Hậu thần bi kí

Hậu thần bi kí

Thông tin cơ bản

Hậu thần bi kí
後神碑記
Kí hiệu: 2497/2498
Thác bản bia đình thôn Hạ xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn 慈山府東岸縣扶寧社下村, sưu tầm tại xã Phù Ninh tổng Hạ Dương phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
Thác bản 2 mặt, khổ 70 x 137 cm, gồm 36 dòng chữ Hán và Nôm, toàn văn ước khoảng 1000 chữ, có hoa văn, không có chữ húy.
Niên đại: Vĩnh Hựu thứ 3 (1737).
Người soạn: không ghi.
Chủ đề:
Bầu Hậu, gửi giỗ, biểu dương việc thiện.

Phiên âm Hán Việt

Hậu Thần bi kí

Từ Sơn phủ Đông Ngạn huyện Hạ Dương tổng Phù Ninh xã Hạ thôn sắc mục Lê Tuấn Tài, Thạch Đức Tuấn, xã trưởng Thạch Như Tích… bản thôn thượng hạ đẳng.

Thiết văn: hậu kì sở hậu, đầu đào cửu biểu ư hồng ân; tôn kì sở tôn, báo lí cảm vong ư đại nghĩa. Phàm hữu đức công ư tư thế, nhậm vi phụ mẫu ư tư dân. Quyền tư Thị bắc cung phụng sai thị trù đội, tri Công tượng phó thủ hiệu, tiền Tượng cơ phó Cai quan phó, tri Thị nội Thư tả Công phiên, Thị cận thị nội giám ti lễ giám Tổng thái giám, Đô hiệu điểm ti Hữu hiệu điểm, Cơ Quận công. Thế Quận phu nhân Nguyễn Thị Lộc, tính nhất đoan trang, ôn cung từ ái. Khuê môn chi nội, vạn hoà xuất yên; lệnh đức chi đoan, quán tính lạc nhi. Viu thả thuộc quân tử khinh tài chi đại tiết, mộ từ bi tế thế chi bà tâm. Huệ thí vong khổn ư thân sơ, lệnh ái mối đồng ư chúng thứ. Bất dĩ phi điền vi trọng hứa bản thôn từ mẫu phán canh, bất dĩ sao tiền vi sùng cấp bản thôn nhị bách quan thực. Gia nhân lạc kì hằng túc, phát bách nhuận kì dư ba. Cử giai kính mộ hân hân yên. Cộng nguyện suy bảo quý Hậu tiên khảo, tiền tặng Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ, Trạc Thọ hầu Nguyễn tướng công tự Đình Thi thụy Phúc Diên phủ quân; tiền tỉ tiền phong ấm lệnh nhân Nguyễn quý thị, hiệu Diệu Khánh, nhị vị vi Hậu Thần. Hệ đệ niên tiền khảo chính kị bát nguyệt thập bát nhật, tiền tỉ chính kị thất nguyệt thập tứ nhật, dữ nhị cao nhật, cập thường tân, lạp tiết, nhập tịch, kì phúc đẳng lễ tính tuân lệ nội, phụng tự như nghi. Thảng hậu bản thôn nhân phế phụng tự nhi bội tiền ân, tất phó thiên địa chu diệt, cập hậu tộc nội nhi đoạt canh chủng, cộng nguyện thiên địa chu chi. Dĩ cố sơn hà chi thệ, dĩ minh tư điền chi nghi. Đại tiểu nhất tâm kì bảo, dĩ hiệp cựu dĩ kì sự, lại thỉnh hạnh mông đình thác. Viên thuyên vu thạch, văn dĩ truyền vu lai thế, tỉ hậu tri sơn ân, hải đức, hương hoả vô cùng, dĩ biểu di phương tôn hậu đạo văn. Sở hữu huệ hứa sao tiền, phi điền cập phụng tự các lễ, phụ khắc vu tả. Kê:

Hoàng triều Vĩnh Hựu vạn vạn niên chi tam, tuế tại Đinh Tỵ đông tiết cốc nhật.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Bia Hậu Thần

Sắc mục thôn Hạ xã Phù Ninh tổng Hạ Dương huyện Đông Ngạn phủ Từ Sơn gồm Lê Tuấn Tài, Thạch Đức Tuấn, xã trưởng Thạch Như Tích, hương lão Phạm Công Đô, Nguyễn Văn Thái, Lê Công Trực, Phạm Viết Tu, Lê Đăng Dung, Thạch Ngọc Đường, thôn trưởng Phạm Viết Toán, Nguyễn Đắc Sĩ, Lê Tiến Lễ, Lê Đăng Quý, Bùi Đăng Động, Phạm Viết Tuấn, Lê Tiến Tố, Nguyễn Hữu Trung, Nguyễn Đăng Minh, Nguyễn Như Trác, trung nam Bùi Đăng Châu, Nguyễn Văn Sinh, Lê Tiến Tài, Lê Tiến Huy, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Tiến Quang, Lê Văn Diệu, Bùi Đăng Quý, Phạm Trương Khuê, Nguyễn Công Cẩn, Thạch Gia Tư, Lê Văn Chu, cùng toàn thôn trên dưới, thiết nghĩ:

Hậu hĩ với người hậu hĩ, cho quả đào mãi nêu ơn lớn; tôn quý người tôn quý, trả quả mận không quên nghĩa trọng. Phàm là người có công đức ở đời này, thì đều được xứng danh là cha mẹ của dân này. Kính thay! Vị Thị bắc cung, phụng sai Thị trù đội, tri Công tượng phó Thủ hiệu, tiền Tượng cơ phó Cai quan phó, tri Thị nội Thư tả Công phiên, Thị cận Thị nội giám ti lễ giám Tổng thái giám, Đô hiệu điểm ti Hữu hiệu điểm, Cơ Quận công và vợ là Quận phu nhân Nguyễn Thị Lộc. [Lệnh bà] tính tình điềm đạm, đoan trang, hoà nhã nhân từ. Cửa nhà mọi việc chu tường, đức lớn muôn người ơn đội. Lại nữa, khí tiết sánh bậc quân tử, coi nhẹ tiền tài; chuộng lòng bà tâm, từ bi cứu đời. Bố thí tiền của không phân biệt thân sơ, yêu quý mọi người không kể sang hèn. Chẳng những bỏ ruộng tốt 4 mẫu cho dân thôn chia nhau cày cấy, mà còn lấy tiền của 200 quan phát đều cho dân làm kế sinh nhai. Gia nhân mừng vui sung túc, người già thừa hưởng ơn ban. Hết thảy đều tôn kính hoan hỉ, mà cùng nhau suy tôn cha của quý Hậu là Trạc Thọ hầu Nguyễn tướng công tự Đình Thi, thụy Phúc Diên phủ quân, từng được phong tặng là Anh liệt tướng quân, Đô chỉ huy sứ ti Đô chỉ huy sứ và mẹ quý Hậu là Nguyễn Quý thị hiệu Diệu Khánh, vốn được phong là ấm lệnh nhân, làm Hậu Thần.

Hằng năm vào kì giỗ vị tiền khảo (cha) 18 tháng 8 và tiền tỉ (mẹ) ngày 14 tháng 7, cùng hai kì cáo nhật, lễ thường tân, lễ chạp, nhập tịch, kì phúc đều cúng lễ theo như nghi thức. Sau này, nếu có người trong thôn bỏ cúng lễ, vong ơn, bội nghĩa, thì đã có trời đất chu diệt. Còn như người trong tộc họ nếu đoạt lại ruộng đất cày cấy, thì cùng xin trời đất chu diệt. Có như vậy mới làm bền vững lời thề sông núi, làm sáng ngời nghi lễ thờ cúng. Già trẻ trên dưới đồng tâm ghi lòng tạc dạ, mọi người ghi lại, cho khắc lên đá để truyền dài lâu. Khiến cho đời sau biết được ơn nặng như núi, đức lớn như biển này, mà đèn nhang thờ cúng muôn thừa, để lưu mãi tiếng thơm, giữ mãi đạo nghĩa tốt đẹp này vậy. Có tiền, ruộng và các tiết cúng giỗ kê ra sau đây:

– Tiền cổ 200 quan.

– Ruộng tốt tại các xứ đồng cộng 4 mẫu 2 sào: xứ Hai Đạc Thượng 1 mảnh 8 sào 6 thước, xứ Hai Đạc Trung 1 mẫu 8 thước 2 tấc, xứ Hai Đạc Hạ 2 mẫu 1 sào 8 tấc.

Ngày lành tiết đông năm Đinh Tỵ, niên hiệu Vĩnh Hựu 3 (1737).

Các lệ thờ cúng:

– Hai lễ cáo nhật, mỗi lễ xôi 1 mâm bằng 5 đấu gạo, gà 1 con, rượu 1 chai, giấy tiền 100 tờ, cau hương, đèn nhang đủ dùng, chuẩn giá 2 mạch tiền cổ. Lễ vật dâng lên từ đường, tế lễ như nghi thức.

– Hai lễ giỗ, mỗi lễ xôi 6 mâm, mỗi mâm 5 đấu gạo, lợn 1 con giá 1 quan 5 mạch, rượu 1 vò giá 3 mạch cổ tiền, giấy tiền 500 tờ, cau trầu hương hoả đủ dùng, giá 2 mạch cổ tiền. Sáng sớm hôm đó, dâng cả lễ vật lên từ đường, sắc mục bái lễ, tư văn ứng tế y như nghi thức cúng thần. Mỗi giỗ biếu bản tộc, quan viên 1 mâm xôi tương đương 1 đấu gạo; nghênh bái, ứng tế 1 khoang cỗ lợn, 1 mâm xôi. Còn lại chia đều cho mọi người có mặt tại đó thụ lộc.

– Lễ thường tân, tế lễ tại đình trung y như lễ sự thần.

– Tiết chạp vào ngày 18 tháng 12, xôi 4 mâm bằng 5 đấu gạo, gà 1 con, rượu 1 chai, cau trầu đủ dùng tương đương 2 mạch tiền cổ. Lễ vật dâng trước từ đường, cúng lễ như nghi thức. Lễ xong, biếu tộc họ 1 mâm, chủ tế, ứng tế 1 mâm; còn lại chia đều cho mọi người có mặt tại đó thụ lộc.

– Lễ nhập tịch vào tháng 2, sắc mục, xã thôn trưởng ăn mặc tề chỉnh, trung nam rước cờ trống, nghi trượng, đến từ đường làm lễ. Xôi 2 mâm, gà 2 con, giấy tiền 100 tờ, cau trầu, đèn nhang đủ dùng. Lễ xong, biếu tộc họ 1 mâm. Cả thôn rước bài vị thờ về nơi cũ yên vị rồi, thì hôm sau tổ chức ca hát. Mỗi ngày ca hát, xôi 1 mâm 5 đấu gạo, gà 1 con, rượu 1 chai, cau trầu đủ dùng giá 2 mạch tiền cổ.

– Nếu năm nào không làm lễ nhập tịch mà chỉ làm lễ cầu phúc, thì lễ vật cúng vẫn y như vậy, dâng lên đình trung tế lễ, nhưng không có rước lễ.

– Ruộng 2 sào cho tư văn cày cấy để vào ngày 6 tháng 3 lo việc tế lễ.

Các vị Hậu Thần, cùng các vị Tiên thánh Tiên hiền phối hưởng.

Nguồn: Đinh Khắc Thuân (khảo cứu, giới thiệu), Văn bia làng Nành, Nxb. Khoa học xã hội, 2003, tr. 367 – 372

Chấm điểm
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)