Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Duệ Tú có tên chữ là “Quảng Khai tự” (chùa Quảng Khai) từ thời Lê trở về trước chùa thuộc xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Thời Hậu Lê mang tên thôn Khánh Duệ. Thời Nguyễn, thuộc địa dư thôn Tiền, xã Dịch Vọng, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.
Qua nhiều lần thay đổi địa giới, di tích chùa thuộc địa phận xóm Duệ, thôn Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, Phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy. Hiện nay chùa Duệ Tú tọa lạc tại ngõ Chùa Duệ Tú, phố Nguyễn Khánh Toàn, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền cho rằng, chùa được xây dựng từ thời vua Lý Nhân Tông (1073-1129) bởi thiền sư Đại Điên, đây là nơi tu hành của nhà sư Lê Đại Điên, tên là Lê Nghĩa. Theo bản ngọc phả ghi vào năm 1579 và bản sao năm 1737 thì Lê Nghĩa sau khi cha mẹ mất, liền biến nhà mình thành chùa để thờ Phật và cha mẹ. Đại Điền cùng học kinh Phật và pháp thuật với Từ Vinh người làng Yên Lãng. Từ Vinh dùng pháp thuật chống lại Diên Thành Hầu, nên đã bị Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên giết chết vứt xác xuống sông Tô Lịch. Sau đó con Từ Vinh là Từ Lộ (tức Từ Đạo Hạnh) đã đi tu và học pháp thuật giết chết Đại Điên để trả thù cho cha.
Ngôi chùa hiện tọa lạc trên một khu đất ngay đầu thôn Tiền. Khác với những ngôi chùa cổ thường quay hướng nam hoặc đông nam, di tích chùa Duệ quay hướng đông – hướng của các thần linh, theo tự nhiên gắn với mặt trời mọc, bởi mặt trời quyết định sự sống trên trái đất, nhất là sau một đêm tối tăm, ánh sáng đó được coi đem đến sức sống cho vạn vật.
Hiện nay, chùa Duệ Tú đã được di dời đến thôn Tiền, hướng về Đông. Chùa dù đã được tu sửa nhiều lần, nguyên dạng còn lại là của lần tu sửa năm 1936, 1985, 1994, 2001, đến năm 2020 đã khá ổn định và mang đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn.
Kiến trúc cảnh quan
Kiến trúc chùa gồm Tam quan, Tam bảo, điện Mẫu và khu phụ. Đường vào chùa còn gọi là ngõ Vụt. Bên kia ngõ có lầu Quan Âm, tượng nhìn qua bình phong sang tam quan chùa ở hướng tây.
Tam quan chùa có mái, chia làm 3 gian, ở giữa là cổng chính và 2 cửa phụ ở hai bên, bộ vì làm kiểu vì kèo quá giang (1), gian giữa là nơi treo quả chuông đúc năm Gia Long XIV (1815), bộ vì mái làm theo kiểu quá giang. Bên dưới bày bàn ghế tiếp khách, tường trong gắn các bia hậu. Mặt tam quan có các câu đối bằng chữ Hán và đại tự bằng Quốc ngữ.
Sau cửa “Chính Tâm” là sân gạch với 5 gian nhà Tổ liền nhà Tăng bên tay phải, đối diện là nhà Mẫu 5 gian, cả hai đều có hàng hiên. Các vì kèo trong nhà Mẫu làm kiểu kèo cầu, bào trơn đóng bén.
Tòa Tam bảo hình chữ Đinh (丁), Tiền đường gồm 5 gian, trên bờ nóc trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt. Tòa tam bảo quay về phía đông nam, được xây lại kiểu 2 tầng 4 mái, chỗ cổ diềm có lắp kính lấy ánh sáng tự nhiên. Tiền đường chia làm 5 gian, thềm cao 7 bậc, hai đầu bờ nóc đắp luân xa.
Cũng giống như những ngôi chùa miền Bắc khác, sơ đồ vị trí Tiền đường được bố trí như sau:
- Chính điện thờ Tứ Phủ, hai bên là các ban thờ Đức thánh Trần, Thanh Long và Sơn Trang. Tại đầu hồi hữu mạc cũng mới xây ban thờ vong.
- Bên trái quay theo hướng chùa đặt tượng Hộ pháp Khuyến Thiện, Ngài Đức Ông và nhị vị thị giả, bên phải đặt tượng Hộ pháp Trừng Ác, Ngài A Nan và Địa Tạng Vương Bồ tát.
Kế đến là Hương Áng thường để bát hương, ngai, bài vị, và các vật thờ cúng khác. Nối liền là tới Hậu cung với các vì kèo làm kiểu kèo cầu quá giang, 4 bức cốn (2) chạm hình long, phượng, đầu hồi treo quả chuông đồng được đúc năm 1920. Hậu cung một gian xây kiểu tường hồi bít đốc, kết nối với tiền đường thành hình chuôi vồ. Trần nhà cao, các cột đều treo câu đối.
Hậu cung có sơ đồ tượng Phật như sau:
- Trong Chính điện nơi thờ Phật, với triết lý vô thường của Phật giáo luôn được đặt lên hàng đầu, thể hiện qua tam thân Phật là “Pháp thân”, “Báo thân” và “Ứng thân”. Cách bài trí các tượng Phật ở chính điện theo đúng ý nghĩa ấy, cho nên ở lớp trên cùng là thờ “Pháp thân Phật”, tức là thờ thường trụ Phật ở trong vũ trụ.
- Ở lớp thứ hai đặt thờ bộ tượng Tây phương Tam Thánh gồm: tượng Phật A Di Đà đứng ở giữa, tượng Bồ-tát Ðại Thế Chí cầm cành hoa sen màu xanh (tượng trưng cho trí tuệ) đứng bên tay phải Phật A Di Ðà, tượng Bồ-tát Quán Thế Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy (tượng trưng cho từ bi) đứng bên tay trái Phật A Di Đà.
- Ở lớp thứ ba là thờ “Ứng thân Phật”, tức là thờ Phật đã hoá hiện ra xác thân ở trần thế.
- Lớp thứ 4 bên cạnh các tượng Phật lại có tượng Đại Điên to bằng người thật, ngồi trong khám.
- Lớp thứ năm trở xuống thường có tượng đức Phật tu khổ hạnh ở chân núi Tuyết Sơn, tượng đức Phật nhập Niết bàn và đức Phật đản sanh.
Hiện vật
Chùa Duệ Tú vẫn giữ được hệ thống tượng Phật giáo đầy đủ. Trong chùa còn giữ được một số pho tượng Phật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX. Bên cạnh các tượng Phật lại có tượng Đại Điên to bằng người thật, ngồi trong khám.
Bên cạnh đó có bia đá dựng năm Bảo Đại 16 (1941) chép 3 đạo sắc phong cho Đại Điền vào năm Gia Long 9 (1810), Duy Tân 9 (1915) và của Khải Định nhân tứ tuần đại khánh.
Điện Mẫu mới được xây dựng năm 2001 mang đậm nét kiến trúc cổ truyền Việt Nam.
Sự kiện và lễ hội
Chùa Duệ Tú là nơi thờ Đức Thánh Tổ Nghĩa, hiệu Đại Điên, và ngày lễ truyền thống của chùa là ngày mùng 7 tháng 3 âm lịch. Thiền sư Lê Nghĩa không chỉ là một đại sư đắc đạo mà còn là một lương y và công thần có công giúp nước thời nhà Lý. Ngày nay, lễ hội chùa Duệ vẫn được cử hành nhằm kỷ niệm ngày viên tịch của sư Đại Điên.
Di tích lân cận
- Chùa Hà (Thánh Đức Tự): Phố Chùa Hà, phường Dịch Vọng.
- Chùa Hoa Lăng: Ngõ 277 Quan Hoa, phường Quan Hoa.
- Đền Quán Đôi: Số 178 Nguyễn Đình Hoàn, phường Nghĩa Đô.
- Đình Duệ Tú: Ngõ Chùa Duệ Tú, phường Quan Hoa.
- Đình Đa Phú: Ngõ 72 Dương Quảng Hàm, phường Quan Hoa.
- Đình Tăng Phúc (Thôn Tiền): Ngõ 72 Dương Quảng Hàm, phường Quan Hoa.
Xếp hạng
Chùa Duệ Tú đã được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch xếp hạng là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật vào ngày 05/09/1989.
Chú thích
- Quá giang là một thanh ngang dày, được đặt trên các cột cái và nối xuống cột con. để hỗ trợ nâng đỡ phần mái nhà thêm vững chắc.
- Bức cốn là bức tranh được điêu khắc trên rầm đặt nghiêng, cốn dùng để gia cố giúp kết cấu chắc chắn hơn.
__________________________________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Name and Geographical Location
Due Tu Pagoda, formerly known by its Sino-Vietnamese name Quang Khai Tu (Quang Khai Pagoda), belonged to Dich Vong commune, Tu Liem district, Quoc Oai prefecture, Son Tay province during the Le dynasty and earlier. Under the Later Le dynasty, the area was called Khanh Due hamlet. During the Nguyen dynasty, it was located in Tien hamlet, Dich Vong commune, Hoai Duc prefecture, Ha Noi province.
After many administrative changes, the pagoda came under Due hamlet, Tien village, Dich Vong commune, Tu Liem district, and later Dich Vong ward, Cau Giay district. Today, Due Tu Pagoda is located in Chua Due Tu Alley, Nguyen Khanh Toan Street, Quan Hoa ward, Cau Giay district, Hanoi city.
History and Figures
According to legend, the pagoda was founded during the reign of King Ly Nhan Tong (1073–1129) by Zen master Dai Dien, whose lay name was Le Nghia. An inscription dating back to 1579, with a copy from 1737, records that after the death of his parents, Le Nghia turned his house into a pagoda to worship both Buddha and his parents.
Dai Dien studied Buddhist scriptures and magical practices together with Tu Vinh from Yen Lang village. Tu Vinh used sorcery against Dien Thanh Hau, which led Dien Thanh Hau to persuade Dai Dien to kill Tu Vinh and throw his body into the To Lich River. Later, Tu Vinh’s son, Tu Lo (better known as Tu Dao Hanh), became a monk and mastered esoteric practices to kill Dai Dien in revenge for his father’s death.
The pagoda was originally located at the head of Tien village. Unlike most ancient pagodas, which typically face south or southeast, Due Tu Pagoda faces east — the direction of divine power, naturally associated with the rising sun, symbolizing life and renewal after darkness.
Today, the pagoda still faces east and, despite multiple restorations (1936, 1985, 1994, 2001), it preserves distinctive artistic features of the late Nguyen dynasty. The latest renovations in 2020 stabilized its structure.
Architecture and Landscape
The pagoda complex includes the Tam Quan gate, the Main Sanctuary (Tam Bao), the Mother Goddess Hall (Dien Mau), and auxiliary buildings. The entrance alley, called Ngo Vut, has the Guan Yin Pavilion facing across a screen wall towards the Tam Quan gate in the west.
The Tam Quan gate has a tiled roof and three compartments: the central main gate and two side gates. The timber frame follows the qua giang style. The central compartment houses a bronze bell cast in the 14th year of Gia Long (1815). The facade bears Han-character couplets and inscriptions in the Romanized Vietnamese script.
Beyond the “Chinh Tam” gate lies a brick courtyard. On the right stands the Ancestors’ Hall (five compartments, connected with the monks’ quarters), and on the left, the five-compartment Mother Goddess Hall. Both buildings have verandas, with roof trusses in the keo cau style.
The Tam Bao sanctuary has a T-shaped (Dinh) layout. The Tien Duong (front hall) has five compartments, with a ridge decorated by dragons flanking the moon. It faces southeast and was rebuilt in the two-storey, four-roof style, with glass panels in the eaves to admit natural light. The front hall has seven steps, and its ridge ends are decorated with dharma wheels.
Main Worship Layout
-
The central altar venerates the Four Palaces deities.
-
On the left: statues of the Dharma Protector Khuyen Thien, Lord Duc Ong, and two attendants.
-
On the right: the Dharma Protector Trung Ac, Ananda, and Bodhisattva Ksitigarbha.
-
The incense table (Huong Ang) holds incense burners, thrones, ancestral tablets, and other offerings.
-
Behind lies the Hau Cung (rear sanctuary), with beams carved with dragon and phoenix motifs, and a bronze bell cast in 1920.
Iconographic Scheme
-
Top tier: the Dharmakaya Buddha (Phap Than), symbolizing the eternal Buddha of the universe.
-
Second tier: the Western Trinity (Tay Phuong Tam Thanh): Amitabha Buddha (center), Bodhisattva Mahasthamaprapta (right, holding a blue lotus symbolizing wisdom), and Bodhisattva Avalokiteshvara (left, holding a willow branch and pure water vase, symbolizing compassion).
-
Third tier: the Nirmanakaya Buddha (Ung Than), representing the Buddha’s earthly manifestations.
-
Fourth tier: a life-sized statue of Dai Dien, seated in a shrine.
-
Lower tiers: statues of the Ascetic Buddha on Mount Tuyet Son, the Reclining Buddha entering Nirvana, and the Infant Buddha.
Relics
The pagoda preserves a complete Buddhist statue system, including 18th–19th century sculptures, along with the life-sized statue of Dai Dien.
It also holds a stone stele erected in the 16th year of Bao Dai (1941), recording three royal decrees conferring honors upon Dai Dien: from Gia Long (1810), Duy Tan (1915), and Khai Dinh (40th birthday celebration decree).
The Mother Goddess Hall (Dien Mau) was newly built in 2001 in traditional Vietnamese architectural style.
Festivals and Worship
Due Tu Pagoda venerates the Venerable Ancestor Nghia (Dai Dien). Its traditional festival is held annually on the 7th day of the 3rd lunar month, commemorating his passing. Zen master Le Nghia was not only a highly attained monk but also a physician and royal contributor under the Ly dynasty. Today, the festival remains a tribute to his legacy.
Nearby Monuments
-
Ha Pagoda (Thanh Duc Tu): Chua Ha Street, Dich Vong ward.
-
Hoa Lang Pagoda: 277 Quan Hoa Alley, Quan Hoa ward.
-
Quan Doi Temple: 178 Nguyen Dinh Hoan Street, Nghia Do ward.
-
Due Tu Communal House: Chua Due Tu Alley, Quan Hoa ward.
-
Da Phu Communal House: 72 Duong Quang Ham Alley, Quan Hoa ward.
-
Tang Phuc Communal House (Tien village): 72 Duong Quang Ham Alley, Quan Hoa ward.
Recognition
Due Tu Pagoda was recognized as an Architectural and Artistic Relic by the Ministry of Culture, Sports and Tourism on September 5, 1989.
Tiếng Trung (Chinese)
名称与地理位置
兑祐寺,古名为广开寺,在黎朝及之前隶属山西镇国怀府慈廉县易望社。后黎时期称为庆兑村。阮朝时期,属河内省怀德府易望社前村。
历经多次行政区划变更,该寺曾属慈廉县易望社前村兑坊,后属易望坊,今位于河内市纸桥郡观花坊阮庆全街兑祐寺巷内。
历史与人物
传说该寺始建于李仁宗(1073–1129)时期,由禅师大癫(俗名黎义)所建。据1579年刻立、1737年抄录的碑文记载,黎义在双亲去世后,将自宅改建为寺庙,以供奉佛陀及父母。
大癫与安浪村人徐荣同习佛经与法术。徐荣以法术抗衡延成侯,被延成侯唆使大癫将其杀害,并抛尸泗涟河。其子徐鲁(即徐道行)出家为僧,修习法术,最终杀死大癫以报父仇。
寺庙最初建于前村村口。不同于大多数面向南或东南的古寺,兑祐寺朝东而建,象征神明与旭日,寓意黑夜之后带来生命与万物复苏。
如今,寺庙依旧面东。虽经1936年、1985年、1994年、2001年多次修葺,但仍保留晚阮时期的艺术特色,2020年修缮后已趋于稳定。
建筑与景观
寺院整体包括三关门、三宝殿、母殿及附属建筑。通往寺庙的小巷名为“勿巷”,巷对面建有关音阁,佛像隔屏望向西侧三关门。
三关门建有屋顶,分三间:中为正门,两侧为偏门,梁架采用“过梁式”。中间悬挂嘉隆十四年(1815)铸造的大钟。门额嵌有汉文对联及国语大字。
入“正心门”后为砖砌庭院。右侧为祖堂(五间,与僧舍相连),左侧为母殿(亦为五间),两殿皆设有廊檐,梁架采用“交叉斗拱式”。
三宝殿呈“丁”字形。前殿五间,屋脊饰“双龙戏月”,面向东南,重建为二层四檐式,檐间装有玻璃引入自然光。殿基七级台阶,两端饰法轮。
主殿布局
-
中央供奉四府神灵。
-
左侧:护法劝善尊、德翁、二侍者。
-
右侧:护法惩恶尊、阿难、地藏菩萨。
-
香案供置香炉、神位、供品等。
-
后方为后宫,梁枋雕有龙凤,悬挂1920年铸造铜钟。
佛像体系
-
上层:法身佛(象征宇宙永恒之佛)。
-
第二层:西方三圣:阿弥陀佛居中,大势至菩萨(右,持青莲,象征智慧),观世音菩萨(左,持杨柳枝与净瓶,象征慈悲)。
-
第三层:应身佛(佛陀在人间化身)。
-
第四层:真人大小的大癫像,供于龛内。
-
下层:雪山苦行佛、涅槃佛、降生佛。
文物
兑祐寺保存完整的佛像体系,其中部分为十八至十九世纪艺术风格,另有真人大小的大癫塑像。
寺内立有保大十六年(1941)石碑,载有三道御赐诰命:嘉隆九年(1810)、维新九年(1915)、启定四十寿庆(约1925)。
母殿于2001年重建,保持越南传统建筑风格。
节庆与祭祀
兑祐寺奉祀祖圣黎义(号大癫)。每年农历三月初七举行传统庙会,纪念其圆寂。黎义禅师不仅是得道高僧,亦为良医及辅佐李朝之功臣。今人依旧举行庙会以缅怀其功德。
周边遗迹
-
河寺(圣德寺):易望坊河寺街。
-
花陵寺:观花坊阮庆全街277巷。
-
观堆庙:义都坊阮廷完街178号。
-
兑祐 đình:观花坊兑祐寺巷。
-
多富 đình:观花坊杨广咸街72巷。
-
增福 đình(前村):观花坊杨广咸街72巷。
级别
兑祐寺已于1989年9月5日被越南文化体育与旅游部列为“建筑艺术遗迹”。
Tiếng Pháp (French)
Nom et localisation géographique
La pagode Due Tu, dont le nom sino-vietnamien était Quang Khai Tu (pagode Quang Khai), appartenait autrefois à la commune de Dich Vong, district de Tu Liem, préfecture de Quoc Oai, province de Son Tay, sous la dynastie des Le. À l’époque des Le postérieurs, l’endroit portait le nom de hameau Khanh Due. Sous la dynastie des Nguyen, elle se trouvait au hameau Tien, commune de Dich Vong, préfecture de Hoai Duc, province de Hanoi.
Après plusieurs changements administratifs, la pagode fut rattachée au hameau Due, village Tien, commune de Dich Vong, district de Tu Liem, puis au quartier Dich Vong, arrondissement de Cau Giay. Actuellement, la pagode Due Tu est située dans l’allée Chua Due Tu, rue Nguyen Khanh Toan, quartier Quan Hoa, arrondissement de Cau Giay, ville de Hanoi.
Histoire et personnages
Selon la tradition, la pagode fut fondée sous le règne du roi Ly Nhan Tong (1073–1129) par le maître zen Dai Dien, de son nom séculier Le Nghia. Une inscription datant de 1579, recopiée en 1737, rapporte qu’après la mort de ses parents, Le Nghia transforma sa maison en pagode pour y vénérer à la fois Bouddha et ses parents.
Dai Dien étudia les écritures bouddhiques et les pratiques ésotériques avec Tu Vinh, originaire du village de Yen Lang. Ce dernier utilisa la magie contre Dien Thanh Hau, qui persuada alors Dai Dien de le tuer et de jeter son corps dans la rivière To Lich. Plus tard, le fils de Tu Vinh, Tu Lo (plus connu sous le nom de Tu Dao Hanh), devint moine et acquit des pouvoirs ésotériques afin de venger son père en tuant Dai Dien.
La pagode fut d’abord érigée à l’entrée du village Tien. Contrairement à la majorité des pagodes anciennes qui font face au sud ou au sud-est, la pagode Due Tu est orientée vers l’est — direction des divinités, associée naturellement au lever du soleil, symbole de vie et de renouveau après l’obscurité.
Aujourd’hui, la pagode conserve cette orientation. Malgré de nombreuses restaurations (1936, 1985, 1994, 2001), elle garde les traits caractéristiques du style artistique de la fin de la dynastie des Nguyen. La restauration de 2020 a permis de stabiliser l’édifice.
Architecture et paysage
Le complexe comprend le portail Tam Quan, le sanctuaire principal (Tam Bao), le temple de la Mère (Dien Mau) et des bâtiments annexes. L’allée d’accès, appelée Ngo Vut, fait face au pavillon de Guan Yin, dont la statue regarde, à travers un écran, vers le portail Tam Quan à l’ouest.
Le portail Tam Quan est couvert d’un toit et divisé en trois travées : la porte centrale et deux portes latérales. La charpente suit le style qua giang. La travée centrale abrite une cloche de bronze coulée en 1815 (14e année de Gia Long). La façade porte des distiques en caractères chinois ainsi que des inscriptions en quoc ngu.
Derrière la porte “Chinh Tam” s’étend une cour pavée de briques. À droite se trouve la Maison des Patriarches (cinq travées, attenante aux logements des moines), et à gauche la Maison de la Mère (cinq travées également). Les charpentes suivent le style keo cau.
Le sanctuaire Tam Bao adopte un plan en forme de T (Dinh). Le Tien Duong (salle antérieure) compte cinq travées, avec un faîte orné de dragons encadrant la lune. Orienté au sud-est, il fut reconstruit dans le style à deux étages et quatre toits, avec des vitraux insérés dans les avant-toits pour laisser entrer la lumière naturelle. L’avant-hall est accessible par sept marches, et ses extrémités de faîte portent des roues du dharma.
Disposition cultuelle
-
L’autel central vénère les divinités des Quatre Palais.
-
À gauche : statues du Protecteur Khuyen Thien, de Duc Ong et de deux assistants.
-
À droite : statues du Protecteur Trung Ac, d’Ananda et du Bodhisattva Ksitigarbha.
-
La table des offrandes (Huong Ang) porte encensoirs, trônes, tablettes et objets rituels.
-
Derrière se trouve le Hau Cung (sanctuaire arrière), dont les poutres sculptées représentent dragons et phénix, avec une cloche de bronze coulée en 1920.
Iconographie
-
Premier niveau : le Bouddha Dharmakaya (Phap Than), symbole du Bouddha éternel de l’univers.
-
Deuxième niveau : la Trinité de l’Ouest (Tay Phuong Tam Thanh) : Amitabha (centre), Bodhisattva Mahasthamaprapta (droite, tenant un lotus bleu symbolisant la sagesse), Bodhisattva Avalokiteshvara (gauche, tenant une branche de saule et un vase d’eau pure, symboles de la compassion).
-
Troisième niveau : le Bouddha Nirmanakaya (Ung Than), manifestation terrestre du Bouddha.
-
Quatrième niveau : statue grandeur nature de Dai Dien, assis dans un autel.
-
Niveaux inférieurs : statues du Bouddha ascète sur le mont Tuyet Son, du Bouddha couché entrant au Nirvana, et du Bouddha enfant.
Reliques
La pagode conserve un ensemble complet de statues bouddhiques, dont plusieurs datent des XVIIIe–XIXe siècles, ainsi qu’une statue grandeur nature de Dai Dien.
Elle possède également une stèle de pierre érigée en 1941 (16e année de Bao Dai), mentionnant trois décrets royaux honorant Dai Dien : Gia Long (1810), Duy Tan (1915) et Khai Dinh (décret pour son 40e anniversaire).
Le temple de la Mère (Dien Mau) fut reconstruit en 2001 dans un style architectural traditionnel vietnamien.
Fêtes et rituels
La pagode Due Tu est dédiée au Vénérable Ancêtre Nghia (Dai Dien). Sa fête traditionnelle a lieu le 7e jour du 3e mois lunaire, commémorant son décès. Le maître zen Le Nghia n’était pas seulement un moine accompli, mais aussi un médecin et un serviteur méritant de la dynastie Ly. Aujourd’hui encore, la fête perpétue sa mémoire.
Monuments voisins
-
Pagode Ha (Thanh Duc Tu) : rue Chua Ha, quartier Dich Vong.
-
Pagode Hoa Lang : allée 277 Quan Hoa, quartier Quan Hoa.
-
Temple Quan Doi : 178 rue Nguyen Dinh Hoan, quartier Nghia Do.
-
Maison communale Due Tu : allée Chua Due Tu, quartier Quan Hoa.
-
Maison communale Da Phu : allée 72 Duong Quang Ham, quartier Quan Hoa.
-
Maison communale Tang Phuc (village Tien) : allée 72 Duong Quang Ham, quartier Quan Hoa.
Classement
La pagode Due Tu a été classée Monument architectural et artistique par le Ministère de la Culture, des Sports et du Tourisme le 5 septembre 1989.