Chùa Cát Lâm (Hoằng Hoá, Thanh Hoá)

Chùa Cát Lâm (Hoằng Hoá, Thanh Hoá)

Thông tin cơ bản

Chùa Cát Lâm còn gọi chùa Cát, thuộc làng Nhị Hà xã Hoằng Cát, huyện Hoằng Hóa. Trước Cách mạng tháng Tám, Hoằng Cát là xã Cát Xuyên tổng Dương Thủy. Làng Nhị Hà xưa kia là Cát Thôn (Kẻ Cát), vùng đất ven bờ sông Lạch Trường, trên bến, dưới thuyền nhộn nhịp, vốn là nơi giao lưu hàng hóa trong thời kỳ phong kiến.

Quá trình ra đời và phát triển

Theo sách Địa chí văn hóa Hoằng Hóa thì Chùa Cát Lâm có từ thời Lý. Do bom đạn của bao cuộc chiến tranh, cát bụi của thời gian; đặc biệt chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ nên chùa Cát Lâm (nằm cách cầu Tào 2km, cách cầu Hàm Rồng 4km theo đường chim bay) không còn giữ được nguyên vẹn kiến trúc xưa.

Dấu tích xưa còn lại của chùa là chiếc khánh đá có khắc 6 chữ “Ất Dậu … thành tân tạo. Những chữ khắc trên khánh đá bị mờ chỉ còn đọc được 5 chữ. Dựa vào hoạ tiết hoa văn, phong cách chế tác và các nguồn tư liệu khác, cho thấy chiếc khánh đá có thể được tạo tác trước thế kỷ XV. Đặc biệt chùa còn lưu giữ tấm bia hậu năm Canh Tuất, nội dung ghi công đức tôn tạo chùa Cát Lâm của cụ NhữXuyên và vợ là cụ Nguyễn Ảo (con trai và con dâu của danh nho Nhữ Bá Sỹ ở thế kỷ XIX).

Trong những ngày chiến tranh chống Mỹ, nhân dân làng Nhị Hà đã cất giữ 12 pho tượng cổ và một số đồ thờ như: hương án, lư hương, độc bình, chân nến... Những cổ vật này đều có khung niên đại ở thế kỷ XVIII – XX.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa vẫn còn nguy nga tráng lệ, là nơi hội họp của các đoàn thể trong xã. Đặc biệt năm 1947 – 1948, chùa là nơi tập trung lực lượng dân quân tự vệ của huyện Hoằng Hóa hưởng ứng chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Đảng đi phá cầu Tào, cầu Hàm Rồng, đường sắt và tuyến Quốc lộ 1A.

Những năm hòa bình lập lại, chùa vẫn còn, ngoài việc thờ cúng Phật, một số gian của chùa còn được sử dụng làm nhà kho. Đến năm 1965, chùa mới bị bom đạn phá hủy hoàn toàn.

Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, bà con trong xã và thập phương được chính quyền xã cho phép đã dựng lại chùa trên nền đất cũ với quy mô 12 gian nhà, chia làm 3 khu vực kiến trúc để thờ Phật và là nơi sinh hoạt văn hóa.

Dấu tích lịch sử

Kẻ Cát Lâm vốn là nơi có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời. Tại xã Hoằng Cát có di chỉ khảo cổ học thời kỳ Bắc thuộc nổi tiếng. Trên các vùng bãi ven sông, giáp với làng Nội Tý (Kẻ Thử) của xã Hoằng Minh đã phát hin ra thương cảng gốm sứ thời Lý – Trần cho đến thời Lê – Nguyễn về sau này.

Hoằng Cát là một xã lớn thuộc huyện Hoằng Hóa. Phía bắc và đông bắc Hoằng Cát giáp xã Hoằng Xuyên, Hoằng Khê, phía Nam giáp xã Hoằng Minh, Hoằng Anh, phía tây giáp xã Hoằng Quỳ, phía đông là sông Lạch Trường, bên kia sông thuộc địa phận xã Hoằng Lý. Hoằng Cát hiện nay có 4 thôn lớn. Chùa Cát Lâm nằm ngay đầu làng Nhị Hà.

Cát Xuyên xưa kia vốn là vùng đất văn hiến. Từ thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, đã có tới gần 20 người đỗ đại khoa và trung khoa. Tiêu biểu cho giới nho sĩ thành danh ở Hoằng Cát là danh nhân Đặng Quốc Đĩnh đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 21 (1700) đời Lê Hy Tông, làm quan đến chức Hiến sát sứ. Đặc biệt, dòng họ Nhữ ở Hoằng Cát, có một gia đình có tới 5 người trong 3 thế hệ liên tục: cha, ông và cháu đều đỗ đại khoa. Tấm bia Nhữ Đạm Trai của Thượng thư Bộ lễ Hoàng Vỹ ca ngợi quê hương, tài học, tài làm quan của Nhữ Bá Sỹ là áng cổ văn ca ngợi truyền thống văn hiến của quê hương Cát Xuyên.

Cát Lâm được xây dựng từ thời Lý. Khảo sát quanh chùa và vùng bãi ven chùa giáp làng Nội Tý (Hoằng Minh), những phế tích xây dựng cũng như những hiện vật gốm sứ có niên đại Lý – Trần còn rất nhiều, chùa còn lưu giữ những cổ vật của các triều đại Hồ – Lê – Nguyễn. Vì vậy, chùa là di tích ghi dấu ấn lịch sử của nhiều thời đại.

Kiến trúc

Vào thăm công trình, đầu tiên sẽ bắt gặp Tam quan chùa.

Cửa chính: rộng 2,5m, mặt ngoài 2 cột trụ cổng đắp nổi hai câu đối:

Phật pháp vô biên trừ tai hãn hoạ

Thần thông quảng đại giáng phúc thi ân

Hai bên cột xây hai bức tường trấn phong rộng 2,2m, cao 2,2m, trên lợp ngói ống, tường được đắp phù điêu pho tượng Hộ pháp.

Pháp môn và tăng môn: Có kích thước bằng nhau, cao 3,9m cũng xây dựng theo kiểu chồng diêm cổ dải, các đầu đao được đắp đầu rồng uốn cong, Bên dưới là cửa vòm có kích thước 1,3 x 2,8m.

Qua một khoảng sân nhỏ Phật điện.

Phật điện được xây dựng với 4 gian Tiền điện và 2 gian Hậu điện liên kết nhau tạo thành kiến trúc chữ Đinh.

Tiền điện xây dựng theo kiểu chồng diêm cổ dải, bít đốc, phần mái hạ trùm kín hè. Tiền điện cấu trúc đơn giản theo lối quá giang làm bằng gỗ xoan, rui, mè, đòn tay bằng luồng, lợp ngói mũ. Tiền điện có diện tích 10,2m x 4,3m = 43,86m2. Gian giữa đi thẳng vào Tam Bảo Phật. Gian bên tả thờ Tiên ông (có tài bốc thuốc chữa bệnh), ngoài cửa vào gian này có đôi câu đối:

Thần y năng cải tử hoàn sinh

Tiên dược khả trường sinh bất tử

Gian bên hữu thờ Thánh tăng. Gian phía đông (ngoài cùng) đặt hai cỗ ngai thờ nhị vị Trạng nguyên, phía trước có đôi câu đối:

Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín

Càn nguyên hanh lợi trinh

Nách xà giữa treo chiếc chuông đồng nặng 88kg, có kích thước 0,95m x 0,55m. Hai gian Hậu điện cũng xây bằng vật liệu như Tiền điện, có diện tích 5m x 3,3m = 16,5m2. Trong Hậu điện (Tam Bảo Phật) thờ 10 pho tượng là các vị Tam Thế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Phật ngàn mắt ngàn tay, A Di Đà, Di Lặc Phật tổ. Ngoài ra đặt ở hai cửa hai tượng hộ pháp.

Khu Phủ Mẫu được xây dựng theo kiểu nhà cấp 4, trước cửa hiên mỗi gian đều xây dựng vòm cuốn. Diện tích xây dựng là 13m x 5m = 65m2.

Kết cấu vì kèo cũng theo kiểu quá giang, kèo cầu bằng gỗ xoan. Phủ được chia làm 3 nơi thờ tự: Khu giữa là một gian, đặt chính giữa là hương án, bộ long khám đặt tượng thờ Mẫu Liễu Hạnh. Trước long khám là bức đại tự treo trên rèm cửa võng đề 4 chữ: Mẫu nghi thiên hạ. Khu phía tả đặt ban thời 4 pho tượng, thờ tứ vị Thánh Nương. Khu phía hữu đặt ban thờ Ngọc Hoàng ở giữa, tả bộ hộ và hữu bộ hộ long quân ở hai bên.

Các đồ thờ đều được sắp xếp ngăn nắp.

Khu nhà khách của chùa được xây dựng 3 gian, quay mặt về hướng đông, kích thước nhà khách 7m x 4,5m = 31,5m2. Nhà chính dùng làm nơi sinh hoạt của các cụ từ trông coi chùa, nhà khách được kiến trúc đơn giản theo kiểu quá giang kèo cầu.

Dù rằng chùa Cát m kiến trúc mới làm lại, nhưng tương đối vững chắc, bố trí hài hòa, được đặt đúng vị trí nền đất cũ, là địa điểm sinh hoạt văn hóa và tâm linh của cư dân Cát Xuyên từ xưa đến nay.

Di vật

Tại chùa Cát Lâm còn lưu giữ hàng trăm hiện vật, trong đó có 20 hiện vật được xếp loại cổ vật cần bảo vệ. Giá trị nhất là tấm bia được khắc năm Canh Tuất (1850) ghi công danh Nhữ Bá Xuyên, Đề lại phủ Thọ Xuân con trai của danh nhân Nhữ Bá Sỹ cùng vợ là bà Nguyễn Ảo. Tấm bia có kích thước sau:

– Chiều cao: 1,86m (Phần đế bia 3,5m)

– Chiều rộng: 0,6m

– Dày: 0,13m

Phần trán bia được tạc theo dáng cánh sen 5 lớp, giữa trán là hình mặt trời có tia hoa lửa, xung quanh là hoạ tiết vân mây cuốn khắp mặt trán bia. Diềm bia trang trí những dây hoa văn cách điệu. Đế bia là khối đá hình chữ nhật được điêu khắc theo kiểu chân quỳ, yếm đế cũng được thể hiện bằng hoạ tiết cánh sen cách điệu.

Chiếc khánh đá của chùa bị vỡ đôi chỉ còn nhận diện được 5 chữ cùng một dòng Ất Dậu… thành tân tạo. Trong Niên biểu lịch sử Việt Nam chỉ có niên Thiệu Thành của Hồ Hán Thương ở năm t Dậu (1405). So sánh thì thấy những đường nét hoa 4 cánh kiểu búp sen rất giống với những tiêu bản hoa văn tìm thấy trên vật liệu kiến trúc như đá, gạch thời Trần – Hồ đã tìm thấy ở Thành nhà Hồ, Đàn tế Nam Giao, Ly Cung (Thanh Hoá); Tức Mặc (Nam Định); Tam Đường (Thái Bình); Vạn Kiếp (Hải Dương)… Phải chăng đây là chiếc khánh đã có niên đại năm Ất Dậu (1405).

Chùa Cát Lâm thờ Phật, thờ việc học, thờ Tiên ông có tài bốc thuốc cứu người, thờ Mẫu là địa chỉ sinh hoạt văn hóa tâm linh của cư dân Cát Xuyên, là nơi để du khách tìm về nghiên cứu, chiêm ngưỡng, vãn cảnh.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập I), CN. Vũ Duy Trịnh
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)