Hậu thần bi kí
Thác bản bia đình Hiệp Phù xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn慈山府東岸縣扶寧社下村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 110 x 60 cm, gồm 32 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 700 chữ.
Niên đại: Cảnh Hưng năm thứ 2 (1741).
Người soạn: Xã trưởng bản xã Phan Tông Nguyên soạn.
Người viết chữ: Nguyễn Quốc Du trúng thị Đô lại Lại khoa khao Kỉ Tị (1727) viết chữ.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, biểu dương việc thiện.
– Xây dựng, trùng tu di tích.
Phiên âm Hán Việt
Hậu Thần bi kí
Hiệp Phù xã Hậu Thần bi kí
Cái văn: hữu công ư dân, tất tự chi. Thử thiên lí chi đương nhiên, nhân tình chi tất nhiên, cẳng cổ kim chi sở đồng nhiên dã. Quyền tư Đông Ngạn huyện Hiệp Phù xã hữu… (bị mờ).
Minh viết:
Bỉ thương giả huyền,
Bỉ hồng giả huỳnh.
Nguyễn công công đức,
Dữ cửu dữ trường.
Phương danh bất hủ,
Lệnh dự tương vong.
Nguyễn công công đức,
Duy hình duy hưởng.
Vạn đại như hiện,
Bách thế bất vong.
Kim lai cổ vãng,
Địa cửu thiên trường.
Kê: Thanh tiền sử tiền nhị bách quan tính phi điền các sở cộng nhất mẫu thập nhị xích, phân vi kì phúc, kì lạp, kim ngân hương đăng cập tứ thời bát tiết phụng sự Hậu Thần các kì tính hữu phụ tự chi lễ…
Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi nhị, tuế tại Tân Dậu trọng xuân cốc nhật. Xã trưởng Phan Tông Nguyên soạn. Kỷ Tỵ khoa thi trúng Lại khoa Đô lại Nguyễn Quốc Du tả.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia Hậu Thần
Bia Hậu Thần xã Hiệp Phù
Thường nghe: Người có công với dân tất được phụng thờ. Đó là lẽ đương nhiên của tạo hoá, là sự hiển nhiên của tình người mà từ cổ chí kim đều như vậy cả. Kính thay! Xã Hiệp Phù huyện Đông Ngạn ta có vị Nguyễn công… (bị mờ).
Bài minh rằng:
Rạng rỡ là trời
Ngời ngời là đất
Công đức Nguyễn công
Càng lâu càng rạng
Tiếng thơm bất hủ
Lời khen muôn ngả
Công đức Nguyễn công
Khói nhang thờ cúng
Muôn đời như tại
Ngàn kiếp chẳng quên
Ngày qua tháng lại
Thọ tựa đất trời.
Kê:
– Tiền xanh 200 quan và ruộng tốt ở các xứ sở là 1 mẫu 12 thước, phân làm lễ cầu phúc, giỗ chạp, lo giấy tiền, đèn dầu cho các tuần tiết trong năm và phụng thờ Hậu Thần. Các kì tế lễ đều được phụ hưởng cúng lễ.
– Xứ Đường Khôi: gồm các thửa 1 sào 3 thước, 1 sào 10 thước, 1 sào 7 thước, 1 sào 3 thước và 1 sào 2 thước.
– Xứ Quang Bột: gồm 1 thửa 3 sào 4 thước. Lại xứ Đường Khôi 1 thửa 12 thước. Ruộng này giao cho thủ từ cày cấy để lo giấy tiền, đèn dầu tương đương 3 mạch 20 văn sử tiền cho mỗi kì tế lễ.
– Ruộng để làm lễ cầu phúc là 2 sào, mỗi sào sắm 2 mâm, tổng cộng là 4 mâm, mỗi mâm gạo nếp 5 đấu, gà 1 con giá 1 mạch 30 văn sử tiền, rượu 1 chai, cau trầu 10 miếng. Lễ nghênh Thần thì sắm 1 cỗ thờ Thần, 1 cỗ thờ Hậu Thần như lệ tống Thần.
– Ruộng giỗ gồm 4 sào, mỗi sào sắm 2 cỗ, cộng là 8 cỗ, mỗi cỗ 5 đấu gạo nếp, 1 con gà giá 1 mạch 30 văn tiền sử, 1 chai rượu, 10 miếng cau trầu giống như lệ cúng chạp. Hai kì giỗ chạp, mỗi kì thờ Thần 2 cỗ. Quan viên, tư văn, bồi bái ăn mặc tề chỉnh hành lễ. Lễ xong, biếu quan viên, tư văn, bồi bái 2 cỗ, trưởng tộc 1 cỗ, còn lại 5 cỗ thì những người trong xã có mặt tại đó thụ lộc.
Toàn xã quan viên hương lão trên dưới có chức danh xin kê ra sau đây:
Phan Tông Nguyên (xã trưởng), Nguyễn Như Hiển (trở xuống là hương lão), Lê Cao Dự, Phan Tông Hoàn, Phạm Vị, Lâm Công Hiển, Nguyễn Tông Trạch, Nguyễn Nghị, Nguyễn Danh Nho, Nguyễn Đình Trâm, Lâm Duy Hoàn, Đàm Thời Giai, Nguyễn Đạt, Nguyễn Thạc Đại, Nguyễn Bá Thuyên, Nguyễn Khắc Tuấn (xã trưởng), Phan Quốc Tiến (xã trưởng), Lâm Quốc Dung, Phan Quốc Quy, Phan Công Thắng, Nguyễn Đức Cẩn và toàn xã cùng kí.
Ngày lành tháng trọng thu năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 2 (1741). Xã trưởng bản xã Phan Tông Nguyên soạn, Nguyễn Quốc Du trúng thí Đô lại Lại khoa khoa Kỉ Tị (1727) viết chữ.
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 373 – 376