Vĩnh bảo bi kí
永報碑記
Thác bản bia Thạch Sàng xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣寧江社, sưu tầm tại xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 4 mặt, khổ 120 x 25 cm, gồm 24 dòng chữ Hán, chạm hổ phù.
Niên đại: Chính Hòa năm thứ 22 (1701).
Người soạn: Vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1685) họ Vũ¹, chức tri Bồi tòng Lễ khoa Đô cấp sự trung, người xã Đan Luân huyện Đường An phủ Thượng Hồng soạn văn bia.
Người viết: Xã trưởng Nguyễn Công Thuật viết chữ.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Thơ văn.
Nguyên văn chữ Hán
永 報 碑 記
碑所以鐫珉勒跡,俾人心銘刻之無窮也。
茲者扶寧上村勝一隊侍內監司禮監左少監強銘侯逢斯朝,既荷君恩,處仁里彌深後慮,不惜家財,惠許村邑錢一百十貫,田十五高。本村倪旄感此恩厚愛,相立約。
係公百年之後,遞年依時忌臘就生祠處敬祭如儀,以明桃李之當然,以存瓊琚之有永。約成,遂銘于石,用壽其傳雲。
計。。。
皇朝正和萬萬年之二十二歲在辛巳仲夏穀日立
賜乙丑科第一甲進士及第第三名知陪從禮科都給事中洪安丹輸武樸甫撰 社長阮公述寫。
Phiên âm Hán Việt
Vĩnh bảo bi kí
Bi sở dĩ thuyên mẫn lặc tích, tí nhân tâm minh khắc chi vô cùng dã. Tư giả Phù Ninh Thượng thôn Thắng nhất đội Thị nội giám, Ti lễ giám Tả thiếu giám Cường Minh hầu; phụng tư triều, kì hà quan ân, xử nhân lí di thâm, hậu lự bất tích gia tài, huệ hứa thôn ấp tiền nhất bách thập quan, điền thập ngũ cao. Bản thôn nghệ mao cảm thử ân hậu, viên tương lập ước.
Hệ công bách niên chi hậu, đệ niên y thời kì lạp, tựu sinh từ xứ, kính tế như nghi, dĩ minh đạo lí chi đương nhiên, dĩ tôn quỳnh cư chi hữu vĩnh. Ước thành, toại minh vu thạch, dụng thọ kì truyền văn.
Kê:
Hoàng triều Chính Hoà vạn vạn niên chi nhị thập nhị, tuế tại Tân Tỵ trọng hạ cốc nhật lập. Tứ Ất Sửu khoa Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh, tri Bồi tòng Lễ khoa Đô cấp sự trung, Hồng An Đan Luân Vũ Phác phủ soạn. Xã trưởng Nguyễn Công Thuật tả.
Dịch nghĩa tiếng Việt
Bia ghi việc báo đáp muôn thừa
Làm bài văn bia để khắc lên đá cứng, ghi lại công tích, khắc sâu vào lòng người mãi mãi. Nay ở thôn Thượng xã Phù Ninh có vị Cường Minh hầu làm Tả thiếu giám ở Thắng nhất đội Thị nội giám Ti lễ giám, thân cận trong cung, từng được ân huệ vua ban, nhưng tình nghĩa xóm làng vẫn sâu đậm. Ông chẳng tiếc tiền của gia tư, ban phát cho dân ấp 110 quan tiền và 15 sào ruộng. Dân ấp hết đỗi cảm kích ân nghĩa sâu nặng này, liền bàn nhau lập giao ước rằng: Sau khi ông trăm tuổi, hằng năm theo ngày giỗ chạp, tế tự trước sinh từ tế lễ đúng nghi thức để tỏ rõ lẽ đền ơn báo nghĩa vậy và truyền lại mãi mãi. Lời ước đã thành, bèn khắc lên đá để lưu truyền dài lâu.
Kê: Ngày giỗ 28 tháng 8 xôi 7 mâm, mỗi mâm 7 đấu gạo, gà 1 con tương đương 1 mạch 30 văn tiền sử, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong. Lễ xong, phát cho các giáp 5 mâm, tư văn 1 mâm, thôn trưởng 1 mâm.
Ngày chạp mồng 8 tháng 12, xôi 7 mâm, mỗi mâm 7 đấu gạo, gà 1 con tương đương 1 mạch 30 văn sử tiền, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong. Lễ xong, phát lộc y như lễ giỗ.
Ruộng hương hoả 1 sào. Hằng năm đến giáp nào đảm nhận cày cấy thì dâng đèn nhang, tế khí, giấy tiền, chiếu lễ, dầu nước đủ dùng. Nếu ai để khiếm khuyết, sẽ có Thần Phật chứng giám. Cam kết đó coi là lệ truyền mãi về sau.
Số tiền và ruộng cấp cho dân, cũng như họ tên quan viên hương lão xã thôn trưởng trên dưới kê ra sau đây:
Sử tiền 110 quan, ruộng tốt 1 mẫu 5 sào. Xứ Đồng Lương 1 sào rưỡi, xứ Đồng Sào 1 sào rưỡi, xứ Đồng Sào 4 sào, xứ Rộc Dư 1 sào rưỡi, xứ Đồng Lương 2 sào rưỡi, xứ Thủy Độc 1 sào rưỡi, xứ Bãi Càn 1 sào rưỡi, xứ Thủy Độc 1 sào.
Đồng Tri phủ Trần Đắc Cẩm, Nguyễn Đức Xuân, Tri huyện Thạch Duy Nguyên, Huấn đạo Nguyễn Đức Diên, Giám sinh Thạch Duy Minh, Thạch Công Thân, Thạch Duy Cơ, Nguyễn Tự Hoàng, Nguyễn Đình Bồi, Xã trưởng Nguyễn Hữu Chí, Nguyễn Khắc Đài, Nguyễn Đình Bình, Ngô Thế Thọ, Nguyễn Nhân Vực, Nguyễn Hữu Tiên, Nguyễn Tất Quý, Nguyễn Hữu Công, Nguyễn Văn Quốc, Thạch Công Bật, Tạ Tiến Pháp, Nguyễn Hữu Di, Nguyễn Khắc Thứ, Nguyễn Văn Đăng, Nguyễn Công Đình, Nguyễn Thụ Đoan, Nguyễn Thụ Đăng, Tạ Đình Lệnh, Nguyễn Hữu Đình, Nguyễn Như Ngọc, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Khắc Hiến, Nguyễn Hữu Bảo, Nguyễn Khắc Thiệu.
Lập bia ngày lành tháng trọng hạ (tháng 5) năm Tân Tỵ, niên hiệu Chính Hoà 22 (1701). Vị Tiến sĩ khoa Ất Sửu (1685) họ Vũ1, chức tri Bồi tòng Lễ khoa Đô cấp sự trung, người xã Đan Luân huyện Đường An phủ Thượng Hồng soạn văn bia. Xã trưởng Nguyễn Công Thuật viết chữ.
Chú thích
Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 384 – 391