Hậu phật bi kí
后佛碑記
Thác bản bia chùa Ninh Giang, thôn Thị xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn
Thác bản 2 mặt, khổ 85 x 65 cm, gồm 20 dòng chữ Hán và Nôm.
Niên đại: Vĩnh Trị nguyên niên (1676).
Người soạn: Nguyễn Khán, chức Thị nội bộ Binh Thư tả
Người viết Lệnh sử Tri bạ, tước Đặng Lộc nam viết.
Chủ đề:
Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
Nguyên văn chữ Hán
后 佛 碑 記
慈山府東岸縣寧江社官員鄉老譚仕厚、阮有進上下等爲立後佛碑記事。
嘗聞朝庭有朝庭之禮,必整法立綱;鄉里有鄉里之豐,當顧恩思義。
茲見本社官員侍內監阮相公字善慶諡忠良,門高閥閱,家業善良。其事上也以惠,其事親上孝,榮寵多承於國恩。吸欲照其鄰,仍以錢一百貫,並田二畝一高,許與本社以供香火之用。其鄉黨故舊情皆愛慕,願永爲兒戶之民。敬以相公顯考阮相公字福明府君、顯妣阮貴氏號慈美孺人及阮相公字善慶諡忠良等立爲後佛,奉事萬代香火無窮。係春秋冬節,每節炊七盤,米十斗,並花果等物,至期將就本寺行禮如儀,不敢廢置,以存原道。若社內或某人忘恩背義,違約渝盟,撤停此禮,恭願皇天諸佛照鑒誅之滅之。因此刻之于石,以壽其傳云。
永治元年正月孟春穀旦
侍內兵部書寫令使知簿鄧祿男阮眷寫
Phiên âm Hán Việt
Hậu Phật bi kí
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Ninh Giang xã quan viên, hương lão Đàm Sĩ Hậu, Nguyễn Hữu Tiến… thượng hạ đẳng vi lập Hậu Phật bi kí sự.
Thường văn triều đình hữu triều đình chi lễ, tất chính pháp, lập cương; hương lí hữu hương lí chi phong, đương cố ân, tư nghĩa. Tư kiến bản xã quan viên Thị nội giám Nguyễn tướng công tự Thiện Khánh, thụy Trung Lương. Môn cao phiệt duyệt, gia nghiệp thiện lương. Kì sự thượng dĩ huệ kì sự, thân thượng hiếu vinh sủng đa thừa ư quốc, ân ba dục chiếu kì lân. Nhưng dĩ tiền nhất bách quan tinh điền nhị mẫu nhất cao, hứa dữ bản xã dĩ cúng hương hoả chi dụng. Kì hương đẳng cố cựu tình, giai ái mộ, nguyện vĩnh vi nhi hộ chi dân, kính dĩ tướng công Hiển khảo Nguyễn tướng công tự Phúc Minh phủ quân, Hiển tỉ Nguyễn Quý thị hiệu Từ Mĩ nhụ nhân, cập Nguyễn tướng công tự Thiện Khánh thụy Trung Lương đẳng lập vi Hậu Phật. Phụng sự vạn đại, hương hoả vô cùng. Hệ xuân thu đông tiết, mỗi tiết suy thất bàn, mỗi bàn mễ thập đấu, tính hoa quả đẳng vật. Chí kì tương tựu bản tự hành lễ như nghi, bất cảm phế, trí dĩ tôn hậu đạo. Nhược xã nội hoặc mỗ nhân vọng ẩn, bội nghĩa vi ước thâu minh, triệt đình thử lễ, cung nguyện hoàng thiên chư Phật chiếu giám, chu chi, diệt chi. Nhân thử khắc chi vu thạch dĩ thọ kì truyền văn.
Vĩnh Trị nguyên niên chính nguyệt mạnh xuân cốc nhật. Thị nội bộ Binh thư tả Lệnh sử Tri bạ Đặng Lộc nam Nguyễn Khán tả.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Phật
Quan viên hương lão xã Ninh Giang huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn gồm Đàm Sĩ Hậu, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đăng Quý, Nguyễn Đức Ân, Nguyễn Thọ Vinh, Thạch Công Lộc, Nguyễn Đình Xứng, Nguyễn Hữu Nghĩa, Nguyễn Nhân Khoan, Lâm Đăng Cao, Nguyễn Công Cẩn, Nguyễn Khắc Cẩn, Đàm Bổng, Ngô Văn Bản, Nguyễn Thạc Hiển, Lâm Học Sĩ, Nguyễn Nhân Ân, Nguyễn Công Tiến, Nguyễn Hữu Đắc, Nguyễn Thạc Hoàng, Nguyễn Nhân Chiêu, Lâm Đăng Minh, Nguyễn Ngọc Hoàn, Nguyễn Nhâm Chính, Đàm Nhuận, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Bách Phúc, Lâm Đăng Tiến, Lâm Đăng Đệ, Nguyễn Khắc Nhượng, Nguyễn Nhân Văn, Nguyễn Thạc Hùng, Đàm Phú Cường, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Tông Tín, Lâm Như Chiêu, Lâm Đăng Khoa, Lâm Đăng Sĩ, Nguyễn Công Ám, Phạm Văn Thành, Nguyễn Tông Phú, Nguyễn Đức Nhuận cùng lập bia Hậu Phật, ghi lại sự việc sau.
Từng nghe: triều đình có nghi lễ của triều đình, nên phải chấn chỉnh phép tắc, thiết lập kỉ cương; thôn xóm có phong tục của thôn xóm, đương nhiên ghi nhớ ân đức, báo đền việc nghĩa. Nay thấy trong xã có vị quan viên là Thị nội giám Nguyễn tướng công tự Thiện Khánh, thụy Trung Lương: cửa nhà bề thế, gia nghiệp hiển vinh, luôn hiếu thuận với bề trên. Công danh rạng rỡ nhờ ân sủng của nước, phúc lộc ban phát cho dân làng. Ông đã xuất 100 quan tiền và 2 mẫu 1 sào ruộng cho bản xã để dùng vào việc đèn nhang. Dân làng vì ân tình này mà hết đỗi ngưỡng mộ, xin được làm dân hộ nhì của ông. Tôn thờ Hiển khảo của tướng công là Nguyễn Quý công tự Phúc Minh phủ quân, cùng Hiển tỉ Nguyễn Quý thị hiệu là Từ Mĩ nhụ nhân và Nguyễn tướng công tự Thiện Khánh, thụy Trung Lương làm Hậu Phật, phụng thờ mãi mãi, khói nhang muôn đời. Vào các tiết xuân, thu, đông, mỗi tiết sắm xôi 7 mâm, mỗi mâm 10 đấu gạo cùng hoa quả dâng lên chùa làm lễ như nghi thức. Không được tự tiện phế bỏ để làm đẹp hơn tục lệ xóm làng. Sau này người trong xã hoặc ai đó vong ơn, bội nghĩa, làm trái với lời thề, bỏ lệ này, xin nguyện hoàng thiên chư Phật chiếu giám, trừng trị. Nhân đó khắc lên đá để truyền dài lâu.
Ngày lành tháng mạnh xuân (tháng 2) năm Vĩnh Trị nguyên niên (1676). Nguyễn Khán, chức Thị nội bộ Binh Thư tả, Lệnh sử Tri bạ, tước Đặng Lộc nam viết.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 234-238