Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Vân Hồ có tên chữ là Sách Tào tự, cũng còn có tên khác là Linh Thông tự, trước kia thuộc thôn Hậu Phong Vân, tổng Tả Nghiêm, huyện Thọ Xương, nay ở số 40, phố Lê Đại Hành, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Theo truyền thuyết, chùa Vân Hồ được xây dựng từ thời nhà Trần trên nền cũ “Nhà đọc sách” của hoàng tử Uy Đô Linh Lang, con vua Trần. Linh Lang là người nhà trời đầu thai xuống hạ giới làm con vua nhà Trần. Hoàng tử Linh Lang học tập rất thông minh, lớn lên xuất gia tu Phật, khi giặc Nguyên – Mông xâm lược Việt Nam, hoàng tử xin đi đánh giặc, lập nhiều chiến công lớn. Sau khi dẹp yên giặc, Linh Lang xin vua và được vua cho phép dựng một ngôi nhà ở bên hồ lớn Phong Vân gọi là “Đọc thư viện” để nghiên cứu thiền học. Khi hoàng tử mất, nhân dân trong vùng lấy nền “Nhà đọc sách” cũ dựng chùa gọi tên là “Sách Tào”. Năm 1814, ni sư Tịnh Nịch cho trùng tu lại chùa rồi đổi thành “Linh Thông tự”.
Hiện nay, ngoài thờ Phật chùa còn thờ thánh Uy Linh Lang. Thần tích Uy Đô Linh Lang chép: “Vương vốn dòng dõi Hồng Bàng, cháu con Bách Việt… Đại vương thuộc tộc Giao (long). Trưởng là Giáp Xích, hiệu Uy Linh Lang cùng với sau người em đều được thụ phong ở đất này. Đó là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp. Tử Giáp. Về sau anh linh rờ rỡ, giúp dân độ vật, nhiều lần hiển ứng, được tôn sùng phong tặng.
Đến đời Trần Thánh Tông, chính cung Minh Đức hoàng hậu chưa có con nối dõi, thường hay đến đền này cầu đảo. Hơn nữa mỗi lần tới đây, bà thấy thêm yêu phong cảnh ở Ngưu Uyên này. Bỗng một hôm nằm nghỉ trưa, bà nằm mơ thấy một người mặt đẹp như ngọc, môi đỏ như son, đầu đội mũ mây, mặc áo bào gấm, đến trước mặt bà cúi chào và nói:
“Tôi là Uy Linh Lang, làm vương ở đất này đã lâu. Nay gặp thánh giá tới đây, bao nhiêu ân sủng. Hôm qua nhân tâu lên Thiên cung, được đội ơn cho phép xuống trần gian.”
Phút chốc bà tỉnh dậy (thấy lòng rạo rực) tự nhiên có thai. Trải qua 14 tháng đến giờ Tỵ ngày 2 tháng Hai năm Ất Sửu bà sinh ra một bọc thai, nhưng cho đó là điềm chẳng lành, bèn ngầm sau cung nữ giấu vào cái thúng mang vứt đi. Những người qua lại đây thấy lạ, nhưng chỉ dám đứng xa nhìn vào, không dám lại gần. Khi mặt trời lên cao bằng ba con sào, bỗng nhiên nghe tiếng bọc thai vỡ ra, tiếng nổ như sấm. Dân làng vội chạy tới xem, thì thấy bào thai đã vỡ, hiện ra một cậu con trai nằm ngửa trong chiếc thúng, khóc tiếng (lanh lảnh) như chuông. Thế rồi xa gần huyên náo, tiếng đồn lan tới tận trong cung. Hoàng hậu cho là lạ, lai sai cung nữ ngầm ra xem sao. Cung nữ thấy cậu bé dáng vẻ thanh tú, lẫm liệt, đĩnh ngộ lạ kỳ bèn trở về thưa lại với vua. Vua cưới nói:
- Ngày xưa nàng nguyên phi họ Cao Tân, tên là Khương Nguyên sinh ra Hậu Tắc cũng giống như vậy, sao có thể gọi là yêu quái được?
Thế rồi đem vào cung nuôi dưỡng. Được năm tháng thì biết nói, đầy tuổi biết đi. Đi đứng, ngồi nằm dáng vẻ hệt như người lớn. Vua cho rằng cậu bé sau này ít ra cũng trở thành người tài giỏi nên càng yêu mến, quyến luyến, đêm ngày sủng ái và đặt tên cho là Uy Lang. Khi lớn lên thông minh tài trí, học hành uyên bác, xa gần ai nấy đều ngợi khen. Đến năm hai mươi tuổi chàng thích nhất là được đi du ngoạn các nơi, bèn dâng biểu lên hoàng hậu xin được xuất giá. Vua và hoàng hậu đều bằng lòng, chàng bèn đổi mặc áo thường dẫn đến học đạo, thụ nghiệp pháp giáo tại nhà ông Triệu Long Khang ở ấp Vũ Điện, huyện Nam Xương. Chưa đầy một năm mà kinh sách cửa Phật tất thảy đều làu thông. Ngày tháng trôi đi, chàng học thêm được nhiều điều bổ ích, trở thành người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, cửu lưu tam giáo, không chỗ nào không hiểu biết tường tận và giỏi hơn cả là kệ từ các thuyết (các sách kinh Phật). Sa môn, tăng chúng tất thảy đều khâm phục học vấn cao diệu của ông. Hoàng hậu nghe thấy mọi người ngợi ca, liền sai sứ giả đón ngài về kinh, ban cho ấp ở Bình Thọ, Nam Giao và cấp cho lương tháng, để mỗi khi rảnh rỗi an dưỡng tinh thần, cứ như vậy được hơn 20 năm.
Đến đời vua Trần Nhân Tông, tướng Nguyên là Toa Đô đem hơn 40 vạn quân, chia làm hai đường thủy bộ tiến vào cướp nước ta. Trong nước rối loạn, ở khắp nơi từ triều đình tới thôn dã tất thảy đều sợ sệt, hoang mang. Một ngày bốn năm lần kinh động… Nhưng ngài lại hiên ngang phấn chấn nói:
– Con người ta sinh ra ở đời phải lẫm liệt hơn người, tỏ rõ là bậc đại trượng phu, chí khí ở tứ phương, nơi chiến trường da ngựa bọc thây. Nếu không liều chết cứu dân trong lúc gian nan thì lấy gì ghi tên sử sách, để tiếng cho đời sau?
Ngài bèn dâng biểu bày tỏ phương lược diệt giặc, tự mình lập quân hưng nghĩa để diệt trừ giặc mạnh. Vua ngợi khen ý chí của ngài và đồng ý. Thế rồi ngài thu thập môn hạ, dựng cờ nghĩa, chiêu mộ sĩ tốt, tinh nhuệ được hơn một vạn người, phân bổ các đội, rèn luyện trận pháp, tự lấy hiệu là Thiền tử quân, phục kích, tiến đánh giặc Nguyên, phá tan quân giặc ở Bàn Than. Quân của ngài thừa thắng truy kích, lại đánh tan quân Nguyên ở sông Đông Mai, hội với các cánh quân của Hưng Đạo, Nhật Duật ở Vạn Kiếp. Quân doanh đầy đủ, lại tiến đánh quân Nguyên ở Màn Trù, nhổ trại Đông Kết, một ngày giao chiến tám lần, cả tám lần đều thắng, chém hơn ba vạn tên. Bắt sống tướng giặc Lý Hòa La và rất nhiều binh lính. Người Nguyên từ đó sợ, không dám tiến đánh nước ta nữa. Từ đó đất nước yên tĩnh, cảnh tượng thanh binh trở lại.
Về sau, do có công đánh giặc Nguyên, ngài được phong là DÂM ĐÀM ĐẠI VƯƠNG. Năm ấy ngài ba mươi sáu tuổi. Giờ ngọ ngày mồng 8 tháng Tám năm Canh Tý, ngài không bệnh mà mất . Vua và hoàng hậu thương xót khôn nguôi bèn lập miếu thờ ở nơi trước kia vứt bọc thai, đặt tên là điện Nhật Chiêu, còn gọi là điện Linh Bảo, còn một tên nữa là Linh Lang thánh từ, xây dựng đền thờ ở Bình Thọ để ban khen bậc minh đức. Thinh mid giới t đất. Đến đời vua Trần Nghệ Tông, thần do có công ngầm giúp, lại được ban thêm mỹ tự là Dực chính Hiển ứng phu hựu đại vương. Sáu người em cũng được phong tặng: Bạch Giáp là Chu Mạ đại vương, Hoàng Giáp là Minh Khiết đại vương, Hắc Giáp là Vương Duy đại vương, Thanh Giáp là Đông Nga đại vương, Chu Giáp là Ba đại vương, Tử Giáp là Đông Ngải đại vương… đến nay anh linh càng hiển ứng, trải các triều đều được phong tặng. Ngôi đền hiện còn ở phủ Phụng Thiên, huyện Quảng Đức, phường Yên Phụ, ở đó liền với trại Thủ Lệ…” [1]
Kiến trúc cảnh quan
Trải qua mấy trăm năm lịch sử, chùa Vân Hồ đã nhiều lần đổ nát rồi lại được trùng tu. Ngày 7/10/2010, buổi lễ khánh thành chùa và gắn biển công trình kỷ niệm 1000 năm Thăng Long được tổ chức long trọng. Hệ thống kiến trúc của chùa gồm Tam Quan, Tiền Đường 5 gian, Hậu Cung 3 gian, nhà ngang 9 gian, Nhà Mẫu 3 gian và khu tháp mộ. Nguyên liệu xây dựng chủ yếu là gỗ lim và đá Thanh Hoa tạo ra những đường nét hài hòa, tinh tế. Kết hợp với những nét chạm trổ tinh xảo của các bức hoàng phi, những chạm long của án gian thờ, trên các cánh cửa chùa,cột đá. Bức phù điêu của các nghệ nhân được mài giũa trở nên tinh tế, sắc sảo.
Phía sau chùa là khu vườn tháp với 11 ngôi tháp Tổ cao ba tầng, được bao quanh bởi hệ thống tường bao khép kín. Chùa Vân Hồ, với lịch sử và kiến trúc độc đáo, không chỉ là di tích văn hóa quốc gia mà còn duy trì vẻ thiêng liêng và sự kết hợp độc đáo giữa cổ kính và hiện đại.
Hiện vật
Chùa còn lưu giữ được 12 bia đá, có tấm bia khắc năm Gia Long thứ 13 Giáp Tuất (1814); 1 đôi rồng đá của thế kỷ XVII; 8 cửa võng, 15 bức hoành phi, 12 câu đối; 1 chuông đồng lớn. Hệ thống tượng thờ gồm 50 pho theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII – XVIII.
Xếp hạng
Chùa Vân Hồ đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1988.
Chú thích
[1] Lê Trung Vũ, Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội, 2001, tr. 645 – 649.
Tham khảo
- Lưu Minh Trị (2010), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 2, Nxb Hà Nội
- Lê Trung Vũ (2001), Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội.
_____________________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Vân Hồ Pagoda, situated at 312 Bà Triệu Street, Lê Đại Hành Ward, Hai Bà Trưng District, Hanoi, is recognized for its solemn and ancient ambiance. This temple, also known as ‘Tào Sách tự’ or ‘Linh Thông tự,’ holds significant cultural and historical values. According to folklore, it was constructed during the Tran Dynasty on a site called ‘Thư viện,’ where meditation and contemplation were practiced. Over time, the pagoda underwent relocation during the colonial period.
In recent years, restoration efforts led by Venerable Thích Đàm Hợp and Master Thích Đàm Nhung, along with Buddhist followers, have been carried out. Notably, Vân Hồ Pagoda has become a focal point in Hanoi’s preparations for the 1000th anniversary of Thăng Long.
The architectural style adheres to Buddhist principles, with Lim wood and Thanh Hoa stone contributing to the harmonious and refined lines. The complex includes a three-gate entrance, a clean courtyard, Tam Bảo tower, Mother’s Temple, Saint’s altar, and Ancestor’s hall. Behind the main complex lies a tower garden with 11 three-story ancestral towers, enclosed by a closed wall system.
Vân Hồ Pagoda is not only a national cultural heritage site but also a blend of antiquity and modernity, maintaining its sacredness and cultural significance.
Tiếng Trung (Chinese)
云湖寺位于河内市海河区的Lê Đại Hành区312巴妙街,以其庄严和古老的氛围而闻名。这座寺庙,又被称为“Tào Sách tự”或“Linh Thông tự”,具有重要的文化和历史价值。根据民间传说,它是在陈朝时期建造的,位于一个被称为“图书馆”的地方,是冥想和默念的场所。随着时间的推移,在殖民时期,寺庙经历了搬迁。
近年来,由Thích Đàm Hợp大师和Thích Đàm Nhung大师与佛教信徒领导的修复工作已经展开。值得注意的是,云湖寺已成为河内市为庆祝Thăng Long千年历史纪念而做的准备的焦点。
建筑风格遵循佛教原则,利木木材和清化石为其增添了和谐而精致的线条。该寺庙包括一个三门入口,一个干净的庭院,Tam Bảo塔,母亲庙,圣坛和祖先大厅。在主要建筑物后面是一个拥有11座三层祖先塔的塔楼花园,被一套封闭的墙体系统包围。
云湖寺不仅是国家文化遗产,还是古老和现代的结合,保持了其神圣性和文化意义。
Tiếng Pháp (French)
Le temple Vân Hồ, situé au 312 rue Bà Triệu, quartier Lê Đại Hành, district Hai Bà Trưng, Hanoï, est reconnu pour son ambiance solennelle et ancienne. Ce temple, également connu sous le nom de ‘Tào Sách tự’ ou ‘Linh Thông tự’, porte des valeurs culturelles et historiques significatives. Selon la tradition populaire, il a été construit pendant la dynastie des Tran sur un site appelé ‘Thư viện’, où la méditation et la contemplation étaient pratiquées. Avec le temps, le temple a été déplacé pendant la période coloniale.
Ces dernières années, des efforts de restauration dirigés par le vénérable Thích Đàm Hợp et le maître Thích Đàm Nhung, avec la participation de fidèles bouddhistes, ont été entrepris. Notamment, le temple Vân Hồ est devenu un point focal dans les préparatifs de Hanoï pour le millénaire de l’histoire de Thăng Long.
Le style architectural respecte les principes bouddhistes, avec du bois de lim et de la pierre de Thanh Hoa contribuant aux lignes harmonieuses et raffinées. Le complexe comprend une entrée à trois portes, une cour propre, la tour Tam Bảo, le temple de la Mère, l’autel du Saint et la salle des Ancêtres. Derrière le complexe principal se trouve un jardin de tours avec 11 tours ancestrales de trois étages, entouré d’un système de murs clos.
Le temple Vân Hồ n’est pas seulement un site du patrimoine culturel national, mais aussi un mélange d’antiquité et de modernité, préservant sa sacralité et sa signification culturelle.