Tu tạo bảo khánh

Tu tạo bảo khánh

Thông tin cơ bản

Tu tạo bảo khánh
脩造寶磬
Thác bản khánh xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn 東岸縣扶寧社, sưu tầm tại chùa Pháp Vân xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Khánh 2 mặt, khổ 160 x 95 cm, gồm 110 dòng chữ Hán, khoảng 2500 chữ Há, chạm chim phượng, hoa lá. Có một số chữ bị mờ.
Niên đại: ngày mồng 3 tháng 2 năm Quý Sửu (1733)
Người soạn: Huấn đạo Nguyễn Nho Cử soạn.
Chủ đề:
– Công đức, đúc chuông

Nguyên văn chữ Hán

脩 造 寶 磬

慈山縣扶寧社興功會主及功德等,由於前人已鑄,經久徵假文廉,蝙小。至茲癸丑年三月初三日,再脩鑄寶磬,鳩功完好。仍撰爲文,以垂永鑑。施??以顯無窮之景福,???和上下之情事。有故聞,非徒苟然爲也。夫磬者,金質堅,開玉音,清朗兩肩,並峙依然鉤月之形,雙角齊穿,宛爾彎弓之勢。紫雲爛漫,中含皎月輝煌。鏗鏘閣上,遙懸金碧;塵端默咱,晴天稿響。。。。所有興功及隨緣功德會主姓名開陳于後計:

會主阮公水妻石氏庵、會主阮有海妻阮氏靈、會主阮壽輝妻阮氏綿。。。。

一隨緣功德:寧郡公阮壽長妻阮氏度號妙謹;殿前阮壽鐫字福強妻阮氏撰號妙良;少卿平壽男阮壽域妻石氏榴號妙楊;侍內宮嬪阮氏遠;國子監教授阮壽基妻陶氏保號妙賢;耆英上仕阮公榮字福陞妻陶氏上號妙泰。。。。

黎朝龍德貳年歲在癸丑仲春穀日。

Dịch nghĩa tiếng Việt

Đúc khánh lớn

Hội chủ hưng công và người công đức xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn đã đúc một pho tượng Di đà vào ngày 2 tháng 11 năm Kỉ Mão (1699), lại đúc một khánh lớn vào ngày 19 tháng 12 năm Tân Tị (1701). Công việc hoàn hảo, liền soạn bài văn ghi khắc lên khánh.

Từng nghe: Phật vốn linh thiêng, cảm thì thông, cầu thì ứng. Chùa có pháp khí, nghe thấy thì tỉnh ngộ, hiểu được thì đắc đạo. Pháp khí có năm loại, nhưng quý nhất là khánh. Bởi lẽ khánh có chất liệu thuần túy, có âm thanh vang vọng như mây tía bao quanh; không đậm, không mờ như mặt ngọc trăng soi vàng vặc, ánh sáng huy hoàng. Hai đầu khánh cong như cánh phượng. Gõ một tiếng, niềm cầu thần chú là Thánh hiền mười phương cùng nghe được. Gõ một hồi, đọc kinh Kim cương, thì ma quỷ kinh hoàng tan tác. Khánh thực linh nghiệm như vậy. Xưa Thiên Hoàng1 dựng nước, đúc khánh để hoà hợp thần linh, Hạ Vũ2 trị dân đúc khánh để đón bốn phương hiền sĩ. Phép xưa, sách rõ soi tỏ đời nay.

Nay có chùa thiêng ở xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn là một danh lam cổ tích. Ân trạch đem đến mọi điều tốt lành, âm công thì phúc đến dạt dào. Người người noi theo việc thiện, luôn sửa mình góp phúc; coi trọng việc đúc tượng Phật và làm khánh đồng, chẳng tiếc của cải. Cùng làm chùa, dựng cầu, mong được âm báo, cầu mệnh trời yên lành. Cậy nhờ đức Phật chứng minh, soạn bài văn khắc trên khánh để truyền lại đời sau. Kê hết họ tên người hưng công và công đức ra sau đây:

– Hưng công hội chủ Thiêm tri Trùm lão vãi Nguyễn Thị Ngọc Hoan, hiệu Diệu Phúc. Thiện sãi Thạch Công Giai tự Phúc Miên, vợ là Nguyễn Thị Gương. Nguyễn Công Giai, vợ Nguyễn Thị Kiêm. Nguyễn Cao Nghiên, vợ Nguyễn Thị Ất, Nguyễn Đức Thiêm tự Phúc Hy và vợ là Phạm Thị Dương. Ngô Đức Tín, vợ là Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thị Thế. Lê Thọ Trường, vợ Nguyễn Thị Lãng. Huyện sãi Nguyễn Đức Kinh, tự Phúc Khang, vợ là Nguyễn Thị Ngân. Tín vãi Nguyễn Thị Hạc hiệu Diệu Trinh. Nguyễn Thị Trinh hiệu Từ Quế. Nguyễn Nhân Ninh, vợ Nguyễn Thị Thuấn. Nguyễn Thụ Đăng, vợ Đào Thị Lãng, Dương Thị Quyến. Nguyễn Khắc Chúng, vợ Nguyễn Thị Thức. Nguyễn Như Trọng, Nguyễn Công Nho, vợ Nguyễn Thị Viên. Nguyễn Văn Đăng. Tiểu tăng, trụ trì chùa là Nguyễn Đức Phái, tự Như Tính, vợ Nguyễn Thị Xâm, Nguyễn Thị Luận.

Bài minh rằng:

Vua Lê mở vận
Chúa Trịnh trời sinh
Tôn hiềm giúp đập
Thiên hạ thái bình
Ban ơn làm phúc
Dựng kì bày cương
Người vui nghiệp dựng
Khơi giếng cấy trồng
Huyện tên Đông Ngạn
Xã gọi Phù Ninh
Chùa có danh lam
Đời nhiều hiền triết
Góp công góp sức
Âm đức tiếng thơm
Tuổi thọ người đồng
Phật trời chứng giám
Đẹp thay! hồng khánh
Thực thay! lời minh.

Hội chủ hưng công và người công đức xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn thấy rằng người xưa đã đúc khánh, nhưng do lâu ngày khánh đã rỗ mòn, lại hiềm nỗi kích thước bé nhỏ. Nay vào ngày mồng 3 tháng 2 năm Quý Sửu (1733), đúc lại khánh báu. Công việc hoàn thành, bèn soạn bài văn để truyền lại tấm gương mãi mãi cho đời sau, để tỏ rõ phúc lớn đến vô cùng.

Thường nghe cửa Thiền chiêm ngưỡng, đức Phật cậy nhờ; pháp khí sắm tô, Thần Phật chứng giám. Đúc pháp khí là để hoà hợp đức thiêng của Thần linh, cũng là để hài hoà tình trên, nghĩa dưới. Việc xưa đã có, chẳng phải là cẩu thả làm bừa. Ôi, khánh này chất đồng cứng rắn, tiếng ngọc vang trong. Hai vai khánh như hình mảnh trăng đầu tháng, đôi mũi khánh tựa cánh cung cong cong. Mây tía chói chang, ngắm mảnh trăng vàng vặc, thánh thót treo cao trên gác, lắng nghe ở giữa toà vàng. Trời trong vang tiếng, một hồi đưa tới Tam tôn. Chốn Phật truyền vang, chín lần gõ mà sóng lên Cửu phẩm. Dậy đất, quét quang trần tục, mở trời xa vời vợi đài xuân. Muốn bỏ nguy trở về chân, phải lấy tiếng khánh này mà thức tỉnh. Nay có chùa Pháp Vân xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn vốn là một danh lam từ thuở xa xưa, truyền lại cho tới ngày nay, nhưng lâu ngày hư hỏng. Nay các vị hội chủ sãi vãi, thiện nam tín nữ dấy lên lòng thiện, đóng góp của nhà, đổi mới cảnh chùa, mở rộng quy mô. Nhân đó mà tu bổ làm cho cảnh quan này thêm mới mẻ. Việc làm đó như đưa phúc lành tới sáng tựa trân châu, truyền lại cho cháu con. Ôi, phúc thiện thay! Nhân vậy mà soạn bài văn khắc lên khánh để truyền vô tận. Hết thảy họ tên hội chủ hưng công và những người công đức, xin kê ra sau đây:

Hội chủ hưng công Nguyễn Công Thủy, vợ Thạch Thị Em. Hội chủ Nguyễn Hữu Hải vợ Nguyễn Thị Linh. Hội chủ Nguyễn Thọ Huy vợ Nguyễn Thị Miên. Hội chủ Nguyễn Thọ Tăng vợ Nguyễn Thị Trinh hiệu Diệu Ngọc. Hội chủ Nguyễn Bá Tuấn vợ Nguyễn Thị Đồng. Hội chủ Đào Quốc Tĩnh vợ Nguyễn Thị Giai. Hội chủ quý quan Trần Văn Hoán vợ Nguyễn Thị Tư. Hội chủ kiêm lão vãi Ngô Thị Mĩ hiệu Diệu Tâm. Hội chủ Nguyễn Đình Tú vợ Nguyễn Thị Quang. Nguyễn Hữu Toàn vợ Nguyễn Thị Tương, Nguyễn Văn Lí, Nguyễn Khắc Tuấn và vợ Nguyễn Thị Thoát. Nguyễn Văn Nhật vợ Nguyễn Thị Lí, Nguyễn Văn Bảy vợ Nguyễn Thị Đương, Nguyễn Văn Pha và vợ Nguyễn Thị Ba, Nguyễn Văn Tam, Nguyễn Kim Tôn.

Những người công đức:

Ninh Quận công Nguyễn Thọ Trường, vợ Nguyễn Thị Độ hiệu Diệu Cẩn. Điện tiền Nguyễn Thọ Thuyên tự Phúc Cường vợ là Nguyễn Thị Soạn hiệu Diệu Lương. Thiếu khanh Bình Thọ nam Nguyễn Thọ Vực và vợ là Thạch Thị Lưu hiệu Diệu Dương. Thị nội cung tần Ngô Thị Viễn. Quốc tử giám Giáo thụ Nguyễn Thọ Cơ, vợ Đào Thị Bảo hiệu Diệu Hiền. Kì anh thượng sĩ Nguyễn Công Vinh tự Phúc Giai, vợ Nguyễn Thị Trùm hiệu Diệu Thái. Xã chính Nguyễn Thọ Thái tự Phúc Bình, vợ Tạ Thị Ngọ. Tri bạ Nguyễn Thọ Oánh tự Phúc Quảng vợ Nguyễn Thị Đăng. Thiêm thái giám Toán Tường hầu Nguyễn Công Luận vợ Nguyễn Thị Đan. Sở sử Nguyễn Khắc Trạc tự Phúc Giai vợ Nguyễn Thị Biên hiệu Diệu Năng. Lão vãi Nguyễn Thị Tú hiệu Diệu Kiên, tín vãi Nguyễn Thị Luận hiệu Diệu Thanh. Lão vãi Nguyễn Thị Trọng hiệu Diệu Nho…

Ngày lành tháng 2 năm Quý Sửu, niên hiệu Long Đức thứ 2 (1733). Huấn đạo Nguyễn Nho Cử soạn.

Chú thích

  1. Thiên Hoàng là một trong Tam Hoàng (Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng) thời tối cổ ở Trung Quốc.

  2. Hạ Vũ là vị vua đầu tiền của nhà Hạ, lên ngôi năm 2205 trước công nguyên.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 162-186.

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)