Chùa Mét (Thiên Hương tự – Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Chùa Mét (Thiên Hương tự – Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Cổ Am, không chỉ được biết đến bởi một xã có truyền thống cách mạng, truyền thống văn hóa, hiếu học, mà còn là nơi quy tụ nhiều di sản văn hóa có giá trị của huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Nổi tiếng như Chùa Mét là ngôi ngôi chùa lâu đời nằm tại thôn Lê Lợi, xã Cổ Am đã được Nhà nước xếp hạng di tích cấp Quốc gia. Chùa có tên chữ Thiên Hương tự (trước còn có tên là Thiên Trản tự). Sự tích về ngôi chùa được kể lại rằng: “Chùa do cụ Trần Khắc Trang xây dựng và đặt tên. Khi cụ viên tịch được suy tôn là vị Tổ thứ nhất của chùa.”1

Lịch sử và nhân vật

Chùa Mét được khởi công xây dựng vào cuối triều Trần (1226-1400). Viết về lịch sử chùa, cuốn Chùa cổ Hải Phòng cho hay:

Năm 1407, Trần Khắc Trang cùng tướng Đỗ Nhân Giám chỉ huy cánh quân bờ Bắc trong trận đánh ở cửa Hàm Tử chống quân Minh xâm lược. Quân ta thất bại, tướng Trần Khắc Trang bị thương, ông cùng gia quyến tìm về sống mai danh ẩn tích ở cổ Am – quê của một tỳ tướng dưới quyền. Trong thời gian sinh cơ lập nghiệp ở Cổ Am, Trần Khắc Trang đã xây dựng ngôi chùa tại khu rừng Mét – nơi gia tộc khai hoang lập trại, vì thế chùa được gọi là chùa Mét.2

Bài viết Di tích lịch sử chùa Mét, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo: Đậm dấu ấn lịch sử viết:

Đến thời nhà Mạc (thế kỷ XVI) xã hội phần nào phát triển khá mạnh về kinh tế. Sử sách còn nói tới nhiều năm liền người dân được mùa, những quy định khắt khe của triều đình thời Lê sơ đối với phật giáo được cởi bỏ… Trong bối cảnh lịch sử ấy, chùa Mét được phục hưng trở lại. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã vận động các bô lão trong làng, các phật tử thập phương công đức tiền của trùng tu chùa Mét. Dựng cầu “Tràng Xuân” bằng đá trước cửa chùa. Cây cầu này đi vào lịch sử văn học dân tộc là nguồn cảm hứng thi ca của nhiều thế hệ danh tài. Hiện cây cầu này chỉ còn lại một nhịp cầu bằng đá khắc ghi ba chữ “Tràng Xuân Kiều” đang trưng bày tại đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.3

Chùa Mét từng là trung tâm phật giáo của cả vùng và hàng năm, vào tháng 3 các vị tăng ni trong vùng tập trung về đây. Trong kháng chiến chống Pháp, chùa là cơ sở đóng quân và là nơi mở lớp tập huấn, luyện quân chính thức trước khi Nam tiến của đội vệ Quốc Đoàn thuộc chiến khu Đông Triều.

Kiến trúc cảnh quan

Theo lời kể của các bậc cao niên, chùa Mét khi xưa có quy mô tương đối lớn. Kiến trúc chính kiểu chữ Nhất gồm hai dãy nhà nối tiếp nhau. Tòa phật điện 7 gian, nhà thờ tổ 7 gian. Phía sau kiến trúc chính còn có nhà khách và trai phòng 7 gian, trong đó 3 gian trung tâm làm theo lối “chồng diêm nóc các” rất đẹp, kèm thêm 5 gian nhà kho rộng rãi.

Gác chuông chùa hai tầng sừng sững cao tới 12 mét do cụ Hậu Giai người làng Yên Cố tỉnh Thái Bình công đức xây dựng. Nơi đây một thời là trung tâm của hội Phật giáo toàn vùng, là nơi hàng năm các sư quy tụ về đây ngồi hạ. Trong kháng chiến chống Pháp, năm gian nhà kho bị địch dỡ bỏ lấy vật liệu xây bốt Nam Am, nhà khách và trai phòng bị chúng đốt phá, gác chuông bị triệt bỏ để tiêu thổ kháng chiến.

Trải qua thời gian các công trình xưa cũ của Chùa Mét đều bị mất dạng, những công trình kiến trúc hiện còn mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Hiện chùa chỉ còn lại tòa Phật điện bảy gian và nhà thờ tổ bảy gian nối liền nhau. Tòa Phật điện có bố cục hình chữ Sơn hiếm thấy trong các công trình kiến trúc nghệ thuật cổ ở nước ta.

Căn cứ vào những dòng chữ Hán khắc ghi tại câu đầu tòa tiền đường, chùa Mét được trùng tu lớn vào các năm 1853 và 1923. Chùa được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc chắc khỏe. Bờ nóc đắp trơn, giữa bờ nóc tòa Phật điện dựng bức đại tự đắp nổi ba chữ Hán lớn “Thiên Hương Tự”. Mái lợp ngói vảy rồng, rêu phong cổ kính. Phía trước có hiên thấp và hẹp được bó bằng phiến đá xanh mài nhẵn. Hệ thống cánh cửa làm bằng gỗ lim theo lối “cửa tùng cung khách” quen thuộc. Các cấu kiện gỗ chủ yếu bào trơn đóng bén, điểm xuyết các hình lá guột được làm khá tỉ mỉ và trau chuốt.

Hiện vật

Chùa Mét lưu giữ nhiều tượng Phật và đổ thờ tự quý, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX như: bộ tượng Tam Thế, bộ tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Quán Âm Chuẩn Đề, tượng Đức Ông; bia hậu Phật, nhang án, chấp kích, chuông đồng, câu đối, hoành phi, cửa võng được chạm khắc tinh xảo.

Tại đây, ngoài hệ thống tượng phật còn lưu giữ được khá nhiều hiện vật có giá trị lịch sử, nghệ thuật. Đó là hai bức cuốn thư sơn son thiếp vàng, hai bức đại tự, bốn đôi câu đối có niên đại cuối thế kỷ 19; quả chuông đồng lớn đúc năm 1851, bia đá 1875 (thời Tự Đức) và một số cổ vật khác như khám thờ, đỉnh đồng, nhang án…làm di tích càng thêm sầm uất. Nối liền tòa tiền đường là 7 gian nhà tổ.

Chùa thờ 6 pho tượng, theo truyền ngôn; trong đó có một pho là vị tổ Trần Ôn Sóc, thầy dạy của Danh nhân văn hóa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Các pho có kích thước tương tự nhau, xấp xỉ người thực, được thể hiện trong tư thế ngồi thiền, hai tay đặt trong lòng đùi ở thể ấn tam muội, nét mặt hao hao gầy, mỗi người một vẻ, một độ tuổi khác nhau, tất cả đều trầm tư tự tại.

Hiện nay, tại chùa Mét (Thiên Hương tự) còn lại 5 tấm bia, tất cả những bia này đều có thác bản tại viện Nghiên cứu Hán Nôm, có kí hiệu lần lượt từ 46372 đến 46378. Văn bia có tên và nội dung lần lượt như sau:

Văn bia số 46372: Thiên Hương tự thiền sư ký – Văn bia về thiền sư chùa Thiên Hương (天香寺禪師記), không ghi niên đại, nội dung nói về ngôi chùa được lập nên bởi dòng họ Trần, nhưng trải qua binh đao hoạn nạn đã hư hỏng nhiều, sau đó dòng họ có tặng cho Hòa thượng Viên Dung, tên chữ là Như Chất đến tu trai tại đây. Sau đó, hòa thượng truyền lại cho học trò là Đào Xuân Huyên, tên chữ là Tính Bồi. Nhà sư Tính Bồi đã cho phục dựng lại chùa, thời gian tu tạo kéo dài 14 năm từ năm Tân Tỵ đến năm Ất Mùi. Trải qua 14 năm, ngôi chùa đã được phục dựng lại với quy mô tương tự như trước nhưng tiền đường còn thiếu tượng và tường bao, cửa ra vào chưa được trang hoàng giống như thuở sơ khai.

Phần cuối bia còn nói đến Thiền đồ Thích tử gồm: Tính Kiên, Tính Chủng, Tính ()4, Tính Trí, Tính Thủy, Tính Luận, Tính Thành, Tính Chúc, Tính Thông, Tính (), Tính Sùng, Tính Linh, Tính Dụng, Tính Bàn, Tính Tọa, Tính Cát, Tính Lâm, Tính Niệm, Tính (), Tính (), Tính Thuyên, Tính Độ, Tính Trác, Tính Ánh, Tính Bình, Tính Trí, Tính Chẩn, Tính Uyên, Tính (), Tính (), Tính Đường, Tính Huệ.

Các Sa di ni gồm: Diệu Thục, Diệu Quảng, Diệu Hợp, Diệu Côn, Diệu Trinh.

Hàng cháu gồm: Hải Tịch, Hải Tương, Hải Nhàn, Hải Tịnh, Hải Trừng, Hải Điện, Hải Khoan, Hải (), Hải Nhuận, Hải Thiến, Hải Lãng, Hải Tình, Hải Triều, Hải Chiếm, Hải Bốn, Hải Cảnh, Hải Trương, Hải (), Hải Phổ, Hải Thìn, Hải Hiền, Hải Chân, Hải Phương, Hải Cố, Hải Đồng, Hải Dục, Hải Phiên, Hải Bích, Hải Thuần, Hải Tân.

Bia số 46373: Trần tộc thế hệ ký – Ghi chép về thế hệ họ Trần (陳族世繫記), niên đại Cảnh Hưng năm thứ 36 [1775], nội dung nói về ông tổ họ Trần vốn là Thiên tử nghĩa nam, có tên chữ là Khắc Trang, vốn là Lãnh binh vùng Bắc Ngạn. Thời giặc Minh xâm chiếm nước ta, ông đưa gia đình về ẩn cư nơi đây rồi xây dựng cơ đồ truyền lại cho con cháu. Con ông là Đề lãnh Trần Công Chẩn, các cháu là Hiến Sát sứ Trần Viết Thịnh, Cấp sự trung Trần Viết Quýnh… đời đời nối tiếp làm rạng danh dòng họ.

Bia số 4673 – 4674: Tu tạo tiền đường bi ký – Bia ghi chép về việc sửa sang nhà Tiền đường (修造前堂碑記), niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 5 [1845], ngày 20 tháng 5, nội dung nói về việc sửa chữa tòa tiền đường của chùa Thiên Hương, phần đầu cũng nói ông tổ Trần Khắc Trang vốn là Thiên tử Nghĩa nam, phần sau chữ tương đối mờ, nhưng nội dung xoay quanh chuyện những người đóng góp cho việc sửa sang tiền đường, trong đó chủ yếu là người họ Trần và người dân trong xã (có họ Nguyễn, họ Bùi, họ Đào, họ Lê…), số lượng đóng góp theo từng cá nhân khá lớn, người nhiều 5 quan, người ít từ 1 đến 2 quan.

Bia số 46376: Thiên Hương tự trụ trì Đào Xuân Huyên tự Tính Bồi bi ký – Bia ghi chép về trụ trì chùa Thiên Hương, nhà sư Đào Xuân Huyên, tên chữ là Tính Bồi (天香寺住持陶春暄字性培碑記), niên đại Cảnh Hưng thứ 40, năm Kỷ Hợi [1779], nội dung nói về việc xây dựng khám thờ trụ trì Tính Bồi, ông là người kế thừa ngôi chùa từ đại sư Như Chất, nhưng ngôi chùa do thời gian và do chiến tranh hoạn lạc đã bị hư hỏng nhiều, chính ông là người đã vận động dân trong vùng cùng đóng góp để sửa sang lại ngôi chùa như thuở sơ khai. Chính vì công lao to lớn như vậy, ông đã được xây tháp đặt khám thờ và dựng bia ghi lại sự việc để làm bằng chứng cho đời sau. Việc thờ phụng được tiến hành bởi các học trò đứng dòng chữ Hải, cụ thể là Hải Dục đảm nhiệm.

Văn bia do Trần Huy Thiểm soạn, Trần Huy Thiển hiệu đính

Đệ tử gồm Hải Dục, Hải Phương, Hải Cố, Hải Đồng, Hải Thuần, Hải Uông, Hải (), Hải Tân, Hải Úc, Hải Hằng, Hải Lạng, Hải Tình, Hải Thìn, Hải Vĩ…

Số 46377 – 46378: Bia không đề tên, niên đại năm Tự Đức thứ 28 [1875], ngày tốt tháng 11, nội dung ghi lại việc dòng họ Trần tại đây kê khai lại đất đai của dòng họ, trong đó có ghi cụ thể địa điểm từng mảnh đất, giáp các bên và diện tích từng khoảnh.

Ngoài ra, ở đây còn hai tấm gỗ, dạng như bài vị. Tấm thứ nhất ghi Vĩnh Phúc phái tổ sư, gồm những vị sau: Tên chữ là Phổ Đoan Thích Úc Úc, tên chữ là Chiếu Tiến Thích Minh Minh, Tỳ kheo Khâu tên chữ là Chiếu Đàm, quốc tứ tăng phó, tên chữ là Tính Hạo Thiền Trí Tuệ, tên chữ là Phổ Huy Thích Nẫm Nẫm, tên chữ là Thông Hựu Thích Phúc Tuệ, tên chữ là Tâm Diễn Thích Tịnh Hành; Tấm thứ hai có tên là Thiên Hương phái tổ sư, gồm chín vị sau: tên chữ là Chiếu Chiêm Thích Dương Dương, tên chữ là Phổ Nghi Thích Mặc Mặc, tên chữ là Tịch Hinh Thích Úc Úc, tên chữ là Tính Bồi Thích Khách Tuệ, đặc tứ Viên Dung hòa thượng tên chữ là Như Chất Thích Mật Tàng, tên chữ là Hải Dục Thích Truân Truân, tên chữ là Tịch Đoan Thích Nguyên Nguyên, tên chữ là Thông Thưởng Thích Niệm Niệm, tên chữ là Nguyên Thuyên Thích Mật Mật.

Xếp hạng 

Năm 1998, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã Quyết định công nhận chùa Mét là Di tích lịch sử – văn hóa cấp Quốc gia.

Chú thích

  1. Cổng thông tin điện tử huyện Vĩnh Bảo, Chùa Mét khu Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, số ra ngày 22/06/2024.
  2. Thích Thanh Giác, Chùa cổ Hải Phòng, tập 1, Nxb Hải Phòng, 2017, tr 58.
  3. Di tích lịch sử chùa Mét, xã Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo: Đậm dấu ấn lịch sử,  Website Bộ Công Thương, số ra ngày 09/05/2015.

__________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and Geographical Location

Co Am is not only known as a commune with a revolutionary and cultural tradition and a deep respect for learning, but also as a place that gathers many valuable cultural heritages of Vinh Bao District, Hai Phong City. Among them, the Met Pagoda is a famous ancient pagoda located in Le Loi Hamlet, Co Am Commune, which has been recognized by the State as a National Historic and Cultural Site. The pagoda’s formal name is Thien Huong Tu (formerly known as Thien Tran Tu).

According to legend, “The pagoda was built and named by Tran Khac Trang. Upon his passing, he was venerated as the first Patriarch of the pagoda.”

History and Figures

Met Pagoda began construction at the end of the Tran Dynasty (1226–1400). The book Ancient Pagodas of Hai Phong records:

In 1407, Tran Khac Trang, together with General Do Nhan Giam, commanded the northern riverbank army in the Battle of Ham Tu against the invading Ming forces. After the defeat, Tran Khac Trang, wounded in battle, retreated with his family to live in seclusion in Co Am — the homeland of one of his subordinates. During his settlement there, Tran Khac Trang built a pagoda in the Met forest, the area where his clan reclaimed land and established their hamlet; hence the pagoda came to be known as Met Pagoda.

According to the article The Historical Site of Met Pagoda, Co Am Commune, Vinh Bao District: Deeply Imprinted with History:

During the Mac Dynasty (16th century), society experienced notable economic growth. Historical records state that several consecutive years of good harvests occurred, and the strict regulations of the Early Le Dynasty regarding Buddhism were relaxed. Within this historical context, Met Pagoda was restored. The great scholar Nguyen Binh Khiem encouraged village elders and Buddhist followers from all directions to contribute funds and resources for the renovation of Met Pagoda. A stone bridge named “Trang Xuan” was built in front of the pagoda. This bridge later entered national literary history as an inspiration for poets and scholars. Today, only one stone span remains, inscribed with the three Chinese characters “Trang Xuan Kieu,” now preserved at the Temple of Nguyen Binh Khiem.

Met Pagoda was once the Buddhist center of the region. Every year in the third lunar month, monks and nuns from the surrounding areas gathered there. During the resistance war against the French, the pagoda served as a military base and a training site for the Vệ Quốc Đoàn (National Defense Corps) before their march southward from the Dong Trieu base area.

Architecture and Landscape

According to the village elders, Met Pagoda was once a large complex. The main structure was in the “Nhat” (一) shape, consisting of two connected halls. The main Buddha hall had seven bays, as did the Patriarch hall behind it. Behind the main structure were the guesthouse and monks’ quarters, each with seven bays, including a central section of three tiers built in the “chong diem noc cac” (multi-tiered) style, elegant and spacious, alongside five storerooms.

The two-story bell tower, twelve meters high, was funded by Hau Giai, a benefactor from Yen Co Village in Thai Binh Province. In earlier times, the pagoda was the religious hub of the region, where monks gathered annually for the summer retreat. During the French resistance, the five storerooms were dismantled by the enemy to build the Nam Am fort, and the guesthouse and monks’ quarters were burned. The bell tower was destroyed as part of the scorched-earth policy.

Over time, the ancient structures of Met Pagoda have disappeared, and the remaining buildings reflect the architectural style of the Nguyen Dynasty. Today, only the seven-bay Buddha hall and the seven-bay Patriarch hall remain, connected in sequence. The Buddha hall has a rare “Son” (山) layout, uncommon among ancient Vietnamese religious structures.

According to Chinese inscriptions on the beams of the front hall, the pagoda underwent major renovations in 1853 and 1923. It was built with solid “bit doc” gable walls, smooth roof ridges, and a prominent relief plaque bearing the three large Chinese characters “Thien Huong Tu.” The roof is covered with dragon-scale tiles aged with moss. The front porch is low and narrow, paved with polished green stone slabs. The wooden doors are made of ironwood in the traditional “Cua tung cung khach” style. The wooden frame is mainly planed smooth, ornamented with meticulously carved leaf motifs.

Artifacts

Met Pagoda preserves many valuable Buddhist statues and ritual objects in the artistic style of the 18th–19th centuries, such as the Triad of Buddhas, the Amitabha Trinity, the Chuẩn Đề Avalokiteśvara, and the Deity Guardian statues, along with the hậu Phật steles, incense tables, halberds, bronze bells, couplets, and horizontal boards—all finely carved.

Besides the statue system, the pagoda houses numerous artifacts of historical and artistic value: two gilded lacquer scrolls, two large plaques, four pairs of couplets dated to the late 19th century, a large bronze bell cast in 1851, a stone stele from 1875 (Tu Duc reign), and other antiques such as thrones, bronze censers, and incense tables—adding solemnity to the monument. Connected to the front hall is a seven-bay Patriarch hall.

The pagoda enshrines six statues, believed to represent the patriarchs. Among them is Tran On Soc, the teacher of the famous scholar Nguyen Binh Khiem. The statues are nearly life-sized, depicting monks in meditation posture with hands resting on their laps in the “tam muoi” (samadhi) gesture, each with a distinct appearance and age but all calm and contemplative.

Currently, Thien Huong Pagoda houses five stone steles, all with rubbings archived at the Institute of Han-Nom Studies, numbered from 46372 to 46378. Their titles and contents are as follows:

  • Stele No. 46372: Record of the Zen Master of Thien Huong Pagoda (Thien Huong Tu Thien Su Ky) – undated. It recounts that the pagoda was founded by the Tran clan but was damaged during wartime. Later, the Tran family invited the Venerable Vien Dung (Dharma name Nhu Chat) to reside and restore the temple. His disciple, Dao Xuan Huyen (Dharma name Tinh Boi), continued the work, rebuilding the pagoda over fourteen years (from the Year of the Snake to the Year of the Goat).

  • Stele No. 46373: Record of the Tran Lineage (Tran Toc The He Ky) – dated 1775 (Canh Hung 36). It traces the lineage of the Tran family, whose ancestor, Tran Khac Trang, once a Northern Command General during the Ming invasion, settled in this area, founding the clan that prospered through generations.

  • Steles Nos. 4673–4674: Record of the Restoration of the Front Hall (Tu Tao Tien Duong Bi Ky) – dated 1845 (Thieu Tri 5). It details the renovation of the front hall of Thien Huong Pagoda and lists the donors, mainly members of the Tran family and villagers of various surnames (Nguyen, Bui, Dao, Le). Contributions ranged from one to five quan per person.

  • Stele No. 46376: Inscription of the Abbot Dao Xuan Huyen (Tinh Boi) of Thien Huong Pagoda – dated 1779 (Canh Hung 40). It honors the abbot who rebuilt the pagoda after wartime destruction and was later commemorated with a stupa and stele. The text was composed by Tran Huy Thiem and revised by Tran Huy Thien.

  • Steles Nos. 46377–46378: Untitled, dated 1875 (Tu Duc 28). These record the Tran clan’s declaration of ancestral lands, detailing the boundaries and area of each plot.

In addition, two wooden ancestral tablets remain. The first, titled Patriarchs of the Vinh Phuc Lineage, lists names such as Thich Uc Uc, Thich Minh Minh, Thich Khau, Thich Hoi Tri Tue, and others. The second, titled Patriarchs of the Thien Huong Lineage, records nine names, including Thich Duong Duong, Thich Mac Mac, Thich Uc Uc, Thich Khach Tue, Thich Nhu Chat, Thich Truan Truan, Thich Nguyen Nguyen, Thich Niem Niem, and Thich Mat Mat.

Classification

In 1998, the Ministry of Culture, Sports and Tourism officially recognized Met Pagoda as a National Historic and Cultural Site.

Notes

  1. Vinh Bao District Electronic Portal, Met Pagoda – National Historic and Cultural Site, issued June 22, 2024.
  2. Thich Thanh Giac, Ancient Pagodas of Hai Phong, Vol. 1, Hai Phong Publishing House, 2017, p. 58.
  3. The Historical Site of Met Pagoda, Co Am Commune, Vinh Bao District: Deeply Imprinted with History, Ministry of Industry and Trade Website, May 9, 2015.

2. Français

Nom et localisation géographique

Co Am n’est pas seulement connue comme une commune à la tradition révolutionnaire, culturelle et studieuse, mais aussi comme un lieu rassemblant de nombreux patrimoines culturels précieux du district de Vinh Bao, ville de Hai Phong. Parmi eux, la pagode Met est un ancien temple bouddhique situé dans le hameau de Le Loi, commune de Co Am, reconnu par l’État comme site historique et culturel national. Son nom officiel est Thien Huong Tu (autrefois Thien Tran Tu).

Selon la légende, « La pagode fut construite et nommée par Tran Khac Trang. À sa mort, il fut vénéré comme le premier patriarche du temple. »

Histoire et personnages

La pagode Met fut construite à la fin de la dynastie Tran (1226–1400). Le livre Anciennes Pagodes de Hai Phong rapporte :

En 1407, Tran Khac Trang, avec le général Do Nhan Giam, dirigea les troupes de la rive nord lors de la bataille de Ham Tu contre les envahisseurs Ming. Après la défaite, blessé, Tran Khac Trang se retira avec sa famille pour vivre caché à Co Am — le village natal de l’un de ses subordonnés. Pendant son installation, il fit construire une pagode dans la forêt de Met, là où sa famille avait défriché et fondé un hameau ; d’où le nom de Pagode Met.

L’article Site historique de la pagode Met, commune de Co Am, district de Vinh Bao : profondément marquée par l’histoire précise :

Sous la dynastie Mac (XVIe siècle), la société connut un développement économique notable. Les chroniques rapportent plusieurs années consécutives de bonnes récoltes et l’assouplissement des règles strictes du bouddhisme sous la dynastie Le précoce. Dans ce contexte, la pagode Met fut restaurée. Le grand érudit Nguyen Binh Khiem encouragea les anciens du village et les fidèles bouddhistes à contribuer à la rénovation du temple. Un pont en pierre nommé « Trang Xuan » fut érigé devant la pagode. Ce pont devint source d’inspiration pour de nombreux poètes vietnamiens. Aujourd’hui, il n’en subsiste qu’une arche portant l’inscription « Trang Xuan Kieu », exposée au temple dédié à Nguyen Binh Khiem.

La pagode Met fut autrefois le centre bouddhique de la région. Chaque année, au troisième mois lunaire, moines et nonnes s’y réunissaient. Durant la résistance contre les Français, la pagode servit de base militaire et de centre d’entraînement avant la marche vers le Sud des troupes du Ve Quoc Doan.

Architecture et paysage

Selon les anciens du village, la pagode Met était autrefois un vaste ensemble architectural. Le bâtiment principal, de forme « Nhat » (一), comprenait deux salles alignées. Le hall du Bouddha comptait sept travées, tout comme la salle des patriarches. Derrière s’élevaient les dortoirs et la maison des invités, également à sept travées, avec une section centrale à trois étages, de style chong diem noc cac, élégante et spacieuse.

La tour de cloche à deux étages, haute de douze mètres, fut construite grâce à la générosité de Hau Giai, originaire du village de Yen Co, province de Thai Binh. Autrefois, la pagode était le centre du bouddhisme local où les moines se rassemblaient pour la retraite d’été. Durant la guerre d’Indochine, les entrepôts furent démantelés pour construire le fort de Nam Am, et la tour de cloche détruite dans le cadre de la politique de la terre brûlée.

Avec le temps, les anciens bâtiments disparurent. Les structures actuelles datent de la dynastie Nguyen. Aujourd’hui, seuls subsistent la salle du Bouddha et la salle des patriarches, toutes deux de sept travées, reliées entre elles. Le hall du Bouddha présente une disposition rare en forme de « Son » (山), peu courante dans les monuments anciens vietnamiens.

Les inscriptions chinoises gravées sur les poutres du hall avant indiquent de grandes restaurations en 1853 et 1923. La construction se distingue par ses murs pignons massifs, ses toits lisses ornés d’un grand panneau en relief portant les caractères « Thien Huong Tu ». Le toit est couvert de tuiles écaille de dragon. La véranda avant est pavée de dalles vertes polies, et les portes sont en bois de fer selon le style traditionnel Cua tung cung khach.

Objets et reliques

La pagode Met conserve de nombreuses statues et objets rituels des XVIIIe–XIXe siècles : la triade des Bouddhas, la triade d’Amitabha, la statue de Chuẩn Đề Avalokiteśvara, les statues des gardiens du Dharma, des stèles, autels, gongs, cloches, couplets parallèles et panneaux d’inscriptions finement sculptés.

Elle abrite aussi plusieurs objets d’une grande valeur historique et artistique : deux rouleaux laqués dorés, deux grands panneaux, quatre paires de couplets de la fin du XIXe siècle, une cloche en bronze (1851), une stèle de pierre (1875, règne de Tu Duc), et divers objets anciens tels que trônes, encensoirs et autels.

Le temple vénère six statues, dont l’une représente Tran On Soc, maître du grand érudit Nguyen Binh Khiem. Ces statues, de taille humaine, représentent des moines en méditation, sereins et paisibles.

La pagode Thien Huong possède cinq stèles en pierre (numérotées 46372–46378 à l’Institut d’études Han-Nôm). Elles relatent la fondation, la restauration et les lignées monastiques de la pagode, notamment les maîtres Vien Dung, Nhu Chat, Dao Xuan Huyen (Tinh Boi) et les membres de la famille Tran.

Classement

En 1998, le ministère de la Culture, des Sports et du Tourisme a reconnu la pagode Met comme site historique et culturel national.

Notes

  1. Portail électronique du district de Vinh Bao, Pagode Met – Site historique et culturel national, 22 juin 2024.
  2. Thich Thanh Giac, Anciennes Pagodes de Hai Phong, vol. 1, Éditions de Hai Phong, 2017, p. 58.
  3. Site historique de la pagode Met, commune de Co Am, district de Vinh Bao : profondément marquée par l’histoire, Ministère de l’Industrie et du Commerce, 9 mai 2015.

3. 中文(繁體)

名稱與地理位置

古菴不僅以革命、文化與崇學傳統聞名,亦是匯聚眾多文化遺產之地,屬海防市永保縣。著名之「麥寺」(即天香寺),位於古菴社黎利村,已被國家列為全國性歷史文化遺跡。寺之正式名稱為「天香寺」(昔稱「天盞寺」)。

傳說曰:「寺由陳克章建造並命名。其圓寂後,被尊為本寺初祖。」

歷史與人物

麥寺始建於陳朝末年(1226–1400)。《海防古寺錄》載:

明永樂年間(1407),陳克章與將領杜仁鑑率兵於含子門北岸抗擊明軍,戰敗受傷,攜家退隱於古菴——其部下之一之故鄉。安居期間,於麥林中建寺,因地名而稱「麥寺」。

至莫朝(十六世紀),社會經濟興盛,連年豐收,黎初朝對佛教之嚴禁亦得寬鬆。張程阮秉謙倡議村中耆老與十方信士募資重修麥寺,並於寺前建「長春橋」。此橋後成為詩文靈感之源,今僅存一石拱,刻「長春橋」三字,藏於阮秉謙祠。

抗法時期,寺為衛國團軍駐地及訓練所。

建築與景觀

相傳麥寺昔規模宏大,正殿為「一」字形結構,佛殿七間,祖堂七間,後有客舍與齋房七間,中部三層重檐,兩側倉房五間。

鐘樓兩層,高十二米,由太平省安古村侯皆功德建造。昔為全境佛教中心,僧眾於此安居。抗法時,敵拆倉為南菴堡材料,焚齋房與客舍,鐘樓亦毀。

今存建築多為阮朝風格,僅佛殿與祖堂相連。佛殿結構呈「山」字形,殊為罕見。

根據前殿樑上漢文銘刻,寺於咸豐三年(1853)與癸亥年(1923)兩次重修。屋脊正中浮雕「天香寺」三大字,屋覆龍鱗瓦,前檐鋪青石板,門窗為鐵力木製「門閂供客」式,構件光潤細雕。

文物

寺藏十八至十九世紀佛像與法器,如三世佛、阿彌陀三尊、準提觀音、護法神像,並有後佛碑、銅鐘、楹聯、匾額等,雕工精緻。

另藏金漆卷書二、匾額二、對聯四對、銅鐘一(1851)、石碑一(1875、嗣德年間)及諸多古物,如供桌、香爐等。

寺奉六尊祖師像,其一為陳溫俗禪師,阮秉謙之師。諸像等身,結跏趺坐,神情安詳。

今寺存石碑五方(越南漢喃研究院編號46372–46378),記述寺史、修建與法脈,如圓融和尚(如質)、陶春暄(性培)等事跡。

級別與評定

1998年,文化體育與旅遊部正式將麥寺(天香寺)列為全國性歷史文化遺跡。

註釋

  1. 永保縣電子資訊門戶,《麥寺——全國歷史文化遺跡》,2024年6月22日。
  2. 釋清覺,《海防古寺》,第一卷,海防出版社,2017年,第58頁。
  3. 《古菴社麥寺歷史遺跡》,工貿部網站,2015年5月9日。
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)