Hậu phật bi kí
后佛碑記
Thác bản bia chùa Văn Tinh xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社, sưu tầm tại đình Hiệp Phù xã Phù Ninh tổng Hạ Dương huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 1 mặt, khổ 120 x 75 cm, gồm 16 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 500 chữ.
Niên đại: Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707).
Người hiệu chính: Nho học Huấn đạo Đàm Chuyết phu hiệu chính.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Nguyên văn chữ Hán
后 佛 碑 記
慈山府東岸縣協扶社官員鄉老社村長上下巨大等,爲共立後佛碑記事。
嘗謂天上有吏,時司序必能遂物成物之仁;邑中多君子賢人,必起優老敬老之俗。茲竊見本社前進功庶郎丹梁所所使黎正室阮氏事號妙清,正家訓子,擇里處仁,寬守從三,浸潤樂太平之世。年幾八十,優游登壽改之場。豈徒見效於一時,且欲芳名於萬世。所有田一所五高,坐落楊處,並使錢拾貫,詢與眾子黎氏郡、黎氏序、黎氏明、胥阮光明、林公禮、孫林公勸等,於本年五月初八日有呈詞,自願乞從祀后佛。係遞年七月二十三日良夫所使仁智黎先生忌日,五月十六日阮貴氏號妙清忌日,共二期。每期炊四盤,每盤五斗,並芭蕉一片,酒一差,芙榔一封,至是日將就文星寺供養如儀。百世不遷,萬代如見。語曰:特奉拳耳;傳曰:所好好之。因此本社大小等不謀同詞,應依所願。於此日已有敘文敬賀,茲共立石碑,以垂久遠云。繼今而後,如有何人不依其言,願天地神明其照鑒之。
皇越永盛萬萬年之三歲次丁亥十月穀日,潘百世寫。本社知縣阮公謹、訓導譚公相、縣承阮全。。儒學訓導譚拙夫校正。
Phiên âm Hán Việt
Hậu Phật bi kí
Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Hiệp Phù xã quan viên hương lão xã thôn trưởng thượng hạ cự tiểu đẳng vi cộng lập Hậu Phật bi kí sự.
Thường vị: thiên thượng hữu lại thời ti tự, tất năng toại vật, thành vật chi nhân; ấp trung đa quân tử hiền nhân, tất khởi ưu lão, kính lão chi tục. Tư thiết kiến bản xã tiền Tiến công thứ lang, Đan Lương sở Sở sử Lê Chính thất Nguyễn Thị Sự, hiệu Diệu Thanh. Chính gia huấn tử, trạch lí xử nhân khoan; thủ tông tam, xâm nhuận, lạc thái bình chi thế. Niên cơ bát thập, ưu du đẳng thọ cái chi trường. Khải đổ kiến hiệu ư nhất thời, thả dục phương danh ư vạn thế. Sở hữu điền nhất sở ngũ cao tọa lạc Đường xứ, tính sử tiền thập quan, tuân dữ chúng tử Lê Thị Quận, Lê Thị Tự, Lê Thị Minh, tế Nguyễn Quang Minh, Lâm Công Lễ, tôn Lâm Công Khuyên đẳng. Ư bản niên ngũ nguyệt sơ bát nhật, hữu trình từ, tự nguyện khất tòng tự Hậu Phật. Hệ đệ niên thất nguyệt nhị thập tam nhật, lưỡng phu sở sử Nhân Trí Lễ tiên sinh kị nhật; ngũ nguyệt thập lục nhật, Nguyễn Quý thị hiệu Diệu Thanh kị nhật. Cộng nhị kì. Mỗi kì xuy tứ bàn, mỗi bàn ngũ đấu tính ba tiêu nhất phiên, tửu nhất chai, phù lang nhất phong. Chi thị nhật, tương tựu Văn Tinh tự cúng dường như nghi. Bách thế bất thiên, vạn đại như kiến. Ngữ viết: Đặc phụng quyền nhĩ. Truyện viết: Sở hiếu hảo chi. Nhân thử bản xã đại tiểu đẳng bất mưu đồng từ, ứng y sở nguyện. Ư thử nhật dĩ hữu thuật văn kính hạ. Tư cộng lập thạch bi dĩ thùy cửu viễn văn. Kế kim nhi hậu, như hữu hà nhân bất y kỷ ngôn, nguyện thiên địa thần minh kỷ chiếu giám chi.
Thời Hoàng Việt Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi tam, tuế thứ Đinh Hợi, thập nguyệt cốc nhật, Phan Bách Thế tả.
Bản xã Tri huyện Nguyễn Công Cẩn, Huấn đạo Đàm Công Tường, Huyện thừa Nguyễn Toàn, Hương lão Nguyễn Như Trạch. Xã trưởng Phan Công Hoan, Lê Vinh, Nguyễn Văn Tú, Đàm Công Thục, Lê Thuyên, Nguyễn Công Kỷ, Nguyễn Khắc Hậu đại tiểu đẳng cộng lập.
Nho học Huấn đạo Đàm Chuyết phủ hiệu chính.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Phật
Quan viên, hương lão, xã thôn trưởng trên dưới lớn nhỏ thuộc xã Hiệp Phù huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn cùng lập bia Hậu Phật, ghi lại sự việc sau.
Thường nghe: Trên trời có quan cai quản thời vận, ắt phải biết lòng nhân cho muôn vật sinh sôi; trong ấp có bậc quân tử hiền nhân, tất xây nếp thương già kính lão. Nay thiết nghĩ bà vợ cả của ông họ Lê, nguyên là Tiến công thứ lang Đan Lương sở Sở sử, là Nguyễn Thị Sự, hiệu Diệu Thanh, sửa nhà dạy con, chọn nơi xóm làng nhân hậu, giữ đạo tam tòng cung kính; hưởng trọn niềm vui của thời thái bình. Tuổi gần 80, nhẹ gót bước lên cõi thọ. Đâu chỉ muốn thành đạt ở một thời, mà muốn lưu danh cho muôn thừa. Bà có một thửa ruộng 5 sào ở xứ Dương và 10 quan tiền, bàn với các con là Lê Thị Quận, Lê Thị Tự, Lê Thị Minh, con rể là Nguyễn Quang Minh, Lâm Công Lễ, cháu là Lâm Công Khuyên (để cúng vào chùa). Vào ngày 8 tháng 5 năm nay có tờ trình, xin phụ thờ sau Phật. Hằng năm vào ngày 23 tháng 7 là ngày giỗ của chồng là Lê Nhân Trí tiên sinh và ngày 16 tháng 5 là ngày giỗ của bà họ Nguyễn hiệu Diệu Thanh. Tất cả là 2 kỳ giỗ, mỗi kỳ sắm 4 mâm, mỗi mâm 5 đấu gạo, 1 nải chuối tiêu, 1 chai rượu, 1 phong trầu cau. Đến ngày ấy đưa tới chùa Văn Tinh cúng lễ theo như nghi thức. Trăm đời không đổi, muôn thừa như còn.
Sách Luận ngữ nói: Cung kính hết mực. Sách Truyện nói: Xử tốt với người hay. Chính vì lẽ đó mà toàn xã đồng lòng đáp lại nguyện vọng của bà. Hôm đó đã có bài văn chúc mừng. Nay cùng lập bia để truyền dài lâu. Từ nay về sau, hễ ai không theo lời ước, xin trời đất thần minh soi xét.
Ngày lành tháng 10 năm Đinh Hợi, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 3 (1707). Phan Bách Thế viết.
Tri huyện người trong xã là Nguyễn Công Cẩn, Huấn đạo Đàm Công Tường, Huyện thừa Nguyễn Toàn, Hương lão Nguyễn Như Trạch, Xã trưởng Phan Công Hoan, Lê Vinh, Nguyễn Văn Tú, Đàm Công Thục, Lê Thuyên, Nguyễn Công Kỷ, Nguyễn Khắc Hậu cùng già trẻ trên dưới lập bia. Nho học Huấn đạo Đàm Chuyết phụ hiệu chính.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 264 – 269