Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Đồng Quang tên chữ là Đồng Quang tự, tọa lạc tại số 15 phố Tây Sơn, phường Đống Đa, đối diện khu di tích gò Đống Đa, Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Lịch sử
Theo văn bia Vô đề lập năm Tự Đức thứ 9 (1856) hiện đang dựng tại Nhà Địa Tạng của chùa cho biết đất chùa Đồng Quang ban đầu vốn là khu mộ có điện thờ dùng để tế lễ các vong hồn tử trận, được lập vào khoảng những năm 1840 – 1847, dưới triều vua Thiệu Trị. Thời điểm ấy, Tổng đốc Hà Nội Đặng Văn Hòa đã cho thu nhặt và cải táng các hài cốt chiến sĩ hy sinh hợp táng thành mười hai gò mộ, rồi dựng một mộ điện để tế lễ cô hồn tử sĩ. Sở dĩ nơi đây được chọn vì xưa kia là chiến trường ác liệt trong cuộc đại thắng đầu năm Kỷ Dậu (1789) của nghĩa quân Tây Sơn chống quân Thanh xâm lược.
Đến năm Tân Hợi (1851), niên hiệu Tự Đức thứ 4, khi Kinh lược sứ Nguyễn Văn Giai cho mở đường và lập chợ trong vùng đã phát hiện nhiều hài cốt còn sót lại. Ông liền cho thu gom, đắp thành một gò mộ mới, đồng thời kêu gọi các nhà hảo tâm quyên góp để dựng thêm vài gian nhà tế lễ, tưởng niệm những vong hồn cô quả chưa được thờ phụng. Theo văn bia Đồng Quang tự bi ký (1916) ghi chép lại lịch sử chùa, chính trong dịp ấy (1851) chùa Đồng Quang được khởi sáng, công việc xây dựng kéo dài từ tháng 2 đến tháng 6 thì hoàn thành. Thời gian này, Hà Nội bị vỡ đê, có mấy pho tượng Phật trôi dạt đến, mọi người đều cho rằng ứng với việc làm chùa mới; sau đó sư các chùa cúng thêm 6 pho nữa, dân làng đặt tượng thờ và gọi là chùa Đồng Quang (chùa của 2 trại Nam Đồng và Thịnh Quang).
Cũng theo văn bia Đồng Quang tự bi ký (1916), vào năm Mậu Tý, niên hiệu Đồng Khánh (1886), chùa tiếp tục được tu bổ để mở rộng quy mô thờ tự. Đến ngày 4 tháng 3 năm Ất Mão, niên hiệu Duy Tân (1915), chùa được trùng tu lớn, và công trình hoàn thành ngày 4 tháng 2 năm Bính Thìn (1916) với sự đóng góp tiền của của các quan chức trong vùng, cùng sự phát tâm công đức của sư bà tự Nguyên Nhâm. Sư bà mới về trụ trì chùa là người đứng ra trông coi, xuất tiền trùng tu và hoàn thiện ngôi chùa.
Thế hệ các sư trụ trì
Từ năm 1915 đến nay, chùa Đồng Quang là nơi trụ trì của các vị Ni sư thuộc Sơn môn Bà Đá:
- Ni trưởng Nguyên Nhâm về trụ trì chùa từ năm 1915, đã xuất tiền và đứng ra trông coi việc trùng tu chùa năm 1915 – 1916. Ni trưởng từng trụ trì chùa Am Cửa Bắc (Phổ Quang tự), ngõ 29 phố Cửa Bắc – đây cũng là một tổ đình lớn của sư Ni Hà Nội.
- Ni trưởng Đàm Tiến hiệu Giản Minh, Thích Thản Thản.
- Ni sư Đàm Luân và Ni sư Đàm Nghĩa.
- Tỷ khiêu Ni Đàm Nền.
Kiến trúc cảnh quan
Hiện nay, kiến trúc chùa Đồng Quang được bố cục thành hai khu vực: Chùa Chính và khu tự đàn. Trong đó, tự đàn là nơi thờ phụng các anh hùng, nghĩa sĩ đã hy sinh trong trận Đống Đa lịch sử. Chùa chính có mặt bằng kiến trúc hình chữ “Đinh” (丁), quay về hướng Nam. Toàn bộ công trình gồm các hạng mục: Tam Quan, Tiền Đường, Thượng Điện, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Tả vu, Vườn Tháp cùng nhiều công trình phụ trợ khác.
Hiện vật
Hiện chùa còn lưu giữ hơn 30 pho tượng Phật cổ cùng nhiều di vật quý giá có giá trị lịch sử và nghệ thuật: 8 bia đá: Vô đề (1856), Đồng Quang tự điền bia ký (1859?), Đồng Quang tự bi ký (1916), Ký kỵ bi ký (1918), Đồng Quang tự bi ký (1921), Hậu Phật bi ký (1923), Hậu Phật bi ký (1941), Đồng Quang tự hậu bi (Bính Thìn) và 1 quả chuông Đồng Quang tự chung niên hiệu Khải Định Nhâm Tuất (1922).
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội chùa Đồng Quang được tổ chức hằng năm vào ngày mùng 5 tháng Giêng âm lịch, kỷ niệm chiến thắng Đống Đa năm Kỷ Dậu 1789, khi Hoàng đế Quang Trung đại phá quân Thanh. Trong ngày hội, chùa mở đại lễ cúng Phật, xá tội vong nhân, cầu siêu cho anh linh chiến sĩ trận vong và cứu độ chúng sinh, thể hiện sâu sắc tinh thần nhân đạo và lòng tri ân truyền thống của dân tộc. Bên cạnh nghi lễ dâng hương trang trọng, lễ hội còn có nghi thức cúng “cháo thí”, mang ý nghĩa bố thí và phổ độ cho các vong linh không nơi nương tựa.
Xếp hạng
Chùa Đồng Quang đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 1990.
Tài liệu tham khảo
- Hệ thống văn bia chùa Đồng Quang, Chonthieng.com
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 2, Nxb Hà Nội.











