Hậu phật bi kí

Hậu phật bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu phật bi kí
后佛碑記
Thác bản 1 mặt, khổ 70 x 35 cm, gồm 12 dòng chữ Hán..
Niên đại: không rõ
Chủ đề:
– Trùng tu di tích, gửi giỗ.
– Sinh hoạt làng xã.

Nguyên văn chữ Hán

后 佛 碑 記

慈山府東岸縣寧江社官員鄉老社村長全社上下等

由於癸未年孟秋節,既改正後亭之榱瓦,又重修左寺之垣牆,役漸于成,用猶未贍。乃有粉鄉烈婦阮氏砧號妙德,素是良人,勃興善念,既出青錢拾五貫使,又引肥田凡有參高,一以助梓里供需,一以乞禪林從祀。靜言思之,夫投桃者必報以李,蚓是而有是心,寧不思所報乎?斯本社上下等會在亭中,共所願,爰寫立碑位。係遞年十二月初三日,本社用炊參具,每具當五斗,青焦每具使錢貳陌,將就碑位許寺祝食如儀。萬代之後,慎勿以簡而簡之,則鄉俗歸于厚。因刻于石,以壽其傳云。

月日號妙心正忌

一所我悉處田一高四尺

Phiên âm Hán Việt

Hậu Phật bi kí

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Ninh Giang xã quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, đồng xã thượng hạ đẳng do ư Quý Mùi niên mạnh thu tiết, kì cải chính hậu đình chi suy ngõa, hựu trùng tu tả tự chi viên tường. Dịch tiệm vu thành, dụng do vị thiệm. Nãi hữu phần hương liệt phụ Nguyễn Thị Chiêm hiệu Diệu Đức, tố thị lương nhân bột hưng thiện niệm. Kì xuất thanh tiền thập ngũ quan sử, hựu dẫn phi điền phàm hữu tam cao, nhất dĩ trợ tân lí cúng nhu, nhất dĩ khất thiên lam tòng tự. Tình ngôn tư chi phù đầu đào giả tất báo dĩ lí. Thử thị nhi hữu thị tâm, ninh bất tư sở báo hồ. Tư bản xã thượng hạ đẳng hội tại đình trung cộng sở nguyện, viên tả lập bi vị. Đệ niên thập nhị nguyệt sơ tam nhật, bản xã dụng suy tam cự, mỗi cự đương ngũ đấu, thanh tiêu mỗi cự sử tiền nhị mạch, tương tựu bi vị, hứa tự chức thực như nghi, vạn đại chi hậu thuận vật dĩ giản nhi giản chi tác hương tục quy vu hậu. Nhân khắc chi vu thạch dĩ thọ kì truyền văn.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Phật

Quan viên, hương lão, xã thôn trưởng, cùng toàn xã trên dưới xã Ninh Giang huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn dựng bia.

Nguyên do vào tiết mạnh thu (tháng 8) năm Quý Mùi, xã đã thay xà, đảo ngói chính cung và hậu đình, sau lại sửa tường bên trái chùa. Công việc gần hoàn thành, nhưng chi phí chưa đủ. Lúc đó có một phụ nữ, người trong làng là Nguyễn Thị Chiêm hiệu Diệu Đức, vốn là người hiền lành, đã hưng phát lòng thiện, xuất ra 15 quan sử tiền để chi dùng và cúng ruộng tốt 3 sào. Việc làm đó một mặt để trợ giúp quê nhà chi phí, một mặt xin được phụ thờ theo nhà Phật. Lòng tốt đó phải được ghi nhớ. Người tặng quả đào, tất được báo đền quả mận. Lẽ nào người có lòng lành, lại không được đền đáp sao? Nay bản xã trên dưới hội họp ở đình trung, cùng mong muốn lập bia ghi lại. Hằng năm vào ngày 3 tháng 12, bản xã sắm xôi 3 mâm, mỗi mâm tương đương 5 đấu gạo và chuối mỗi mâm giá 2 mạch tiền sử dâng lên trước bia. Nhà chùa cúng lễ như nghi thức, lưu truyền muôn đời. Việc làm đó càng tăng thêm vẻ đẹp của tục lệ xóm làng. Vì lẽ đó khắc lên bia để truyền về sau.

Ngày … tháng… giỗ bà hiệu là Diệu Tâm.

Ruộng 1 mảnh ở xứ Ngã Tất 1 sào 4 thước; xứ Đường Khôi 1 sào, xứ Quang Bột 14 thước và ruộng mạ 8 thước ở xứ Đường Trình, làm ruộng hương hoả.

Chú thích: 

  1. Năm Quý Mùi không được ghi với niên hiệu vua, nên khó xác định là năm nào. Song theo phong cách bia và nhất là dòng địa danh “Từ Sơn phủ Đông Ngàn huyện Phù Ninh xã” tương tự như thường gặp trên các bia khác có niên đại vào cuối thời Lê. Do vậy năm Quý Mùi này, rất có thể là năm 1763, niên hiệu Cảnh Hưng thời Lê.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 247-250

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)