Lưu Hậu bi ký

Lưu Hậu bi ký

Thông tin cơ bản

Lưu Hậu bi ký
永報碑記
Thác bản bia Thạch Sàng xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣寧江社, sưu tầm tại xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 85 x 60 cm, gồm 41 dòng chữ Hán, mặt sau bị mờ nhiều, chạm mặt trời, dây leo.
Niên đại: Không ghi
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.
– Hành trạng, công tích nhân vật.
– Thơ văn.

Phiên âm Hán Việt

Lưu Hậu bi kí

Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi tam thập thất. Vương phủ Thị nhũ Quận phu nhân Nguyễn Thị Bảy, Từ Sơn, Đông Ngạn, Phù Ninh kì quán chi dã. Thiêm do đĩnh tộc quý phiến hằng tâm, nhất cảnh phần du, hạt tằng hữu huệ trạch chi phiếm. Cập giả cư ý Thượng thôn lão thiểu quần hữu hãn mộ chi tình.

Nãi ư Giáp Ngọ đông, quan viên, hương lão, xã giáp trưởng thượng hạ hội vu bản giáp hiệp bảo vi tôn tự, cập tiên thân phụ Hiển khảo Từ Thọ hầu, Hiển tỉ hiệu Từ Khánh, thân phu Hoàng Trạch hầu, thân tử tự Trĩ Túc đẳng chư chân linh. Nhất thế thỉnh bảo vi Tôn công, Tôn tỉ chính dục nhất môn hương hoả, điền khánh trạch ư vô cùng. Chiếu kiến bảo từ lương tri hậu ý. Nhưng yết xuất gia tư cổ tiền nhất bách ngũ thập quan, tư bản thôn lí tác bản miếu phụng sự. Đồ tôn dư, các giáp quân phân thượng hạ sự đình khả bất nhân nhân tính nhi tri, tuế thời hương tự dĩ vi cửu viễn chi thâm, lự hồ? Nãi lưu trí tự điền tại bản xã địa phận các xứ sở, tính dĩ quan xích vi chuẩn, tỉ bản thôn luân canh dụng cúng các kì lạp, vĩnh vi tự điền. Giả hào đế sự, khải khả cấu nhiên. Dục thọ kì truyền, viên lặc vu thạch.

Tiền Tiến công thứ lang Thần Sách vệ Tri bạ, phong tặng Triều liệt đại phu Tuyên Quang xứ Tán trị thừa chính sứ ti Thừa chánh sứ, Từ Thọ hầu Nguyễn tướng công tự Thọ Hanh, thụy Trực Tín, bát nguyệt nhị thập tam nhật chính kị…

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia lưu truyền Hậu Phật

Vào năm Cảnh Hưng 37 (1776), bà Quận phu nhân làm Thị nhũ ở vương phủ là Nguyễn Thị Bảy, quê quán tại xã Phù Ninh huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn. Gia đình bà một gia tộc lớn, muốn hằng tâm giúp cho quê hương, lẽ nào không ban phát ân trạch? Già trẻ thôn Thượng đều hết đỗi mừng vui.

Vào mùa đông năm Giáp Ngọ (1774), quan viên, hương lão, xã giáp trưởng trên dưới cùng hội họp ở miếu của giáp, tưởng nhớ vong linh của gia đình bà là cha chồng: Hiển khảo Từ Thọ hầu, mẹ chồng là Hiển tỉ hiệu Từ Khánh, chồng bà là Hoàng Trạch hầu và con trai bà tự là Tri Túc. Trước nhất tôn bầu tôn công (chồng) và tôn tỉ (vợ) làm Hậu Phật, đèn nhang thờ cúng, phúc khánh vô cùng; sau nữa làm giao ước để tỏ rõ lòng thành ý đẹp. Bà đã bỏ tiền của gia tư là 150 quan tiền cổ giúp cho thôn tu sửa miếu phụng thờ. Số còn lại, các giáp chia đều trên dưới. Lòng người đã định, năm tháng thờ cúng để giữ mãi ân tình. Bà còn lưu lại ruộng thờ ở các xứ sở trong xã được đo đạc lại giao cho thôn luân chuyển cày cấy, lo cúng lễ các kì giỗ chạp, mãi mãi làm thành điền lệ thờ cúng. Việc tốt đẹp như vậy, lẽ nào lại sơ sót được sao? Do vậy cho khắc lên đá, lưu truyền dài lâu.

– Ngày giỗ của vị nguyên là Tiến công thứ lang, Tri bạ vệ Thần Sách, phong tặng là Triều liệt đại phu, Tán trị thừa chánh sứ ti Thừa chánh sứ xứ Tuyên Quang Nguyễn Tướng công, tự Thọ Hanh, thụy Trực Tín, tước Từ Thọ hầu, giỗ chính ngày 23 tháng 8.

– Ngày giỗ của bà Chính thất vị Nguyễn Tướng công tự Thọ Hanh, thụy Trực Tín, nguyên là Tiến công thứ lang, Tri bạ vệ Thần Sách, phong tặng là Triều liệt đại phu, Tán trị thừa chánh sứ ti Thừa chánh sứ xứ Tuyên Quang, tước Từ Thọ hầu, là Nguyễn Quý thị, hiệu Từ Khánh, giỗ chính ngày 27 tháng 4.

– Ngày giỗ của vị Nguyễn Tướng công tự Thọ Hoàng, thụy Đôn Thiện, nguyên là Tú lâm cục Nho sinh, phong tặng là Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, tước Hoàng Trạch hầu giỗ chính ngày 18 tháng 2.

– Ngày giỗ của bà chính thất của vị Nguyễn Tướng công tự Thọ Hoàng, thụy Đôn Thiện, nguyên là Tú lâm cục Nho sinh, phong tặng là Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, tước Hoàng Trạch hầu, là bà Vương phủ Thị nhũ Quận phu nhân Nguyễn Quý thị, hiệu Từ Nhân, giỗ chính ngày 11 tháng 121.

– Ngày giỗ của vị Nguyễn Tướng công tự là Tri Túc, thụy Bình Di, nguyên là Mậu lâm tá lang kiêm tri thị nội thư tả Hộ phiên, Tri phủ phủ Tam Đới, giỗ chính ngày 27 tháng 7.

Ruộng giỗ bao nhiêu sào, thước và ở các xứ đồng, cùng cỗ bàn, thể lệ cúng tế ngày giỗ chạp, kê ra sau đây:

– Ruộng giỗ của Vương phủ Thị nhũ Quận phu nhân ở xứ Đồng Sau: 1 mảnh 11 thước 3 tấc, 1 mảnh 13 thước, xứ Lỗi 2 sào rưỡi, lại 1 mảnh 2 sào, 1 mảnh nửa sào; xứ Cầu Dưới 1 sào 8 thước 2 tấc, xứ Đường Cạn 1 sào 12 thước 9 tấc. Mỗi sào cúng xôi 1 mâm tương đương 8 đấu gạo nếp ngon, gà 1 con, cau trầu 10 miếng, rượu 1 chai, giấy tiền 100 tờ. Ngày giỗ thì 9 mâm, ngày chạp thì 1 mâm.

– Ruộng giỗ của Từ Thọ hầu 5 mảnh ở xứ Rộc Trà, 1 mảnh 1 sào 10 thước 2 tấc, 1 mảnh 1 sào 4 thước, 1 mảnh 1 sào 8 thước, 1 mảnh 11 thước 3 tấc, 1 mảnh 1 sào 5 tấc, cộng là 6 sào 1 thước 8 tấc. Mỗi sào xôi 1 mâm tương đương 5 đấu gạo nếp thu, gà 1 con giá 50 văn tiền cổ, cau trầu 10 miếng, rượu 1 chai giá 10 văn tiền cổ, giấy tiền 100 tờ. Ngày giỗ 5 mâm, ngày chạp 1 mâm.

– Ruộng giỗ của vị hiệu là Từ Khánh gồm 3 mảnh ở xứ Rộc Trà, 1 mảnh 2 sào 12 thước 3 tấc, 1 mảnh 2 sào 1 thước 3 tấc, 1 mảnh 1 sào 2 thước 9 tấc, cộng là 6 sào 1 thước 5 tấc. Mỗi sào 1 cỗ giỗ, 5 cỗ cúng chạp. Xôi, gà, rượu, cau trầu, giấy tiền, giống như lệ cúng Từ Thọ hầu.

– Ruộng giỗ Hoàng Trạch hầu 5 mảnh ở xứ Thì Độc: 1 mảnh 1 sào 5 thước 5 tấc, 1 mảnh 1 sào 4 thước, 1 mảnh 9 thước 8 tấc, 1 mảnh 1 sào 6 thước 8 tấc, 1 mảnh 1 sào 6 thước, cộng là 6 sào 2 thước 1 tấc. Mỗi sào xôi 1 cỗ, dùng 6 đấu gạo nếp vụ đông, gà 1 con giá 1 mạch tiền cổ, rượu 1 chai giá 12 văn, cau trầu 10 miếng, giấy tiền 100 tờ. Lễ giỗ 5 cỗ, lễ chạp 1 cỗ.

– Ruộng giỗ vị có tên tự là Tri Túc gồm 7 mảnh ở xứ Đồng Mãn: 1 mảnh 12 thước 5 tấc, 1 mảnh 14 thước 2 tấc, 1 mảnh 11 thước 5 tấc, 1 mảnh 14 thước 7 tấc, 1 mảnh 10 thước 5 tấc, 1 mảnh 1 sào 3 tấc, 1 mảnh 12 thước 2 tấc, cộng là 6 sào 9 tấc. Mỗi sào, xôi 1 cỗ, dùng 8 đấu gạo nếp vụ đông, gà 1 con giá 1 mạch tiền cổ, rượu 1 chai giá 12 văn tiền cổ, cau trầu 10 miếng, giấy tiền 100 tờ. Lễ giỗ 5 cỗ, lễ chạp 1 cỗ.

Hằng năm, vào các kì cúng giỗ, thôn nào đến lượt cày cấy ruộng, sắm cỗ bàn tinh khiết, dâng lên bản miếu từ sáng sớm. Trước tiên là 1 cỗ đặt trước sinh phần, sau đó các cỗ khác dâng lên miếu. Trong thôn chọn trong xã thôn giáp trưởng một người, ăn mặc tề chỉnh làm trưởng tế, số khác làm bồi bái, tế tự trước Thánh vị, hành lễ. Quan viên tư văn trong thôn ứng tế như nghi thức. Lễ xong, biếu quan viên tư văn, ứng tế 1 cỗ, chiếu theo số người mà chia đều. Số còn lại quan viên tư văn xã giáp trưởng, hương lão, đinh nam trên dưới cùng thủ từ có mặt tại đó thụ lộc.

Chú thích

  1. Ngày giỗ: 11 tháng 12 này được khắc thêm sau khi bà Thị nhũ này mất. Nét chữ khắc của mấy chữ này khác với những chữ khắc trong văn bia và tháng 12 khắc nhầm thành tháng 13.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 397 – 402.

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)