Chùa Đông Nam ở trung tâm thị trấn Thọ Xuân, giữa khu buôn bán sầm uất, cách thành phố Thanh Hóa 36km. Nơi đây vốn là đất của làng Xuân Phố tổng Kiên Thạch, huyện Lôi Dương, phủ Thọ Xuân. Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) lỵ sở của huyện (đồng thời là của phủ) được chuyển từ làng Thịnh Mỹ về Xuân Phố, vốn là một vùng bãi trồng dâu, ngô, đậu, rau cải chưa có người ở trở thành nơi phố xá đông đúc.
Cảnh quan
Quan tri phủ Bùi Tuấn, Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân trong khi làm quy hoạch đã dành một khoảng đất rộng hơn 1000m2 ở trước phủ đường để xây dựng nơi thờ cúng Thành hoàng là Công chúa Liễu Hạnh. Ngày ấy phố phủ Thọ Xuân chỉ có nhà cửa hai bên đường 47 từ Thanh Hóa lên Lam Kinh, Bái Thượng. Đoạn đường qua phố phủ dài hơn một cây số có hai cầu: Tây Kiều và Đông Kiều, chùa nằm giữa Đông Kiều và Tây Kiều.
Trước chùa có một dãy cây bàng nay còn lại vài cây. Những cây bàng trên trăm năm tuổi là chứng nhân bao thăng trầm của phố phủ. Phía trước mặt xế về phía tây là chợ Phủ được xây từ khi đất bãi trở thành phố xá. Cạnh chợ là trường học của phủ, tồn tại từ thời Thiệu Trị đến thời Khải Định, đào tạo được hai chục cử nhân, phó bảng. Ngay cạnh chùa là nhà thương, trạm phát thư, công văn (sau này gọi là bưu điện).
Buổi đầu, miếu thờ Liễu Hạnh được xây dựng bằng gỗ, lợp tranh nhưng dân không gọi là lăng miếu mà vẫn gọi là chùa. Tại đây, hàng ngày thu hút nhiều tín đồ ở phố, phụ nữ có nhiều thời gian rảnh rỗi, có kinh tế khá và vùng phụ cận. Có ý kiến của các nhà nghiên cứu cho rằng thời ấy (thời Thiệu Trị) phủ lỵ Thọ Xuân là trung tâm của đạo Mẫu miền tây Thanh Hóa. Tín đồ là các bà phủ, bà đề, vợ con cai đội, lục sự, thừa phái.
Miếu thờ Liễu Hạnh Công chúa được xây dựng bằng gạch ngói vào năm Khải Định thứ 8 Quý Hợi (1923). Năm Bảo Đại 12 Đinh Sửu (1937) các thiện nam, tín nữ phát tâm công đức xây dựng nhà Tiền đường. Hai trưởng phố thời đó là cụ Trưởng Quý và Trưởng Nhâm chủ trì công việc xây dựng. Cũng năm ấy miếu thờ được đổi thành chùa thờ Phật và phối thờ Đức Thánh Trần (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn). Từ miếu thờ thành chùa là một bước phát triển tâm linh thờ Phật. Mẫu Liễu Hạnh vẫn được phối thờ tại chùa. Một số nhà nghiên cứu cho rằng trước khi về trời Liễu Hạnh cũng đã được xuất gia đầu Phật cho nên dân rước Phật về thờ. Vậy là từ năm Đinh Sửu (1937) chùa Đông Nam thờ Phật, phối thờ Đức Thánh Trần và Công chúa Liễu Hạnh.
Giữa chùa có cây si cổ thụ cùng tuổi với ngôi chùa. Tương truyền năm 1923 miếu thờ lợp tranh được xây dựng lại bằng gạch ngói. Vì trong khu miếu thờ có cây si cổ thụ cao to nên phải xây lùi về phía sau. Cây tỏa bóng mát cho miếu và làm cho nơi thờ tự thêm thâm u, tĩnh mịch, mặc dù nó nằm giữa nơi phố phường đông đúc.
Lịch sử
Năm 1937 miếu được chuyển thành chùa, các tín đồ xây Tiền đường, cây si cổ nằm giữa Tiền đường và Hậu cung. Có lẽ trên đất nước này ít có ngôi chùa nào có cảnh trí như vậy. Chùa cứ đứng yên còn cây đa thì lớn theo năm tháng che mát cả Tiền đường và Hậu cung.
Sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 chùa là nơi dân phố hội họp, các em nhỏ quây quần múa hát. Đầu năm 1947 cả phố Phủ, mấy trăm ngôi nhà, trường học, trụ sở của chính quyền Mặt trận, bệnh viện, chợ, cửa hàng đều bị phá hủy, nhưng chùa và nhà thờ Công giáo vẫn còn nguyên vẹn. Sớm chiều tiếng chuông chùa vẫn ngân nga, báo hiệu cuộc sống nơi đây diễn ra bình thường. Người đi tản cư cứ đến ngày rằm, mùng một lại về thắp hương dâng lên Phật tổ. Năm 1950 – 1951 máy bay Pháp mấy lần oanh tạc bắn phá, nhà thờ Công giáo bị phá hủy, chợ Phủ bị san bằng, nhưng riêng nhà chùa vẫn bình an.
Năm 1965 Mỹ đánh ra miền Bắc, thị trấn Thọ Xuân bị máy bay đánh phá, bà con đi sơ tán, chùa được giao cho Hiệu sách làm nhà kho. Hậu cung do bà con ngày đêm hương khói. Năm 1987 huyện giao lại Tiền đường cho địa phương quản lý.
Năm 1991 chùa Đông Nam được công nhận là Di tích kiến trúc cấp tỉnh, một nơi thờ cúng linh thiêng, có sư trụ trì. Mỗi dịp lễ tết, ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng, khuôn viên trở nên bé nhỏ do lượng tín đồ, Phật tử và khách thập phương đến lễ bái ngày một nhiều.
Bộ mặt của chùa Đông Nam trở lại như hồi mới xây năm 1937. Các tín đồ, Phật tử góp công, góp của xây mới Phật điện, Hậu cung và Tiền đường, nơi thờ Đức Thánh Trần và Mẫu Liễu Hạnh. Nhìn vào đôi câu đối ở Tiền đường ta biết ngay chùa vốn là nơi Mẫu Liễu Hạnh quy Phật:
Thị tiên tức Phật từ vân giá vũ tứ thời xuân
Bất tử trường sinh thánh đức mẫu nghi thiên cổ
Nguồn: Chùa Xứ Thanh (Tập I), CN. Lê Xuân Kỳ
____________________________
Tiếng Anh (English)
Dong Nam Temple is located in the center of Tho Xuan town, near the bustling trading area and 36km away from Thanh Hoa city. Initially, this location was empty land belonging to Xuan Pho village, Kiên Thạch commune, Lôi Dương district, Tho Xuan prefecture. However, in the seventh year of Thiệu Trị’s reign (1847), when the district’s headquarters was relocated from Thinh My village to Xuan Pho, this area became a bustling neighborhood. The prefectural magistrate, Bui Tuan, allocated a large piece of land in front of the headquarters to build a place of worship for Princess Lieu Hanh. In front of the temple, there was a row of banyan trees, which served as evidence of the ups and downs of the neighborhood over many generations.
The temple originally served as a shrine to Lieu Hanh, built of wood and thatched, but it was still referred to as a temple. It attracted many followers, especially economically well-off women and those living nearby. In the eighth year of Khai Dinh’s reign (1923), the shrine was rebuilt with tiles and converted into a Buddhist temple, also worshiping Saint Tran. Within the temple grounds stood an ancient banyan tree that had been there since the shrine’s construction, creating a serene and tranquil atmosphere amidst the bustling streets.
Even after the August Revolution of 1945 and subsequent wars, the temple remained a safe haven for the villagers, used for gatherings and cultural activities. Despite the destruction of many other facilities, the temple remained intact. In 1991, Dong Nam Temple was recognized as a provincial architectural relic, a sacred place with the presence of a resident monk, attracting a large number of visitors from all over. Thanks to the contributions of the faithful and Buddhists, the temple was rebuilt and restored to its original beauty as it was in 1937.
Tiếng Trung (Chinese)
东南寺庙位于托春镇的中心,靠近繁华的贸易区,距离清化市36公里。最初,这个地点是属于春浦村的空地,属于雷阳区钦达县总。然而,在瑞治七年(1847年),当县政府的总部从Thinh My村迁至春浦时,这个地区成为了一个繁华的社区。县长裴涓在总部前分配了一大块土地,用于建造供奉柳杏公主的祭坛。在寺庙前,有一排榕树,是这个社区多代人生活起伏的证据。
寺庙最初是供奉柳杏公主的神龛,用木头和茅草建造,但仍被称为寺庙。它吸引了许多信徒,尤其是经济富裕的妇女和附近居民。在启定八年(1923年),神龛被瓦片重建,转变为佛教寺庙,同时也供奉圣人陈。寺庙内有一棵古老的榕树,自神龛建造以来就一直存在,营造出繁华街道中的宁静祥和氛围。
即使在1945年的八月革命和随后的战争中,寺庙仍然是村民的安全避风港,用于聚会和文化活动。尽管许多其他设施被摧毁,但寺庙仍然完好无损。1991年,东南寺庙被认定为省级建筑遗迹,是一个神圣的地方,有居住的僧侣,吸引了大量来访者。多亏了信徒和佛教徒的贡献,寺庙得以重建,并恢复到1937年的原貌。
Tiếng Pháp (French)
Le Temple du Sud-Est est situé au centre de la ville de Tho Xuan, près de la zone commerçante animée et à 36 km de la ville de Thanh Hoa. À l’origine, cet emplacement était un terrain vague appartenant au village de Xuan Pho, dans la commune de Kiên Thạch, dans le district de Lôi Dương, dans la préfecture de Tho Xuan. Cependant, en 1847, lors du septième année du règne de Thiệu Trị, lorsque le siège du district a été déplacé de Thinh My village à Xuan Pho, cette zone est devenue un quartier animé. Le préfet Bui Tuan a alloué un grand terrain devant le siège pour construire un lieu de culte pour la princesse Lieu Hanh. Devant le temple se trouvait une rangée de banians, qui témoignaient des hauts et des bas du quartier à travers les générations.
Le temple servait initialement de sanctuaire à Lieu Hanh, construit en bois et couvert de chaume, mais il était toujours appelé temple. Il attirait de nombreux fidèles, en particulier des femmes économiquement aisées et ceux qui vivaient à proximité. En 1923, sous le règne de Khải Định, le sanctuaire a été reconstruit en tuiles et converti en temple bouddhiste, également dédié à Saint Tran. Dans l’enceinte du temple se trouvait un vieux banian qui était là depuis la construction du sanctuaire, créant une atmosphère sereine et tranquille au milieu des rues animées.
Même après la Révolution d’août 1945 et les guerres qui ont suivi, le temple est resté un havre de paix pour les villageois, utilisé pour les rassemblements et les activités culturelles. Malgré la destruction de nombreux autres équipements, le temple est resté intact. En 1991, le temple Dong Nam a été reconnu comme un site architectural provincial, un lieu sacré avec la présence d’un moine résident, attirant un grand nombre de visiteurs. Grâce aux contributions des fidèles et des bouddhistes, le temple a été reconstruit et restauré dans toute sa splendeur, tel qu’il était en 1937.