Hậu phật bi kí
后佛碑記
Thác bản 2 mặt, khổ 85 x 55 cm, gồm 33 dòng chữ Hán và Nôm.
Niên đại: Vĩnh Trị muôn muôn năm (1676).
Chủ đề:
Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
Nguyên văn chữ Hán
后 佛 碑 記
慈山府東岸縣寧江社官員鄉老譚仕厚、阮登貴全社上下巨大等爲立碑敘。
嘗謂仁施於一邑,必爲一邑之推;功及於一鄉,必享一鄉之報。
茲見本社侍內監司禮監右提點海潤伯阮有進,節敦剛直,德備純和,儉於常奉而盡力乎。。。封恭有餘而推?乎鄰里鄉黨。
迺於癸丑年,公賜本社使錢三十貫並田五高,酒肉錢四十貫。
故一鄉之內,仰思其功,慕其德,愈久不忘,欲刻于石,銘于彜,以垂於遠人。
推尊前特進金紫榮祿大夫侍內監司禮監右提點海潤伯阮貴公字福度諡普明爲大悲寺后佛。
係遞年十一月十六日,本社各甲炊一盤當十斗,並芭蕉一芳,薦就座前祭禮如儀,罔有欠缺,永爲香火之傳,聳若泰山之碩。
自茲以後,本社或有某員人背約渝盟,廢置其禮,恭願皇天諸佛照鑒誅之。
因刻于石,以久其傳。
流傳萬代
永治萬萬年癸秋節穀日
銘云:
壹里仁義
慕相公焉
功思德報
石刻久傳
萬代如見
百世不遷
鄉中永永
祀衍綿綿
同田各處共五高半計
Phiên âm Hán Việt
Hậu Phật bi kí
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Ninh Giang xã quan viên hương lão Đàm Sĩ Hậu, Nguyễn Đăng Quý… đồng xã thượng hạ cự tiểu đẳng vi lập bi thuật.
Thường vị nhân thi ư nhất ấp, tất vi nhất ấp chi suy; công cập ư nhất hương, tất hương nhất hương chi báo. Tư kiến bản xã Thị nội giám ti lễ giám Hữu Đề điểm Hải Nhuận bá Nguyễn Hữu Tiến. Tiết đôn cương trực, đức bi thuần hoà, kiệm ư thường, phụng nhi tận lực hồ; (?) (?) (?) phong cung (?) hữu dư nhi suy (?) hồ. Lân lí hương đẳng nãi ư Quý Sửu niên, công tư bản xã sử tiền tam thập quan tính điền ngũ cao, tấu nhục tiền tư thập quan. Cố nhất hương chi nội ngưỡng tư kì công, mộ kì đức, dĩ cửu bất vong. Dục khắc vu thạch, minh vu di dĩ thù ư viễn. Nhân suy tôn Tiền Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Thị nội giám, Ti lễ giám Hữu Đề điểm Hải Nhuận bá Nguyễn Quý công tự Phúc Độ, thụy Phổ Minh vi Đại Bi tự Hậu Phật. Hệ đệ niên thập nhất nguyệt thập lục nhật, bản xã các giáp mỗi giáp suy nhất bàn, đương thập đấu tính ba tiêu nhất nải, hiến tựu toà tiền, tế lễ như nghi. Vọng hữu khiếm khuyết, vĩnh vi hương hoả chi truyền, tùng nhược Thái Sơn chi thạc. Tự tư dĩ hậu, bản xã hoặc hữu mỗ viên nhân bội ước thâu minh, phế trì kì lễ; cung nguyện Hoàng thiên chư Phật chiếu giám. Nhân khắc vu thạch dĩ cửu kì truyền.
Thời Vĩnh Trị vạn vạn niên quý thu tiết cốc nhật.
Lưu truyền vạn đại
Minh văn:
Nhất lí nhân nghĩa,
Mộ tướng công yên.
Công tư đức báo,
Thạch khắc cửu truyền.
Vạn đại như hiện,
Bách thế bất thiên.
Hương trung vĩnh vĩnh,
Tự điền miên miên.
Đồng điền các xứ cộng ngũ cao bản. Kê:
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Phật
Quan viên hương lão xã Ninh Giang huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn gồm: Đàm Sĩ Hậu, Nguyễn Đăng Quý, Nguyễn Tiến Lộc, Nguyễn Thọ Vinh, Thạch Công Lộc, Nguyễn Nhân Khoan, Nguyễn Công Cẩn, Đàm Bổng, Ngô Văn Bản, Nguyễn Thạc Hiển, Lâm Học Sĩ, Nguyễn Nhân Ân, Nguyễn Hữu Đắc, Nguyễn Thạc Hoàng, Nguyễn Nhân Chiêu, Lâm Đăng Minh, Nguyễn Ngọc Hoàn, Nguyễn Nhậm Chính, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Bách Phúc, Lâm Đăng Tiến, Lâm Đăng Đệ, Nguyễn Khắc Nhượng, Nguyễn Nhân Văn, Nguyễn Thạc Hưng, Đàm Phú Cường, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Vinh Tín, Lâm Như Chiêu, Lâm Đăng Khoa, Lâm Đăng Sĩ, Nguyễn Công Ám, Phạm Văn Thành, Nguyễn Tông Phú, Nguyễn Đức Nhuận, Nguyễn Xuân Vi, Nguyễn Đình Thân, Nguyễn Thạc Bảo cùng toàn xã trên dưới lập bia ghi lại sự việc.
Thường nghe: người nhân đức tín thí cho một ấp, thì được suy tôn trong một ấp; người có công với một hương, hẳn được hưởng báo đáp của một hương vậy. Nay thấy trong xã có vị Thị nội giám Ti lễ giám Hữu Đề điểm Hải Nhuận bá Nguyễn Hữu Tiến là người tiết tháo, cương trực, đức độ ôn hoà, cần kiệm như người thường, phụng sự hết lòng. Gia đình phú quý, ông luôn ban lộc cho dân làng. Vào năm Quý Sửu (1673), ông đã ban cho xã 30 quan tiền sử và 5 sào ruộng, cùng tiền rượu thịt là 40 quan. Vì thế dân trong hương ấp ngưỡng mộ công lao và ân đức của ông. Càng lâu càng không thể quên được, liền khắc lên đá, nêu gương vẻ vang để lưu truyền về sau. Đồng thời dân làng suy tôn làm Hậu Phật ở chùa Đại Bi cho Nguyễn Quý công tự Phúc Độ, thụy Phổ Minh từng là Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu Thị nội giám Ti lễ giám Hữu Đề điểm, tước Hải Nhuận bá. Hằng năm vào ngày 13 tháng 11, các giáp trong xã, mỗi giáp 1 mâm xôi tương đương 10 đấu gạo và 1 nải chuối dâng trước bia vị, cúng lễ như nghi thức; không để sai sót mà truyền mãi thành lệ, bền vững tựa núi Thái Sơn. Từ nay về sau, trong xã có ai vong ơn bội nghĩa, bỏ lệ ước này, không sắm lễ thì xin Hoàng thiên chư Phật chứng giám. Nhân vậy khắc lên bia đá để truyền dài lâu.
Ngày lành tiết quý thu (tháng 9) triều vua Vĩnh Trị muôn muôn năm (1676).
Lưu truyền muôn thừa
Minh rằng:
Một làng nhân nghĩa
Ngưỡng mộ Tướng công.
Ghi nhớ ân đức
Khắc đá lưu truyền.
Muôn năm như tại
Ngàn đời không thay.
Mãi mãi thôn ấp
Thờ cúng không cùng.
Ruộng các xứ gồm 5 sào rưỡi, kê ra sau đây:
1 mảnh 1 sào xứ Đường Kiến, lại 1 mảnh 1 sào xứ Đường Kiến, 1 mảnh 2 sào rưỡi ở xứ Chuông Tre và 1 mảnh 1 sào ở xứ Đồng Nạp.
Nguyễn Đức Tiến, Đàm Hữu Tiến, Đàm Phú, Nguyễn Thạc Kế, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Viết Quân, Lâm Như Đại, Nguyễn Tông Tín, Nguyễn Đăng Dụng, Nguyễn Văn Bình, Đàm Đăng Khoa, Nguyễn Đình Phương, Nguyễn Tiến Tài, Nguyễn Nhân Quý, Nguyễn Công Khuê, Nguyễn Thạc Quế, Nguyễn Tông Quý, Nguyễn Đào Bình, Nguyễn Thạc Quý, Nguyễn Văn Thông, Nguyễn Hữu Ân, Đàm Ngọc Thạch, Nguyễn Đăng Đệ, Lâm Đình Vị, Nguyễn Danh Nho, Đàm Văn Tiến, Lâm Sĩ Dụ, Nguyễn Nhân Vinh, Nguyễn Đăng Tường, Lâm Học Danh, Nguyễn Thạc Trung, Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Thời Diên cùng quan viên hương lão thôn trưởng trên dưới kí bầu. Cúng ruộng Tam Bảo 1 mảnh ở xứ Đường Kiến.
Ngày 16 tháng 11 cuối đông (tháng 12).
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 238-244