Ông Hoàng Bát Nùng là ai?
Đầu xuân năm mới sắp đến cũng lúc nhà nhà, người người đi lễ đền, lễ chùa để cầu tài lộc và bình an. Trong số hàng ngàn, hàng vạn ngôi đền, chùa trên khắp Việt Nam, hẳn là sẽ không ít người tìm về với Thập Vị Quan Hoàng uy danh lừng lẫy. Trong đó, quan Hoàng Tám – hay còn gọi là Ông Hoàng Bát Nùng là một vị quan Hoàng mà không thể không kể tới, vị anh hùng nổi tiếng được nhân dân trong vùng đặc biệt là người Tày Nùng phụng thờ do đã có công đuổi đánh quân Tống bảo vệ biên cương bờ cõi, sự bình yên cho nhân dân ta. Bài viết này sẽ cung cấp đến bạn một số thông tin cơ bản nhất về Ông, mời quý bạn cùng tìm hiểu.
Thần tích Ông Hoàng Bát Nùng
Quan Hoàng Bát là vị thánh hoàng thứ tám trong hàng Thập Vị Thánh Hoàng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, trước Quan Hoàng Chín Cờn và sau Quan Hoàng Bảy Bảo Hà, ngài là một nhân vật có thật trong lịch sử, là một vị tướng tài, anh hùng dân tộc của dân tộc Tày – Nùng ở miền đất Cao Bằng thượng cổ. Quan Hoàng Bát Nùng tên thật là Nùng Chí Cao, ngài sinh sống vào khoảng thế kỷ XI, dưới thời vua Lý Thái Tông. Cha là thủ lĩnh châu Thảng Do – Nùng Tồn Phúc, mẹ là bà A Nùng.
Tháng 12 năm 1038, “Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên(1) làm phản. Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương”(2). Tháng 2 năm 1039, “Vua cho quân đuổi theo bắt được Tồn Phúc và bọn Trí Thông 5 người. Chỉ có vợ là A Nùng, con là Trí Cao chạy thoát. Đóng cũi bọn Tồn Phúc đem về Kinh sư, sai quân san phẳng thành hào, chiêu dụ tộc loại còn sống sót, vỗ về yên ủi rồi đem quân về.”(3)
Năm Tân Tỵ 1041, Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa(4) lại về chiếm cứ châu Thảng Do, đổi châu ấy làm nước Đại Lịch nhưng bị lính bắt sống, đem về Kinh sư. Vua thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha tội, cho giữ châu Quảng Nguyên như cũ, lại phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang(5) nữa.
Đến Quý Mùi, Minh Đạo năm thứ 2 (1043), (Tống Khánh Lịch năm thứ 3), ông còn được nhà Lý phong làm Thái Bảo tướng quân và giao trọng trách trấn giữ, bảo vệ bình an cho vùng đất biên cương Cao Bằng.
“Tháng 9, ngày mồng 1, sai Ngụy Trưng đến châu Quảng Nguyên, ban cho Nùng Trí Cao đô ấn, phong làm Thái bảo.”(6)
Mậu Tý, [Thiên Cảm Thánh Vũ] năm thứ 5 (1048), (Tống Khánh Lịch năm thứ 8), “Nùng Trí Cao làm phản, chiếm giữ động Vật Ác.” (7)
Mùa hạ năm 1052, tháng 4, Nùng Trí Cao làm phản, “tiếm xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam”(8). Năm 1053, “Trí Cao đem quân chống đánh bị Địch Thanh đánh bại, chạy hơn 10 dặm. Tướng tâm phúc của Cao là Hoàng Sư Mật cùng với thủ hạ 57 người chết tại trận. Quân Tống đuổi theo giết hơn 2200 người. Trí Cao đốt thành ban đêm trốn đi”(9). Mùa đông, tháng 10, Trí Cao sai Lương Châu đến xin quân cứu viện. Vua xuống chiếu cho chỉ huy sứ là Vũ Nhị đem quân cứu viện. Địch Thanh lại đánh phá được Trí Cao. Trí Cao chạy sang nước Đại Lý. Người nước Đại Lý chém đầu Cao bỏ vào hòm dâng vua Tống. Từ đây họ Nùng bị diệt.
Như vậy, trong cuộc đời chinh chiến của mình, Quan Hoàng Bát Nùng đã lập nhiều chiến công hiển hách, lãnh đạo quân và dân Quảng Nguyên chống lại nhiều cuộc tấn công quy mô của giặc Tống. Để tưởng nhớ công lao to lớn đó của đó, sau khi ông mất, người dân trong vùng đã lập đền thờ và suy tôn ông là Quan Hoàng.
Ông Hoàng Bát Nùng có phải Ông Hoàng Bắc Quốc?
Nhắc đến Ông Hoàng Bát Nùng, nhiều người thường bị nhầm lẫn với Ông Hoàng Bắc Quốc vì hai ông đều được gọi là Quan Hoàng Bát và đều là những vị tướng tài có thật trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, thực tế ông Hoàng Bắc Quốc lại là người đất Kinh Bắc và hoàn toàn không có liên hệ với ông Hoàng Bát Nùng.
Đền thờ của ông Hoàng Bắc Quốc cũng nằm tại Bắc Giang, cách xa đền ông Hoàng Bát Nùng tới tận trăm cây số. Vì thế du khách đi lễ đền Ông Hoàng Bát cần phân biệt rõ hai vị quan Hoàng này.
Thời gian khánh tiệc quan Hoàng Bát Nùng
Thái Bảo Nùng Chí Cao là một biểu tượng dũng tướng của Việt nam và là niềm tự hào của người dân Cao Bằng. Đền chính thờ ông Hoàng Bát Nùng hiện tại là đền Kỳ Sầm, thuộc địa phận bản Ngần, xã Vĩnh Quang, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Chính tiệc là ngày mùng 10 tháng Giêng hàng năm.
Hầu giá Quan Hoàng Bát Nùng
Quan Hoàng Bát Nùng là một trong các thánh hoàng rất ít khi về ngự đồng. Chỉ những người mang căn lục bộ mới có thể hầu Ngài.
Khi về ngự đồng, ngài thường mặc y phục màu vàng, khăn mỏ rìu, mặc áo trấn thủ, đi ghệt chân ghệt tay, mạng chéo, làm lễ tấu hương, khai quang, múa đôi trùy đồng (múa cờ, kiếm) và múa võ. Khi ngự đồng ông cũng hút tẩu và thuốc cuốn.
Bản văn Quan Hoàng Bát
Gương anh dũng ngàn xưa lưu để
Đất Cao Bằng tú khí chung linh
Trời nam có đức thánh linh
Họ Nùng đệ bát hùng anh tuyệt vời
Giận bạo chúa bao đời áp bức
Thù ngoại xâm Tống giặc cường hung
Thề rằng không độ trời chung,
Tuốt gươm quét sạch thù trong giặc ngoài.
Dù trăm trận mưa rơi sấm giật
Đôi trượng đồng dạy đất trời long
Bát Nùng nối nghiệp gia phong
Noi gương tiên tổ – họ Nùng – Trí Cao.
Ông Bát Nùng ra vào sinh tử
Trượng tung bay tuyết phủ hoa khai
Sá gì đạn lạc tên rơi
Trên đời hồ dễ mấy ai anh hào.
Thân bách chiến ra vào sinh tử
Đôi thần trùy nhẹ tựa hồng mao
Trần hoàn nhẹ gánh gian lao
Cõi trời do sổ Thiên Tào có tên.
Rước ông Bát về miền tiên giới
Đất Cao Bằng nhớ lại công ơn
Nhân dân thờ phụng khói hương
Nhớ người tráng sĩ hiên ngang anh hùng.
Thuở niên thiếu kiếm cung yên ngựa
Sinh vì đời, thác trợ muôn dân
Oai linh lẫm liệt thánh thần
Một lòng vì nước vì dân vì đời.
Gương anh khí sáng ngời muôn thuở
Trí hào hùng rạng rỡ non sông
Vinh quang thay giòng giống Lạc Hồng
Ngàn thu còn nhớ ông Bát Nùng Trí Cao
Thơ Lý Bạch anh hào ví sánh
Rượu Lưu Linh buồn tính vui say
Thừa nhàn bạch định thiên khai
Cờ thiên đế thích mộ tài tri âm
Kèn sáo trúc bổng trầm họ Lá
Lục huyền cầm Tử Bá nam xuân
Liên tâm ba chén tẩy trần
Thanh hương bình ngọc kỳ trân đượm mùi
Hồn quốc túy ấm lòng quân tử
Thú yên hà duyên nợ núi sông
Ngàn xưa tuyết nguyệt hoa phong
Thuốc lào Tiên Lãng ấm lòng thế gian
Khói thoảng ngát hương lan thú thảo
Thú phong lưu Vĩnh Bảo – Hải Đông
Sập vàng điếu ống thung dung
Ngự về trần thế đèn lồng kiệu hoa
Ai thành kính tại gia phụng sự
Thỉnh Ông về giá ngự đền trung
Xưa nay tắc tự hữu công
Dâng văn kính thỉnh Ông Bát Nùng Trí Cao.
Chú thích
- Quảng Nguyên: tên châu thời Lý, thời thuộc Minh thuộc về đất Uyên huyện, thời Lê đổi là châu Lộng Nguyên. Nay là đất các huyện Quảng Uyên, Phúc Hòa, Thạnh An, tỉnh Cao Bằng.
- Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr. 96.
- Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr. 96.
- Lôi Hỏa: tên động, ở phía tây bắc tỉnh Cao Bằng ngày nay. Các động Bình, An, Bà đều thuộc về đất tỉnh Cao Bằng.
- Tư Lang: nay là đất huyện Trùng Khánh và phần đất đông bắc huyện Quảng Hòa (vùng quanh Hạ Lang), tỉnh Cao Bằng.
- Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr. 99.
- Động Vật Ác: ở phía tây tỉnh Cao Bằng.
- Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr.103.
- Nxb Khoa Học Xã Hội – Hà Nội, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, tr.103.