Hậu thần bi kí

Hậu thần bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí
後神碑記
Kí hiệu: 2453/2454
Thác bản bia đình Phù Ninh (nay không còn), xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社, sưu tầm tại Thạch Sàng xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 62 x 97 cm, gồm 39 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 1800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Cảnh Hưng thứ 5 (1744).
Người soạn: họ Nguyễn 阮, tên hiệu: Thuận Kính Trai; học vị: đỗ Tam trường khoa Quý Sửu; chức vị: Thị nội Văn chức.
Chủ đề:
– Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.
– Sinh hoạt làng xã.

Nguyên văn chữ Hán

後 神 碑 記

扶寧社上中下三村奉事後神碑記

嘗謂有功德於民者民思而祀之,此天理之在人心,互古今之所全然也。

緬惟前司官正司官奉封陰馳威將軍僉總知濯壽伯加贈英烈將軍都指揮使司都指揮使濯壽候,乃鄉中之望人也。慈祥凱悌,得於天然。恬淡和平,蘊其至德。推世系則父傳子繼,厚積慶以貽謀;敘家風則祖肇宗培,擴善端而垂裕。宜乎厥後克昌有子也,好生有以養,而沒有以傳也歟!

睠茲郡夫人阮氏祿,迺尊公之令媛也。配與當朝侍北宮知侍內書寫工番正首號侍候衛左水奇該奇官侍內監司禮監總太監都督府都督同知基郡公海棠印路君子。傚宜紫閨,承風北司。絃籍既裕,鼎鍾之計;又推胞與之仁,頃者後起離宮。瑤疲淬歲,吾候一開口而道仁說義,斯民施免役而伸手揚眉。這段洪霈,不啻百金千緡,民之載之。

厥惟舊哉,值茲之時。六步方屯,四郊多壘。陌視湣錢,稱兩常資。既異於往時,朝馳東暮驚西。重役難支於目下,夫人見勢至而情到也。起當存之念,惟周隱之仁。遂惠許本社青錢餘二百貫,碩田外三十高,併?肥大武,以為會飲之需。一者多儀及物,順人情於既順之餘;二者有助孔郡,濟鄉役於未濟之頃。其澤編粉榆,陰施桑梓。一鄉之內,感其情慕其義。率相謂曰:吾鄉何幸有夫人之生於斯,民長於斯。其結榮聯寵,既足為吾鄉之光;厚澤深仁,又足為吾鄉之助。心乎愛矣,何以既之?與夫樂其樂,便其便,惟悅於一時,孰若尊親所親,奉承於萬世,庶答仁情之萬一可乎!眾口全辭,一唱百和。

因此本社上中二村官員鄉老社村長上下等,協保前濯壽候阮廷侍字福衍為本亭後神,逐節祭祀迎送如儀。其始自今,以及于千萬斯年,遂承不易也。然後知積善之家必有餘慶,直道之民最為徵俗。後之生斯邑,目斯碑,以前人之心德尊候之德,祭祀之必莊必敬,儀禮之無假無非,則吾候不淄不磷之霑,斯民易使易化俗與之而道傳矣。爰勒貞玉,民以壽其傳云。

時皇朝景興萬萬年之五歲在甲子季冬穀旦 癸丑科春試三場侍內文職僉知典幹敬順齊阮純夫撰

Phiên âm Hán Việt

Hậu Thần bi kí

Phù Ninh xã Thượng, Trung nhị thôn phụng sự Hậu Thần bi kí.

Thường vị hữu công đức ư dân giả dân tư nhi tự chi. Thử thiên lí chi tại nhân tâm cắng cổ kim chi sở đồng nhiên dã. Miến duy Tiền ti quan chánh ti quan phụng phong ấm Trì uy tướng quân Thiêm Tổng trì, Trạc Thọ bá, gia tặng Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, Trạc Thọ hầu. Nãi hương trung chi vọng nhân dã. Từ tường khải đễ, đắc ư thiên nhiên điềm đạm, hoà bình, ôn kỳ chí đức. Suy thế hệ, tắc phụ truyền tử, kế hậu tích khánh, dĩ di mưu thuật gia phong, tắc tổ triệu tông bồi khoáng thiện đoạn, nhi thùy dụ nghi hồ? Quyết hậu khắc xương hữu tử dã. Hiếu sinh hữu dĩ dưỡng nhi một hữu dĩ truyền dã dư.

Quyến tư Quận phu nhân Nguyễn thị, nãi Tôn công chi lệnh ái dã. Phối dữ đương triều thị Bắc cung tri Thị nội thư tả, Công phiên Chánh thủ hiệu Thị hầu vệ, Tả thủy cơ Cai cơ quan, Thị nội giám Ti lễ giám, Tổng thái giám, Đô đốc phủ Đô đốc Đồng tri, Cơ Quận công. Hải đường ấn lộ, quân tử du nghi, tử thác thừa phong. Bắc ti đàn tá, kí dụ đỉnh chung chi kế, hựu suy bào dữ chi nhân. Khoảnh giả hậu khởi li cung, giao bì tuý tuế. Ngô hầu nhất khai khẩu, nhi đạo nhân, thuyết nghĩa. Tư dân thi miễn dịch, nhi thân thủ dương mi. Giá đoạn hồng chiêm, bất đề bách kim thiên lũ, dân chi tải chi.

Quyết duy cựu tai, trị tư chi thời, lục bộ phương đồn tứ giao, đa luỹ mạch thị dẫn tiền xưng. Lưỡng thường tư kí dị ư vãng thời, chiêu trì đông, mộ vụ tây, trọng dịch nan chi ư mục hạ. Phu nhân kiến thế chí nhi tình đáo dã, khởi đương tồn chi niệm. Duy chu ẩn chi nhân, toại huệ hứa bản xã thanh tiền dư nhị bách quan, thạc điền ngoại tam thập cao, tính ? phì đại vũ dĩ vi hội ẩm chi nhu. Nhất giả, đa nghi cập vật, thuận nhân tình ư kí thuận chi dư; nhị giả, hữu trợ khổng quận tế hương dịch ư vị tế chi khoảnh. Kỳ trạch biến phần du ấm, thí tang tử. Nhất hương chi nội, cảm kỳ tình, mộ kỳ nghĩa, suất tương vị viết: “Ngô hương hà hạnh hữu Phu nhân chi sinh ư tư, trưởng ư tư. Kỳ kết vinh liên sủng, kí túc vi ngô hương chi quang, hậu trạch thâm nhân, hựu túc vi ngô hương chi trợ tâm hồ? Ái hĩ, hà dĩ chúc chi? Dữ phù lạc kỳ lạc, tiện kỳ tiện. Duy duyệt ư nhất thời, thục nhược tôn sở tôn, thân sở thân, phụng thừa ư vạn thế, thứ đáp nhân tình chi vạn nhất, khả hồ?” Chúng khẩu đồng từ, nhất xướng bách họa.

Nhân thử bản xã Thượng, Trung nhị thôn quan viên, hương lão, xã thôn trưởng thượng hạ đẳng hiệp bảo tiền Trạc Thọ hầu Nguyễn Đình Thị, tự Phúc Diễn vi bản đình Hậu Thần. Trục tiết tế tự, nghênh tống như nghi. Kỳ thủy tự kim dĩ cập vu thiên vạn tư niên, tuân thừa bất dịch dã. Nhiên hậu tri tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Trực đạo chi dân tối vi huy tục. Hậu chi sinh tư ấp, mục tư bi dĩ tiền nhân chi tâm, đức Tôn hầu chi đức. Tế tự chi tất trang, tất kính; nghi lễ chi vô giả vô phi, tắc ngô hầu bất truy, bất lân chi chiêm. Tư dân dị sử dĩ hoá chi tục dữ chi nhi tính truyền hĩ. Viên lặc trinh mân dĩ thọ kỳ truyền vân.

Thời, Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi ngũ, tuế tại Giáp Tý, quý đông, cốc đán. Quý Sửu khoa xuân thí tam trường Thị nội văn chức Thiêm tri Điển hàn, Kính Thuận Trai Nguyễn thuần phụ soạn. Kê:

Dịch nghĩa Tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Văn bia ghi về hai thôn Thượng và Trung thuộc xã Phù Ninh phụng thờ Hậu Thần.

Thường nghe: người có công đức với dân, tất dân nhớ ơn và thờ cúng. Lẽ trời là ở lòng người vậy. Từ xưa tới nay đều như thế cả. Kính nghĩ: vị Trạc Thọ bá, nguyên là Chánh ti quan ở Ti quan, được ấm phong là Trì uy tướng quân, Thiêm Tổng tri; gia ban chức Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, tước Trạc Thọ hầu, là người được trọng vọng trong làng. Ông hiền lành, kính trên nhường dưới, vốn tính trời điềm đạm, ôn hoà, rất mực đức độ. Suy về dòng dõi, thì cha truyền con nối, tích góp phúc đức truyền cho cháu con; kể về gia phong, thì ông đắp cháu bồi, chăm làm điều thiện để mong tốt đẹp cho hậu thế. Quả như vậy, đời sau được thịnh vượng, có con hiếu thảo. Lúc sinh thời, được hàm dưỡng, khi qua đời được nối truyền.

Nay Quận phu nhân Nguyễn thị là con gái của quý ông, lấy chồng là vị quan đương triều, chức Thị Bắc cung tri Thị nội thư tả, Công phiên chánh thủ hiệu Thị hầu vệ, Tả thủy cơ Cai cơ quan, Thị nội giám Ti lễ giám, Tổng Thái giám, Đô đốc phủ Đô đốc Đồng tri, tước Cơ Quận công. Phu nhân như hạt sương hoa Hải đường, sánh duyên cùng quân tử, tước lộc gia ban. Bắc cung đèn sách, quan hầu đã vì xã tắc mà hiến mưu dâng kế, lại vì nghĩa tình mà thắm mặn lòng nhân. Ít lâu sau, có việc dựng li cung, công lao dịch quanh năm mệt nhọc. Ngài cho nhân ban nghĩa, dân này được miễn thuế mà nhàn nhã nói cười. Hồng phúc ấy sánh tây trăm vàng ngàn bạc, mà dân ơn đội. Đó là chuyện xưa. Còn trong buổi nay, sáu bước một đồn, bốn phương hào luỹ, tiền xâu bạc nén mới xong. Nay đã khác xưa, sớm chạy đông, chiều đuổi tây, sưu dịch nặng nề. Thế rồi, phu nhân thấy thời thế mà lòng đầy xao xuyến. Dậy lòng trắc ẩn, rộng tình bao dung, bèn cho xã nhà khoảng 200 quan tiền xanh, ngoài ba chục sào ruộng tốt và một con lợn béo để lo việc yến ẩm hội hè. Một là cho trọn nghi thức, lễ vật để thuận tình hoà thuận; hai là giúp đỡ chân tình, cứu xóm làng trong cơn bối rối. Ân trạch ấy thấm khắp cành cây, ngọn cỏ. Cả làng cảm chữ tình, mộ cái nghĩa, bèn bảo nhau rằng: “Làng ta sao may mắn thế, có phu nhân sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, được kết vinh hoa, được ban sủng ái. Có thể nói là người được ân lớn, tình sâu của làng ta và cũng là người mặn tình làng, nghĩa xóm. Dân ta biết lấy gì mà đền đáp đây? Vui với niềm vui, đến với điều đã đến. Nhưng vui cũng chỉ nhất thời, chi bằng tôn vinh người đáng tôn vinh, gần gũi người đáng gần gũi để phụng thờ họ đến muôn đời, ngõ hầu may chẳng đáp đền muôn một”.

Thế là muôn người như một, cùng đồng thanh tán thưởng. Nhân đó, các vị quan viên, hương lão, xã thôn trưởng trên dưới của hai thôn Thượng và Trung trong xã cùng tôn bầu cha của phu nhân đã quá cố là Trạc Thọ hầu Nguyễn Đình Thị, tự Phúc Diễn làm Hậu Thần của đình ta. Cứ đến ngày tuần tiết, tế tự, rước tiễn như nghi thức. Từ xưa tới nay và ngàn vạn năm sau vẫn tôn thờ mãi mãi, không đổi thay. Cũng là để đời sau biết được rằng: nhà tích thiện, tất có phúc lộc, khiến cho người dân biết coi đạo lí làm đầu mới là tục lệ đẹp. Người đời sau sinh ra ở làng này, khi đọc bia này, thì thấy được tâm đức của người xưa, công đức của Tôn hầu mà cúng lễ trang nghiêm, tôn kính. Nghi lễ cúng thờ không gián đoạn, không lãng quên, đó cũng là để ân trạch của quan hầu không phai lạt. Lấy tục lệ đó mà giáo dạy dân làng lưu truyền mãi mãi. Bèn khắc lên đá để truyền dài lâu.

Ngày lành tháng cuối đông năm Giáp Tý, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 5 (1744), Nguyễn thuần phụ, thi đỗ tam trường khoa Quý Sửu (1733), chức Thị nội văn chức Thiêm tri điển hàn soạn văn bia.

Kê:

Tiền xanh tổng cộng là 130 quan cổ tiền và ruộng tốt 3 mẫu ở các xứ sở:

Xứ Cầu Lỗi 1 mảnh sào 5 thước, 1 mảnh 2 sào 4 thước, 1 mảnh 14 thước, 1 mảnh 13 thước. Xứ Đồng Mẫn 1 mảnh 12 thước, 1 mảnh 13 thước, 1 mảnh 12 thước. Xứ Hậu Nậu 1 sào 5 thước. Xứ Đồng Lỗi 1 mảnh 2 sào 8 thước, 1 mảnh 1 sào 2 thước, 1 mảnh 11 thước, 1 mảnh 1 sào 5 thước, 1 mảnh 2 sào 7 thước. Xứ Ngõ Tối 1 sào, xứ Đồng Xa 13 thước, xứ Dịch 12 thước.

Ngày giỗ 18 tháng 8, sắm 13 cỗ, mỗi cỗ xôi 10 đấu, gà 1 con giá 2 mạch tiền sử, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong kính cẩn cúng lễ.

Lễ chạp vào ngày 18 tháng 12, sắm 7 cỗ, mỗi cỗ xôi 10 đấu, gà 1 con giá 2 mạch tiền sử, rượu 1 chai, cau trầu 1 phong, kính cẩn cúng lễ. Lễ xong, biếu bản tộc 1 cỗ, chủ tế 1 cỗ, Tư văn bồi bái 1 cỗ, số còn lại chia đều cho những ai có mặt.

Lễ nhập tịch ca hát vào tháng 2, người cấy 4 sào ruộng nộp mỗi sào 1 quan tiền sử để làm cỗ. Ruộng 4 sào 1 thước ở xứ Đồng Lỗi. Vào lễ nhập tịch, ca xướng, các quan viên và phù giá (người rước kiệu) trong xã rước tiền Tôn công, tề chỉnh. Ruộng 1 sào, nộp 8 mạch sử tiền. Ruộng này giao cho đương niên (người đảm nhận cúng lễ năm đó) cày cấy.

Lệ hoá vàng ngày 25 tháng 12, có ruộng 1 sào ở xứ Đồng Mẫn giao cho đương niên cày cấy, sắm lễ vật.

Tiết lễ các ngày sóc, vọng (rằm, mùng một trong tháng) có ruộng 4 sào, mỗi tháng sắm 2 đĩa xôi, mỗi đĩa 2 đấu gạo, cau trầu 1 phong.

Nay lập đoan ước.

Xã sử Thạch Duy Tôn ký, Xã tư Nguyễn Danh Thiên ký, Đào Cảnh Luân chức Thiêm tri Lễ phiên Viên ngoại lang ký, Nguyễn Gia Tu chức Thiêm tri Điển cán ký, Đào Thế Lạp chức Tri huyện ký. Đồng Tri phủ Nguyễn Bá Cận ký, Điện tiền Nguyễn Thọ Thuyên ký. Huyện thừa Nguyễn Ánh, Huấn đạo Nguyễn Trọng Dung, Bào chính Nguyễn Thọ Nho, Nho sinh trúng thức bình Nguyễn Nho ký. Giám sinh Nguyễn Khắc Thiệu, Giám sinh Phạm Tòng Thạch, Nho sinh Nguyễn Thọ Xuân, Quan viên tử Nguyễn Công Cẩn, Thủ khoán Nguyễn Thọ Ích, Cai hợp Nguyễn Thọ Bình, Cai hợp Nguyễn Thọ Đạo, Quan viên tử Nguyễn Thọ Chính.

Hương lão Nguyễn Chiếu.

Thôn trưởng Nguyễn Đăng Lâm, Thôn trưởng Nguyễn Cẩn, Nguyễn Văn Dũng.

Trung nam Nguyễn Văn Triết, Nguyễn Văn Tân, cùng trên dưới hai thôn ký bầu.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 335 – 344.

Chấm điểm
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)