Hậu thần bi kí

Hậu thần bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí
後佛碑記
Thác bản bia xã Phù Ninh tổng Hạ Dương 夏陽總扶寧社, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 44 x 134 cm và 44 x 90 cm, gồm 79 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1400 chữ, không có hoa văn, có chữ húy: Cửu , Tân .
Niên đại: Long Đức thứ 2 (1733).
Người soạn: Phạm [Khiêm Ích] 范謙益, tên tự: Kính Trai; học vị: Tiến sĩ khoa Canh dần; chức vị: Binh bộ Thượng thư, Thiếu bảo; tước Thuật Quận công.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.

Nguyên văn chữ Hán

後 佛 碑 記

慈山府東岸縣公亭社官員斯文鄉老社村長上下等

奉事本總扶寧社特進金紫榮祿大夫侍允宮中左象兼內左象等隊僉知侍內書寫刑番侍近侍內監司禮監總太監侯爵贈特進輔國上將軍都指揮使司都指揮使牲郡公阮相公字陶論號福壽賜諡果敏後神碑記並銘

記曰:有功德於民則祀之,能捍大災則祀之,其禮之當然乎!

謄惟令公鐵石肝腸,冰霜志操。算法精通,其才敏;兵機奮勵,其志雄。方青年時,早聯侍近班首,登書算選。周旋禁闈,密接清光。出納王言,疊蒙眷寵。時而冷水艘,提飛騎,內差司戶版之要機;時而官左象,特允宮,僉知蒞刑番之顯秩。錫爵身聯圭組,榮封蔭及椿臺。大洒餘波于鄰壤,公亭其鄰壤也。公既貺以古錢貳百貫、肥田參拾高,又惠以良材六十株,供條理大亭。

一邑之人咸德之,乙巳年相率保公爲本土後神,期以百世齊嘗,四時奉祀。其欲豎碑以記此功德,其事倏忽十五年間。公以蒙寇之肆狂,任征而攸牲,間關百戰,累奏盧公閥。己未庚申二年,而公之忠烈一心,橫秋貫日矣!公如此功,如此德,而其節義又如此,心乎愛矣,何以卑之?與其銘心刻骨,永矢弗援,曷若伐石篆辭,長留不朽!一以妥義馨於九泉,一以勒彌彰於萬古。歲時香火,世世相承,庶表厚誼之萬一也。遂徵文於予,以誌其實。予亦美公之德,而有感於仁里之厚俗,因不吝此毫,付出刻堅珉,以壽其傳云。銘曰:

國之近臣
家之令子
密接龍光
連提虎旅
高官顯秩
華轂朱輪
惠覃族姓
澤俠鄉鄰
師出有功
節持不屈
勁气橫衝
精忠貫日
九重榮贈
萬古芳名
百年香火
金石長銘

黎朝景興參年歲在壬戌仲春穀日造

賜己未科進士茂林佐郎韓林院待制藝安天祿武琰甫撰

Phiên âm Hán Việt

Hậu Thần bi kí

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Công Đình xã quan viên, tư văn, hương lão, xã thôn trưởng thượng hạ đẳng, phụng sự bản tổng Phù Ninh xã, Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thị đoán cung trung Tả tượng kiêm Nội tả tượng đẳng đội Thiêm tri Thị nội thư tả, Hình phiên Thị cận thị nội giám, Ti lễ giám Tổng thái giám, hầu tước, phong tặng Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, Tĩnh Quận công Nguyễn tướng công, tự Đào Luận hiệu Phúc Thọ, tử thụy Quả Mẫn Hậu Thần bi kí tính minh.

Kí viết: Hữu công đức ư dân, tắc tự chi; năng hãn đại tai, tắc tự chi. Kì lễ chi đương nhiên hồ? Quyền duy Lệnh công thiết thạch can tràng, băng sương chi tháo, toàn pháp tinh thông. Kì tài mẫn bình cơ, phấn lệ; kì chí hùng phương. Thanh niên thời, tảo liên thị cận ban thủ, đẳng thư toán tuyển, chu toàn cẩn nhuận, mật tiếp thanh quang, xuất nạp vương ngôn, lũy mông quyến sủng. Thời nhi lãnh thùy… (lược một số câu phiên âm).

Minh viết:

Quốc chi cận thần
Gia chi lệnh tử
Mật tiếp long quang
Liên đề hổ lữ
Cao quan hiển trật
Hoa cốc chu luân
Huệ đàm tộc tính
Trạch hiệp hương lân
Sự xuất hữu công
Tiết trì bất khuất
Kinh kì hoành xung
Tĩnh trung quán nhật
Cửu trùng vinh tặng
Vạn cổ phương danh
Bách niên hương hoả
Kim thạch trường minh.

Hoàng Lê triều Cảnh Hưng tam niên, tuế tại Nhâm Tuất thu cốc nhật. Tứ Kỉ Mùi khoa tiến sĩ, Mậu lâm tá lang Hàn lâm viện Đãi chế Nghệ An Thiên Lộc Vũ đạm phủ soạn.

Lưu truyền vạn đại. Kê:

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Bài kí và bài minh ghi về việc quan viên, tư văn, hương lão, xã thôn trưởng xã Công Đình huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn phụng thờ vị Hậu Thần người xã Phù Ninh trong tổng là Nguyễn tướng công tự Đào Luận hiệu Phúc Thọ, nguyên là Đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Thị đoán cung trung Tả tượng kiêm Nội tả tượng đẳng đội Thiêm tri thị nội thư tả Hình phiên thị cận thị nội giám ti lễ giám Tổng thái giám, tước hầu; phong tặng là Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, tước Tĩnh Quận công, ban tên thụy là Quả Mẫn.

Lễ Kí viết rằng: Người có công đức với dân, tất được phụng thờ; ai giúp dân trừ hạn hoạn, hẳn cũng được phụng thờ. Đó là cái lẽ đương nhiên vậy. Kính thay! Lệnh công là người chí khí kiên cường, tiết tháo mẫu mực, tinh thông toán pháp, có tài dùng binh, nuôi chí vẫy vùng tứ phương. Lúc trai trẻ, sớm được vào cung nội, trúng tuyển vào môn thư toán, dần dà được vào cấm cung biên chép lời quân vương. Được vua ân sủng, giao lo việc cơ yếu ở Thụy sưu đệ phi kị nội sai ti hộ bản. Rồi lại được cai quản Tả tượng thị đoán cung Thiêm tri lị Hình phiên. Nhờ đó mà trật cao, tước trọng. Giàu sang phú quý mà không quên ban ân trạch cho xóm làng và dân lân cận. Vì thế Công Đình ta cũng được ơn nhờ ngài. Ngài đã cấp 200 quan tiền cổ và 30 sào ruộng tốt, lại cho 60 cây gỗ lim để sửa lại toà đại đình. Mọi người trong thôn ấp đều cảm kích trước ân đức ấy của ngài. Vào năm Ất Tỵ (1725), dân làng cùng tôn bầu ngài làm bản thổ Hậu Thần, nguyện sẽ ghi nhớ suốt đời, quanh năm cúng lễ. Vì vậy dựng bia để ghi lại công đức này.

Mười năm năm sau, khi ngài được sai đi dẹp loạn, xông pha trăm trận trong những năm Kỉ Mùi và Canh Thân1, và đã hy sinh. Triều đình ban thưởng lòng trung nghĩa của ngài, tặng thêm chức là Đô sứ và tước là Quận công. Thật là lúc sống thì rạng rỡ, lúc chết thì vinh quang, quả là bậc kiệt xuất vậy. Xã ta cảm kích trước nghĩa tình của ngài, ngẫm nghĩ về lòng nhân hậu của ngài mà cùng bàn với nhau rằng: Ngài có công đức như vậy, tiết tháo như vậy, lại có tấm lòng nhân ái như vậy, lẽ nào chúng ta không ghi tâm khắc cốt? Vì thế mà cho tạc bia, khắc lại để truyền dài lâu, cũng là để thơm tho tiết nghĩa nơi suối vàng, để rạng rỡ muôn thừa và hằng năm cúng lễ mãi mãi. Làm như vậy cũng chỉ đền đáp được muôn một. Nay nhờ tôi làm bài văn ghi lại sự thực, vừa để ghi nhớ công đức của ngài, vừa là làm đẹp thêm phong tục tốt đẹp của xóm làng. Nay ghi lại.

Bài minh rằng:

Cận thần của nước
Con hiếu của nhà
Gần chốn bệ rồng
Cai quản quân sĩ
Quan cao lộc lớn
Rạng rỡ uy danh
Ân ban tộc họ
Trạch phát xóm giềng
Cầm quân thắng lợi
Tiết tháo ngoan cường
Hiên ngang tinh khí
Báo quốc trung thần
Vua phong tước trật
Muôn thừa danh thơm
Ngàn năm hương hoả
Vững bền bài minh.

Ngày lành tháng trọng xuân năm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 3 (1742).

Vị tiến sĩ khoa Kỉ Mùi (1739) họ Vũ, chức Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện Đãi chế, người huyện Thiên Lộc, Nghệ An soạn văn bia.

Vạn đại lưu truyền

– Cổ tiền 200 quan.

– Gỗ lim 62 cây để làm lại toà đại đình.

– Ruộng tốt 3 mẫu, phân làm các tiết phụng thờ hương hoả. Hằng năm đến kì cúng giỗ, chạp, cúng tế như nghi thức. Kê rõ ra sau đây:

Ruộng ở xứ Khu Diễn 1 mảnh 2 mẫu 1 sào 13 thước, 1 mảnh 1 sào, 1 mảnh 1 sào rưỡi, 1 mảnh 13 thước, 1 mảnh 11 thước, 1 mảnh 1 sào 2 thước, 1 mảnh 2 sào 2 thước. Xứ Đường Khôi 1 mảnh 10 thước.

Phụng thờ bài vị Hậu Thần

Ruộng nhập tịch, kì phúc gồm 1 mẫu 8 sào. Hằng năm vào các kì lễ nhập tịch, cầu phúc, quan viên tư văn, xã thôn trưởng chuẩn bị đầy đủ nghi lễ, cờ quạt, cỗ bàn dâng lên từ đường cúng tế, sau đó rước bài vị dâng lên đình.

Ruộng giỗ 8 sào, vào ngày 13 tháng 5 là ngày giỗ chính, sắm 8 mâm cỗ, mỗi cỗ 6 đấu gạo nếp, 1 chai rượu, 1 phong cau trầu, cùng lễ vật dâng lên từ đường. Quan viên, tư văn, xã thôn trưởng ăn mặc tề chỉnh đến tế lễ như nghi thức.

Ruộng chạp 4 sào, hằng năm vào ngày cúng chạp ngày 13 tháng 12, sắm 4 cỗ, dâng lên từ đường cúng lễ như nghi thức cúng giỗ.

Quan viên, tư văn, hương lão, xã thôn trưởng trong xã gồm:

Thạch Quốc Dương, Nguyễn Quốc Thể, Thạch Quốc Tín, Nguyễn Tiến Nhuận, Thạch Quốc Hoàng, Ngô Đức Trinh, Thạch Tông Nguyên, Nguyễn Tiến Xuân, Trần Nho Chấn, hương lão Nguyễn Khắc Dung, Lâm Viết Dụng, Trần Danh Yên, Nguyễn Duy Tạo, Nguyễn Miễn Hành, Thạch Công Đễ, Lâm Viết Phú, Nguyễn Tiến Khanh, Đinh Công Miễn, Nguyễn Viết Thành, Lâm Viết Sản, thôn trưởng Nguyễn Đức Huyền, Nguyễn Văn Hữu, Nguyễn Hữu Hân, Lâm Đạo Đa, Trần Đức Toàn, Nguyễn Văn Hi, Nguyễn Viết Quý, Thạch Quốc Ích, Đinh Tiến Thiết, Lâm Tiến Khánh cùng toàn thể trên dưới kí bầu.

Chú thích

  1. Kỷ Mùi và Canh Thân có lẽ là năm 1739 và 1740, là những năm mà phong trào nông dân nổi lên lan tràn khắp nơi, như Nguyễn Truyển, Nguyễn Cừ, Vũ Trác Oánh ở Hải Dương, Hoàng Công Chất, Vũ Đình Dung ở Sơn Nam, Tế Bồng, Nguyễn Danh Phương ở Sơn Tây. Xem, Phan Huy Lê, Chu Thiên… trong Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Nxb. Giáo dục, 1960, tr. 211.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 443 – 450..

Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)