。江仁賢。黎氏運。杜氏慈。

慈山府東岸縣扶寧社官員各職爵爲功德銀錢官員二十柒員各人功德隨官員,計:

正王府司禮監太監參知監事?祿侯陳廷堅親母阮氏澡銀子一溢。

副王府司禮監都太監掌監參知監事朗陽侯陶光任妻杜氏玉德銀子一溢。

副王府司禮監掌監參知監事詠祿侯阮德霑妻鄭氏玉敬銀子一溢。

石公當字法誠號福正妻阮氏昏號慈恩。

阮福森妻阮氏。

鄭石公伯妻阮氏璜。

阮文榮字真發。

阮德炳妻陶氏玉吝。

林氏玉川。

阮三朝妻阮氏絕。

阮必朝。

陳文勇。

阮宗澤妻阮氏元。

阮克榮妻阮氏玉帝。

阮氏妥。

杜公珍妻阮氏長。

阮文愈妻阮氏質。

阮文治妻阮氏香。

吳德潤。

阮德懋妻阮氏忍。

阮碧妻阮氏會。

石如會妻石氏司。

石公保妻阮氏新。

吳廷榮。

石得名妻石氏巴。

阮得財妻阮氏睹。

阮富德妻阮氏匡。

阮廷倫妻阮氏順。

阮登朝。

阮福沾妻阮氏聲。

范公進妻阮氏賢。

阮受公妻阮氏下。

阮文得妻石氏團。

阮文良。

陳得綿妻吳氏讓。

阮氏貴。

阮進祿妻阮氏明。

阮德禮妻阮氏越。

阮公朗妻阮氏念。

阮必繞。

石公裕妻阮氏玉。

阮如科妻阮氏回。

阮世榮妻阮氏奔。

阮如扶妻阮氏籟。

阮公多男子阮公樣。

阮德全妻阮氏歡。

阮德門妻阮氏尼。

阮時廣妻阮氏今。

阮公顯妻阮氏景。

阮文命妻阮氏威。

阮有志妻陳氏玉郡。

阮公佐妻吳氏榮。

石公界妻阮氏替。

林氏乙。

阮氏秀。

石公禮妻阮氏繼。

阮文成妻阮氏方。

阮有富妻阮氏班。

石公祐妻阮氏潤。

阮氏壼男子阮德探。

阮世治妻阮氏春。

陶進德妻阮氏女。

石公忠妻阮氏治。

范俊彥妻阮氏育。

阮氏玉踏。

吳氏平。

阮公族妻石氏潭。

范氏奏。

阮克寧妻阮氏格。

石得周妻石氏帖。

范公甲妻范氏妄。

阮氏銳。

阮氏光。

石公壽妻阮氏梯。

阮氏綏。

阮如山妻阮氏帕。

阮仁勇妻阮氏使。

阮文選妻阮氏逸。

阮氏蕩。

阮氏愈。

石公道男子石公三。

阮文回。

阮文律。

阮文后。

阮德議。

阮氏秋。

阮氏邁。

阮必稱。

阮氏端。

(IV)知府士陶忠字福安妻阮氏勒號慈連。

阮日欣字福珍。

阮世師字福定。

本寺各士妮僉知府府士阮德貴字福壽號錦川。

府士阮文訓字玄進號道貞妻阮氏儼。

阮必強字福嵩妻阮氏識。

縣士阮有能字福勒。

阮文迂字福田妻阮氏朝。

阮德奉字福會妻阮氏請。

阮登仙字玄魁號福增。

阮時政字福萬妻阮氏砍號慈張。

阮必名字福禮妻吳氏考。

阮有摘字福智妻阮氏禮。

阮止敬字善道妻阮氏那。

阮念字慕道妻阮氏堆。

吳維持字福登妻阮氏勸。

阮克丁字福興妻阮氏等。

阮公俊字福生妻阮氏卿。

阮公觸字慕明妻阮氏廷。

阮文扶妻阮氏載。

阮氏椿。

信妮阮氏並號妙惠。

阮氏孟號慈保。

阮氏卿號慈智。

阮氏興號慈仁。

阮氏多號慈壽。

阮氏全號慈貴。

兼信妮阮氏喧號慈蘭。

阮氏哜號慈安。

阮氏慢號妙清。

阮氏理號慈僊。

隨本寺石公顯妻阮氏捌。

阮文學妻尹氏德。

總正阮德慎妻陶氏睹。

阮必恭。

石公留。

縣士石公進字千年。

吳德成字福達妻阮氏下號惠祿。

信妮阮氏菊號慈賢。

吳氏啓號慈良。

阮氏玉得號慈榮。

阮氏乾號妙貞。

阮如貴。

阮公正石氏蔦。

住持本寺僧錄司僧統石僊字法通號惠明妻范氏緣記。

盛德萬萬年歲次癸巳十二月穀日,佛弟子募緣沙彌明如撰寫。

全社官員各職爵鄉老及士妮上下大小等知簿文宏男吳文壽。

寫字鍾超類縣銅舍社大碑村鑄匠杜伯貴安越社有鄭村文合男文才男刊字。

功德

蘭。。。。。。。侍內。。。。。。。。協扶社。。。。侍內監。。。。阮。。。。。。。東壽伯阮。。。。字福全妻。。。。

。。安常社信妮阮。。。。大馮社阮椿。。。。錦章社阮進。。。。上谷社縣承。。。。永治社知府壽林。。。。仙遊縣知縣。。。。扶軫社阮侍。。。。參毅阮春。。。。華唐社提吏。。。。

上村:正義論甲阮受祿、阮受德、阮受舉、阮受崑、阮三簡、阮文提、阮文法、阮三宅、阮受良、阮有僥。

義論正甲:阮文仲、阮三祥、阮受仁、阮北、阮三軒、阮三仙、阮文臻、阮進福。

仁厚甲:阮世千、石公賢、阮有珠、阮文怠、阮克連、阮公山、阮有竹、阮有智、阮公盛、陶世軸。

義論中甲:阮惇、阮世師、阮如珪、阮師信、阮德泰、阮必用、阮文表、阮有爲、阮如珍、謝相詎、阮師席、阮廷平、石得長、阮有寶。

東壽甲:阮文錦、杜公嵩、阮進趙、阮不合、石公挺、阮文治、阮克侍、阮克俊、阮文絲。

以下是为您整理的图片(image_9b8201.png、image_9b7efb.png 和 image_9b7ed9.png)中18. 烊鑄造法雲寺洪鍾(续完部分,甲名与人名列表)的完整汉字原文录录:

杜公貴、阮文崇、阮當、阮進富、阮文擬、阮文壽。

外甲:阮文保、阮三仕、吳世科、阮士好、阮文太、阮宗道、阮宗暖、阮文普、阮必乾、阮受得、阮三貴、阮必達、阮表、阮克寧、謝伯直、阮文律、阮如俊、石公近、阮三略、阮受宜、阮文達、阮德漸、阮克孤、陳受祿。

外甲中村:阮德實字法戒、阮世坤、阮世午、阮特彥、阮必賜、陶進軸、陶進貴、阮文陶、阮?田、阮尊、阮進場、阮文律、阮文浮、陶進榮、阮宏忠。

溪西甲:阮釧、阮公直、阮德強、阮公顯、阮德替、阮德匡、阮文橫、吳德仲、阮德義、阮公略、吳世儒、阮登第、阮德輔、阮德業、阮公鯨。

蒲東上甲:阮日琚、陶進仁、阮時過、吳維一、阮文政、阮必敏、陶仁榮、阮令德、阮令選、阮克文、阮文朝、阮克巴、吳德本、阮令爲、阮登軒、陶進禮、阮克能、吳德討、阮名使、阮必家、阮世公、阮令寬、阮時浪、阮時純、阮令會、阮文進、阮文間、陶進客、阮時興、阮時整。

蒲中甲:阮光明、石公興、阮文癸、阮宗濯、阮宗心、阮如雙、黎世科、阮文寧、阮富禮、阮文旦、阮光下、阮公正、阮文朝、阮世科、阮公軸、阮公茂、阮文曹、阮宗基、石公祐、阮文裊、阮有根、石公正、阮進拾。

蒲東正甲:阮鐵、阮世公、阮德義、阮世高、范公柱、阮侯、阮進東、阮進肅、阮進那、阮進榮、阮進德、阮進都、阮德墨、阮德才、范公借、阮德學、阮得恩、范公仲、阮進公、阮世汝。

蒲忠甲:阮必應、阮必通、阮必大、阮如魁、阮世胄、阮名家、阮如阜、阮世樹、阮如柏、阮必????

下村

項上甲:阮文濃、范有德、阮德啓、阮文賢、阮文進、范光造、阮德錦、阮文書、阮文禮、阮文太、阮文職。

合禮東甲:阮光迪、阮克僚、阮福積、阮福紀、阮福慶、阮金榜、阮文孤、阮福差、阮福懷、阮文筆、阮文使、阮福仁、阮福大、阮文謀、阮福貴、阮文通、阮文飭、阮克岑。

虹嬌中甲:阮文玉、阮文明、阮仁昭、阮仁智、范廷論、吳德舍、阮文造、阮文朝、阮伯合、阮伯宏、潘時運、阮仁奇、范廷策、阮仁著、阮仁禹、阮文炎、吳德合、阮仁論、阮仁署、阮文軒、阮仁攬。

合禮正甲:阮文倫、阮福建、阮富庶、阮德禺、阮福延、阮文麒、阮壽炳、阮文仁、阮文枚。

合禮西甲:吳有恒、吳文勇、吳仲秦、吳文壽、阮茹詳、阮文奎、吳有義、同文福、吳文智、吳仲進、吳有用、阮有惟、阮文揀、阮文今、吳仲美。

虹橋東甲:范廷晉、阮伯令、阮仁興、阮伯年、吳德寫、吳德貴、阮光進、阮伯磊、阮文塞。

合禮中甲:阮德盛、阮有極、阮文寧、阮文勇、范公仲、阮有乾、范公忠、阮文諒、阮文合、阮有量、阮文祿、阮有仕、阮文康、阮有聲、阮文閏、范公千、阮文稟、范公卒、黎俸、阮有泛、阮福使、阮瀧、阮文兼、范文奕、黃氏律、石華、阮氏滔、阮世壽、阮氏順。

Dịch nghĩa tiếng Việt

Đúc chuông lớn chùa Pháp Vân

Bài kí và bài minh chuông chùa Pháp Vân xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn.

Lời tự chùa Pháp Vân nói rằng: Thường nghe trời lấy tiếng sấm mà khuấy động muôn vật; người lấy tiếng nhạc mà giữ lòng người; còn nhà Phật thì lấy tiếng chuông để thức tỉnh chúng sinh. Âm thanh đó tuy khác nhau, nhưng đều rất mực tôn kính vậy. Tiếng chuông là báu vật của nhà chùa. Chuông treo trên gác báu cũng được coi là chuông nghĩa tình để chiêu tập hiền sĩ. Mỗi khi gõ lên, vang vọng cả lầu gác. Nhân đó mà mọi người từ bậc khoa bảng đến thường dân đều muốn thành Phật tử… (bị mờ 2 câu).

Nay chùa Pháp Vân là thắng địa huyện Đông Ngạn, là danh lam xã Phù Ninh. Xung quanh là sông Thiên Đức1 bao quanh, phía tây nam có hồ châu tận tụy, bên trái có núi cao trấn giữ, phía đông bắc có rồng ẩn hữu tình; trước mặt là dải Chu tước2 mênh mang, phía sau là dải Huyền vũ quy chầu. Thật là một thắng địa, một hình thế kì vĩ. Vì vậy mà nhân tài từ đó xuất hiện nhiều. Văn thì bảng hổ đề danh, tên tuổi lưu truyền hậu thế; võ thì thăng đến tước Quận công, đất nước tôn quý. Đó là lúc hưng thịnh vậy, nhân tài đông đúc, lúa gạo đầy nhà. Mọi người vui đến cửa Thiền, thờ Phật có điện, thắp hương có đài. Đài vũ nguy nga, hành lang bao bọc nối với lầu đài sán lạn; bảo điện lung linh, chế độ mới tươi, quy mô hoàn hảo. Sân đầy cỏ hoa, cửa phơi muôn cảnh, sặc sỡ tốt tươi. Hết thảy đều thanh tịnh phàm trần. Nhờ đó mà ơn nhờ lợi lạc, nước mạnh dân khang. Phúc lộc đến mọi nhà, người người lên cõi thọ vực. Cảnh trí tĩnh mịch, hoa cỏ tươi xanh. Thật là một nơi sâu lắng nhất trong chốn rừng thẳm, một cảnh chùa bậc nhất trong cõi trời Phật.

Chùa tuy đã có chuông, nhưng nay không còn. Muốn đúc chuông mới, phải chờ đến phương sách lớn, lực lượng lớn, bậc công đức lớn, nhân duyên lớn mới thành. Kính thay! Vào tháng mạnh đông (tháng 10) năm Quý Tị, niên hiệu Thịnh Đức thứ nhất (1653) triều Lê, cơ đồ mở mang, Chánh vương phủ Tây Bá đạo3 được phong tước Vương, vua cha nối giữ vận nước, cơ đồ ngàn năm bền vững. Thế tử nối nghiệp, muốn tu tỉnh đạo lí, gây dựng vận nước vững như bàn thạch, nối dài muôn thừa. Khi này có Hội chủ Ưu bà di Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh hiệu Diệu Nguyên và Vương phủ thị cung Đỗ Thị Cảnh hiệu Diệu Nhu phát lòng bồ đề, tính từ bi, đã không tiếc tiền của đúc quả chuông lớn này. Nhân đó các thiện tín trong xã và khách thập phương tự nguyện làm theo. Người đấu gạo, kẻ tiền đồng khắp nơi đổ về. Bèn tìm mua đồng tốt, rước thợ khéo, dựng lò đúc khuôn. Nhờ lò lửa trời đất, quạt gió âm dương mà ngọn lửa rừng rực đúc thành. Chuông đúc xong, treo trên lầu gác. Tiếng chuông cảnh tỉnh chúng sinh, mang phúc lộc đến người thiện tín. Chồng thì quan cao lộc trọng, vợ thì yên vui hoà thuận, con cháu đông đúc, được vào triều tiến cử, công danh rang rỡ, khoa bảng nối truyền, làm sáng ngời tiền nhân, lưu danh hậu thế. Nhà phúc thiện, nước yên bình, đời đời có âm công dương báo, mãi mãi khôn cùng. Vì vậy khắc hết họ tên người công đức ra sau đây để truyền dài lâu.

Bài minh rằng:

Đông Ngạn thắng địa
Phù Ninh danh hương
Pháp Vân chùa lớn
Sáng lập từ lâu
Phạn cung rạng rỡ
Tam quan ngổn ngang
Pháp âm vang vọng
Mang đến niềm vui
Mừng thay! lão vãi
Dốc cả lòng lành
Quý quan thị nữ
Ngự y chùa cung
Thợ mời người giỏi
Đồng chọn sạch tinh
Xây lò đúc tạo
Chuông vọng ngân nga
Bồ lao vành nguyệt
Sóng kình âm vang
Trước thỉnh tam giới
Sau truyền chúng sinh
Tiêu trừ tà ác
Quy về nhân lương
Đời đời yên lạc
Người hưởng phúc lành
Cháu con danh hiển
Gia đạo tôn nghiêm
Nghề nông lúa tốt
Vua tựa Đường Ngu4
Danh truyền sử sách
Tên ghi bảng vàng
Công đức vô lượng
Bền cùng đất trời.

– Hưng công hội thủ Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh hiệu Diệu Nguyên, người xã Linh Đường trú quán tại xã Thịnh Liệt huyện Thanh Trì phủ Thường Tín.

– Hội chủ Phó vương phủ nội thị cung Đỗ Thị Cảnh hiệu Diệu Nhu, người xã An Thọ huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai.

– Phó hội chủ Trần Thị Ngọc Đài, người huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng. Trần Thị Ngọc Am hiệu Pháp Giới…

Quan viên các chức tước xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn công đức tiền bạc:

– Quan viên 27 vị, mỗi người công đức tùy ý:

Chánh vương phủ Ti lễ giám Thái giám Tham tri giám sự, ? Lộc hầu, Trần Đình Kiên. Thân mẫu Nguyễn Thị Thảo cúng 1 dật bạc.

Phó vương phủ Ti lễ giám Đô thái giám chưởng giám Tham tri giám sự, Lãng Dương hầu, Đào Quang Nhậm và vợ là Đỗ Thị Ngọc Đức cúng 1 dật bạc.

Phó vương phủ Ti lễ giám chưởng giám Tham tri giám sự, Vinh Lộc hầu, Nguyễn Đức Chiêm và vợ là Trịnh Thị Ngọc Kính cúng 1 dật bạc.

Thạch Công Đương tự Pháp Thành hiệu Phúc Chính và vợ là Nguyễn Thị Hồn hiệu Từ Ân. Nguyễn Phúc Sâm và vợ là Nguyễn Thị Lân. Thạch Công Bá và vợ Nguyễn Thị Hoàng. Nguyễn Văn Vinh tự Chân Phát. Nguyễn Đức Bình và vợ là Đào Thị Ngọc Lận, Lâm Thị Ngọc Xuyên. Nguyễn Tam Triều vợ Nguyễn Thị Tuyệt. Nguyễn Tất Triều. Trần Văn Dũng. Nguyễn Tông Trạch vợ Nguyễn Thị Nguyên. Nguyễn Khắc Vinh vợ Nguyễn Thị Ngọc Đế, Nguyễn Thị Thỏa. Đỗ Công Trâm vợ Nguyễn Thị Trường. Nguyễn Văn Dụ vợ Nguyễn Thị Chất. Nguyễn Văn Trị vợ Nguyễn Thị Hương. Ngô Đức Nhuận. Nguyễn Đức Mậu vợ Nguyễn Thị Nhẫn. Nguyễn Bích vợ Nguyễn Thị Hội, Thạch Như Hội vợ Thạch Thị Tư. Thạch Công Bảo vợ Nguyễn Thị Tân. Ngô Đình Vinh. Thạch Đắc Tài vợ Thạch Thị Ba. Nguyễn Đắc Tài vợ Nguyễn Thị Đỗ. Nguyễn Phú Đức vợ Nguyễn Thị Khuông. Nguyễn Đình Luân vợ Nguyễn Thị Thuận. Nguyễn Đăng Triều. Nguyễn Phúc Chiêm vợ Nguyễn Thị Thanh. Phạm Công Tiến vợ Nguyễn Thị Hiền. Nguyễn Thụ Công vợ Nguyễn Thị Hạ. Nguyễn Văn Đắc vợ Thạch Thị Đoàn. Nguyễn Văn Lương. Trần Đắc Miên vợ Ngô Thị Nhương, Nguyễn Thị Quý. Nguyễn Tiến Lộc vợ Nguyễn Thị Minh. (Lược 43 cặp vợ chồng công đức).

Tri phủ sãi Đào Trung tự Phúc Ân, vợ Nguyễn Thị Lạc hiệu Từ Liên. Nguyễn Viết Hãn tự Phúc Trân. Nguyễn Thế Sư tự Phúc Định.

– Bản tự các sãi vãi: Thiêm tri phủ phủ sãi Nguyễn Đức Quý tự Phúc Thọ hiệu Cẩm Xuyên. Phủ sãi Nguyễn Văn Huấn tự Huyền Tiến hiệu Đạo Chính, vợ là Nguyễn Thị Nghiễm. Nguyễn Tất Cường tự Phúc Tung, vợ Nguyễn Thị Thức. Huyện sãi Nguyễn Hữu Năng tự Phúc Cẩn… (lược 25 vị).

Tín vãi Nguyễn Thị Tính hiệu Diệu Huệ. Nguyễn Thị Mạnh hiệu Từ Bảo… (lược 8 vị).

Tùy bản tự (những người tùy duyên của chùa): Thạch Công Hiển vợ Nguyễn Thị Tâm. Nguyễn Văn Học vợ Đoàn Thị Đức. Tổng chánh Nguyễn Đức Thận vợ Đào Thị Đỗ. Nguyễn Công Cung, Thạch Công Lưu. Huyện sãi Thạch Công Tiến tự Thiện Niên. Ngô Đức Thành tự Phúc Đạt và vợ là Nguyễn Thị Biện hiệu Huệ Lộc. Tín vãi Nguyễn Thị Cúc hiệu Từ Hiền. Ngô Thị Khải hiệu Từ Lương. Nguyễn Thị Ngọc Đắc hiệu Từ Vinh. Nguyễn Thị Cần hiệu Diệu Trinh. Nguyễn Như Quý. Nguyễn Công Chính. Thạch Thị Yến.

Trụ trì bản chùa, tăng lục ti tăng thống Thạch Tiên tự Pháp Thông hiệu Huệ Minh, vợ là Phạm Thị Duyên kí.

Đệ tử nhà Phật mộ duyên Sa di Minh Như soạn, viết chữ.

Ngày lành tháng 12 năm Quý Tị (1653) niên hiệu Thịnh Đức.

Quan viên các chức tước hương lão toàn xã, cùng sãi vãi trên dưới kí. Tri bạ Văn Hoàng nam Ngô Văn Thọ viết chữ lên chuông. Thợ đúc Đỗ Bá Quý, người thôn Đại Bi xã Đồng Xá huyện Siêu Loại đúc chuông. Hai vị Văn Hợp nam và Văn Tài nam, người thôn Hữu Lân xã Yên Việt khắc chữ.

(Phần khắc trên 4 ô dưới của chuông) – Các vị công đức… (lược một số chữ).

Thôn Thượng:

Luận Chính Nghĩa giáp: Nguyễn Thụ Lộc, Nguyễn Thụ Đức, Nguyễn Thụ Cử, Nguyễn Thụ Côn, Nguyễn Tam Giản, Nguyễn Thụ Tiến, Nguyễn Văn Pháp, Nguyễn Tam Trạch, Nguyễn Thụ Lương, Nguyễn Hữu Nhiêu.

Nghĩa Luận chính giáp: Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Ngọc Tường, Nguyễn Thụ Nhân, Nguyễn Bắc, Nguyễn Tam Hiền, Nguyễn Tam Tiên, Nguyễn Văn Trân, Nguyễn Tiến Phúc.

Nhân Hậu giáp: Nguyễn Thế Can, Thạch Công Hiển, Nguyễn Hữu Chu, Nguyễn Văn Đãi, Nguyễn Khắc Liên, Nguyễn Công Sơn, Nguyễn Hữu Trúc, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Công Thịnh, Đào Thế Trực.

Nghĩa Luận Trung giáp: Nguyễn Thuần, Nguyễn Thế Sự, Nguyễn Như Khuê, Nguyễn Sư Tín, Nguyễn Đức Thái, Nguyễn Tất Dung, Nguyễn Văn Biểu, Nguyễn Hữu Vi, Nguyễn Như Trân, Tạ Tương Cự, Nguyễn Sư Tịch, Nguyễn Đình Bình, Thạch Đắc Trường, Nguyễn Hữu Bảo.

Đồng Thọ giáp: Nguyễn Văn Cẩm, Đỗ Công Sùng, Nguyễn Tiến Triệu, Nguyễn Phi Hợp, Thạch Công Đĩnh, Nguyễn Văn Trị, Nguyễn Khắc Thi, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Văn Tì, Đỗ Công Quý, Nguyễn Văn Sung, Nguyễn Đương, Nguyễn Tiến Phú, Nguyễn Văn Nghĩ, Nguyễn Văn Thọ.

Ngoại giáp: Nguyễn Văn Bảo, Nguyễn Tam Sĩ, Ngô Thế Khoa, Nguyễn Sĩ Hào, Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Tông Đạo, Nguyễn Tông Hoàn, Nguyễn Văn Phổ, Nguyễn Tất Cẩn, Nguyễn Thụ Đắc, Nguyễn Tam Quý, Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Biểu, Nguyễn Như Ninh, Tạ Bá Trực, Nguyễn Văn Luật, Nguyễn Như Tuấn, Thạch Công Cận, Nguyễn Tam Lược, Nguyễn Thu Nghi, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Đức Tiệm, Nguyễn Khắc Cô, Trần Thụ Lộc.

Ngoại giáp trung thôn: Nguyễn Đức Thực tự Pháp Giới, Nguyễn Thế Khôn, Nguyễn Thế Ngọ, Nguyễn Đắc Sản, Nguyễn Tất Tứ, Đào Tiến Trực, Đào Tiến Quý, Nguyễn Văn Nhuận… (lược 6 vị).

Khê Tây giáp: Nguyễn Xuyên, Nguyễn Công Trực, Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Công Hiển, Nguyễn Đức Thế, Nguyễn Đức Khuông, Nguyễn Văn Hoành, (lược 8 vị).

Bồ Đông Thượng giáp: Nguyễn Viết Cư, Đào Tiến Nhân, Nguyễn Thời Quá, Ngô Duy Nhất, Nguyễn Văn Chính, Nguyễn Tất Mãn, Đào Nhân Vinh, Nguyễn Lệnh Đức (lược 22 vị).

Bồ Đông Chính giáp: Nguyễn Thiết, Nguyễn Thế Công, Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Thế Cao, Phạm Công Trụ, Nguyễn Hậu, Nguyễn Tiến Đông, Nguyễn Tiến Túc (lược 12 vị).

Bồ Trung giáp: Nguyễn Tất Ứng, Nguyễn Tất Thông, Nguyễn Tất Đại, Nguyễn Như Khôi, Nguyễn Dang Gia (lược 6 vị).

Thôn Hạ:

Đính Thượng giáp: Nguyễn Văn Nông, Phạm Hữu Đức, Nguyễn Đức Khải, Nguyễn Văn Hiển, Nguyễn Văn Tiến, Phạm Quang Tạo, Nguyễn Đức Cẩm, Nguyễn Văn Thu, Nguyễn Văn Lễ, Nguyễn Văn Thái, Nguyễn Văn Chúc.

Hợp Lễ đông giáp: Nguyễn Khắc Địch, Nguyễn Khắc Liêu, Nguyễn Phúc Tích, Nguyễn Phúc Kĩ, Nguyễn Phúc Khánh, Nguyễn Kim Bảng, Nguyễn Văn Cơ, Nguyễn Phúc Sai, Nguyễn Phúc Hoài, Nguyễn Văn Bút, Nguyễn Văn Sử, Nguyễn Phúc Nhân, Nguyễn Phúc Đại, Nguyễn Văn Mưu, Nguyễn Phúc Quý, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Văn Sức, Nguyễn Khắc Sâm.

Hồng Kiều trung giáp: Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Nhân Chiêu, Nguyễn Nhân Trí, Phạm Đình Luận, Ngô Đức Xá, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Triệu, Nguyễn Bá Hợp, Nguyễn Bá Hoàng, Phan Thời Vân, Nguyễn Nhân Kì, Phạm Đình Sách, Nguyễn Nhân Trứ, Nguyễn Nhân Vũ, Nguyễn Văn Viêm, Ngô Đức Hợp, Nguyễn Nhân Dụ, Nguyễn Bá Thự, Nguyễn Lập Hiền, Nguyễn Nhân Lâm.

Hợp Lễ chính giáp: Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Phúc Kiên, Nguyễn Phú Thứ, Nguyễn Đức Ngẫu, Nguyễn Phúc Diên, Nguyễn Văn Cam, Nguyễn Thọ Bình, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Văn Mai, Nguyễn Thọ Trụ, Nguyễn Đức Thân, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Phú Cổ, Nguyễn Đức Ngũ, Nguyễn Tam Sơn, Nguyễn Phú Bằng, Nguyễn Phú Tĩnh, Nguyễn Văn Cự, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Thọ Cửu.

Hợp Lễ tây giáp: Ngô Hữu Huyền, Ngô Văn Dung, Ngô Trọng Tân, Ngô Văn Thọ, Nguyễn Gia Tường, Nguyễn Văn Khuê, Ngô Hữu Nghĩa, Đồng Văn Phúc, Ngô Văn Trí, Ngô Trọng Tiến, Ngô Hữu Dụng, Nguyễn Hữu Duy, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Văn Kim, Ngô Trọng Mĩ.

Hồng Kiều đông giáp: Phạm đình Tấn, Nguyễn Bá Lãnh, Nguyễn Nhân Hưng, Nguyễn Bá Niên, Ngô Đức Tả, Ngô Đức Quý, Nguyễn Quang Tiến, Nguyễn Bá Lũy, Nguyễn An Tài.

Hợp Lễ trung giáp: Nguyễn Đức Thịnh, Nguyễn Hữu Cực, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Văn Dũng, Phạm Công Trọng, Nguyễn Hữu Cần, Phạm Công Trung, Nguyễn Văn Lượng, Nguyễn Văn Hợp, Nguyễn Hữu Lượng, Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Hữu Sĩ, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Hữu Thanh, Nguyễn Văn Nhuận, Phạm Công Can, Nguyễn Văn Lãm, Phạm Công Tốt, Lê Phụng, Nguyễn Hữu Phiếm, Nguyễn Phúc Sử, Nguyễn Sông, Nguyễn Văn Kiêm, Phạm Văn Dịch…

Công đức: Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Công Lược, Ngô Thế Truyền, Nguyễn Đức Phụ… (lược 70 vị).

Thị nội giám … (mờ 10 dòng, họ tên của 20 vị).

Xã Đại Vi, xã Ninh Giang, xã Cẩm Chương: (gồm 12 vị).

Xã Thượng Cốc: Huyện thừa Du Nhan tử.

Xã Cầu Trì: Tri phủ Thọ Cầu nam Nguyễn Hoàng Phiên và vợ. Tri huyện huyện Tiên Du Vũ Hoàng Hân.

Xã Phù Chẩn: Nguyễn Thị Dương, Tham nghị Nguyễn Xuân, vợ Nguyễn Thị Đan.

Chú thích

  1. Sông Thiên Đức tức một nhánh của sông Đuống ngày nay.

  2. Chu tước và Huyền vũ là hai trong nhị thập bát tú (28 vì sao). Chùm sao Chu tước chỉ mùa hạ, phương Nam; còn Huyền vũ chỉ mùa đông, phương Bắc. Còn Thanh long chỉ phương Đông, mùa xuân, và Bạch hổ chỉ phương Tây, mùa thu.

  3. Tây Bá đạo tức Tây Quốc công Trịnh Tạc được phong tước Vương thế tử vào năm Qúy Tị (1653).
  4. Đường, Ngu là hai triều vua ở thời thượng cổ của Trung Quốc là Đường Nghiêu và Ngu Thuấn, được cho là những vị vua và thời kì lí tưởng nhất mà các triều đại sau thường coi đó là mẫu mực.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 162-186.

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)