Chùa Khánh Linh (Tứ Kỳ, Hải Dương)

Chùa Khánh Linh (Tứ Kỳ, Hải Dương)

Thông tin cơ bản

Hải Dương là một tỉnh thành độc đáo, là nơi kết hợp giao hòa giữa cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp cùng vơi bề dày lịch sử và tâm linh. Chùa Khánh Linh ở Hải Dương là một ngôi chùa gắn liền với giai đoạn lịch sử kháng chiến của Việt Nam ta, tọa lạc tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.

Lược sử

Chùa Khánh Linh là nơi thờ Phật dòng Đại thừa. Nơi đây cũng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử cách mạng. Trong những năm kháng chiến chống Pháp, chùa vừa là nơi hội họp của dân làng, vừa là nơi liên lạc của bộ đội và du kích.

Theo tấm bia khắc năm Chính Hòa thứ 25 (năm 1704) còn lưu giữ tại chùa, chùa Khánh Linh được xây dựng vào thời Thiệu Long nhà Trần năm 1258. Thuở sơ khai, chùa còn đơn sơ, mái lợp cỏ tranh. Các triều đại sau, nhân dân đều góp tiền tu sửa, lợp ngói, sắm tượng, đúc chuông. Trong đó, có lần tu sửa lớn còn được ghi lại vào năm 1704, nhân dân đã đóng góp gỗ lim, gạch ngói để sửa lại chùa, xây tháp chuông. Sau lần này, cảnh chùa trở nên khang trang, lộng lẫy như bài minh đã mô tả:

“Chùa Khánh Linh uy nghi cao vời vợi
Đất thiêng người tài
Phúc Khánh lâu dài
Tiền đường dựng trước
Gác cao hưng vinh
Âm thanh chấn động
Lễ phật kính sùng…”.

Năm 1999, chùa Khánh Linh đã được Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng Di tích cấp quốc gia.

Kiến trúc

Do thời gian tu sửa kéo dài dưới thời Nguyễn nên chùa đã mang đậm dấu ấn kiến trúc của thời đại này. Trải qua chiến tranh và thiên tai khắc nghiệt, đến nay chùa còn 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung.

Tòa tiền đường có kết cấu theo kiểu chồng rường đấu kê gồm 6 vì kèo, họa tiết hoa lá được chạm vào các đấu kê. Đỡ toàn bộ vì và mái là 12 cột cái bằng gỗ lim, đường kính 32cm. Cột quân bằng đá gồm 2 loại tròn và vuông. Cột vuông bố trí phía trước cửa, cột tròn phía sau. Trên các cột đá đều ghi tên người cung tiến. Gian chính giữa được nối thông với 3 gian hậu cung bởi một vì kèo con chồng đấu kê. Tòa hậu cung có 6 cột cái bằng gỗ lim, đường kính 29cm và 6 cột quân bằng đá. Bệ thờ đặt tượng ở ba gian hậu cung đều được xây cuốn bằng gạch.

Trong khuôn viên chùa có một số công trình kiến trúc bổ trợ khác, đó là nhà tổ 3 gian, trong đó có tượng của 2 vị sư đã tu ở chùa. Phía trước cửa chùa là một vườn phong lan với nhiều loài, đa dạng kích cỡ được sư trụ trì Thích Nữ Thông Nhân chăm sóc, vun trồng gần 10 năm qua. Khung cảnh ấy đã tạo nên sự tĩnh mịch cho ngôi chùa.

Năm 1722, nhà sư Nguyễn Hữu Gia, hiệu Huyền Thông đã đứng ra vận động, xây dựng cây thiên đài bằng đá xanh, tôn thêm cảnh đẹp của chùa. Chính điều này đã thu hút khách thập phương về chùa chiêm bái, công đức. Đến năm 1849, dưới triều Tự Đức, chùa được trùng tu lớn hơn với tòa bảo điện 10 gian, 2 chái. Công việc trùng tu, xây dựng kéo dài suốt 10 năm và huy động lực lượng, vật chất lớn trong dân. Qua tấm bia ghi lại việc trùng tu, tôn tạo này cho thấy tiền của dân đóng góp lên tới 1.838 quan, 27 cây cột đá, 8 cột và hoành gỗ. Trong đó, người đóng góp ít nhất là 1 quan tiền, người đóng nhiều lên đến 120 quan tiền và một cây cột đá.

Di sản

Hệ thống tượng Phật, văn bia, cây hương đá của chùa mang đậm nghệ thuật điêu khắc thể hiện tính chân, thiện, mỹ của Phật giáo. Hệ thống tượng ở đây đều được tạc bằng gỗ mít, sơn son thếp vàng, có niên đại xác định vào thế kỷ XVIII.

Tại tiền đường bố trí hai pho tượng khuyến thiện và trừng ác cao 2,25m, tạc bằng gỗ mít, hình khối cân đối, đứng hơi ưỡn về phía trước, đầu đội mũ, mặt quắc thước, áo giáp có trang trí mặt hổ phù, long mã và hoa cúc dây, chân đi giày đứng trên bệ sóng nước. Cạnh tượng khuyến thiện là ban thờ đức ông, tượng tạc thế ngồi cao 1,14m, đầu đội mũ, tay cầm quạt. Tòa hậu cung, tượng Phật được bày theo 5 lớp, thứ tự từ trong là 3 pho tam thế và lớp ngoài cùng là Thích ca. Đặc biệt có pho tượng Quan âm Bồ Tát. Tượng cao 58cm, ngồi trên tòa sen đặt trên một con quỷ. Mặt quỷ được tạc gần gũi như loại mặt nạ hài hước trong nghệ thuật dân gian. Đây là một pho tượng đẹp, nghệ thuật điêu khắc tinh xảo. Dọc hai bên hậu cung có bày tượng thập điện, mỗi bên 5 pho, tượng tạc ở thế ngồi cao 83cm. Những pho tượng cổ trong chùa có nhiều kiểu dáng, ngồi, đứng không trùng lặp. Tượng cân đối, uy nghi, phản ánh sự dày công, tỉ mỉ trong tạo tác.

Trước kia chùa có rất nhiều bia ký nhưng đã thất lạc. Đến nay, chỉ còn lại bia “Tân tạo tiền đường thượng các” dựng năm 1704, cao 1,21m, rộng 72cm, dày 20cm, trang trí phượng, sen và long mã; “Khánh Linh tự bi ký” dựng năm 1849 cao 1,16m, rộng 70cm và dày 21cm; bia công đức cao 90cm, rộng 3cm gồm 300 chữ ghi tên những người công đức vào chùa; “Thập phương công đức bi ký” dựng năm 1849, cao 1,4m, rộng 63cm, dày 21cm gồm 1.800 chữ. Một cây hương đá dựng năm 1722, cao 1,8m. Họa tiết trang trí gồm sen, cúc, rồng tinh xảo; đặc biệt có chạm hình con cò mổ tôm rất sinh động…

_____________________________

Tiếng Anh (English)

Khanh Linh Pagoda in Hai Duong is a unique combination of beautiful natural landscape and historical heritage. This pagoda has a history of resistance against the French and is a place where many important events are recorded. According to the inscription on the 25th Chinh Hoa stele, the pagoda was built during the Tran dynasty in 1258, and has since undergone many renovations and restorations. In 1999, the pagoda was classified as a national heritage site.

The architecture of the pagoda clearly reflects the Nguyen era with 5 front halls and 3 rear halls. The front hall has a stacked ridge structure, with ridges decorated with leaf motifs and the roof supported by wooden and stone columns. The rear hall has 6 wooden and 6 stone columns, with the altar made of bricks.

Khanh Linh Pagoda has a meticulous system of Buddha statues, inscriptions, and stone incense burners. The Buddha statues are made of jackfruit wood and gilded, dating back to the 18th century. The statues and inscriptions in the pagoda demonstrate artistic finesse and precision in craftsmanship.

In addition, the pagoda also has auxiliary structures such as ancestral halls and orchid gardens, creating a serene and peaceful space for this pagoda.

Tiếng Trung (Chinese) 

海阳的康灵寺是美丽的自然景观和历史遗产的独特结合。这座寺庙曾经抵抗法国的历史,记录了许多重要事件。根据清和25年的碑铭,该寺庙建于1258年的陈朝,此后经历了多次翻修和修复。1999年,该寺被列为国家遗产。

寺庙的建筑清晰地反映了阮朝的特点,有5个前殿和3个后殿。前殿采用叠瓦结构,瓦饰以叶子图案装饰,屋顶由木柱和石柱支撑。后殿有6根木柱和6根石柱,祭坛由砖砌成。

康灵寺有一个精心设计的佛像、碑文和石香炉系统。佛像用菠萝蜜木制成,并镀金,可追溯到18世纪。寺庙中的雕像和碑文展示了精湛的艺术技巧和工艺的精确性。

此外,寺庙还有辅助建筑,如祖堂和兰花园,为这座寺庙创造了宁静和平静的空间。

Tiếng Pháp (French)

La pagode Khánh Linh à Hai Duong est une combinaison unique de magnifiques paysages naturels et de patrimoine historique. Cette pagode a une histoire de résistance contre les Français et est un lieu où de nombreux événements importants sont enregistrés. Selon l’inscription sur la stèle du 25e Chinh Hoa, la pagode a été construite pendant la dynastie Tran en 1258, et a depuis subi de nombreuses rénovations et restaurations. En 1999, la pagode a été classée comme site du patrimoine national.

L’architecture de la pagode reflète clairement l’ère Nguyen avec 5 salles avant et 3 salles arrière. La salle avant a une structure de toit empilé, avec des arêtes décorées de motifs de feuilles et le toit soutenu par des colonnes de bois et de pierre. La salle arrière a 6 colonnes en bois et 6 colonnes en pierre, avec l’autel fait de briques.

La pagode Khanh Linh possède un système méticuleux de statues de Bouddha, d’inscriptions et de brûleurs d’encens en pierre. Les statues de Bouddha sont faites de bois de jacquier et dorées, datant du XVIIIe siècle. Les statues et les inscriptions dans la pagode démontrent une finesse artistique et une précision dans l’artisanat.

De plus, la pagode possède également des structures auxiliaires telles que des salles ancestrales et des jardins d’orchidées, créant un espace serein et paisible pour cette pagode.

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)