Đình Phùng Khoang (Nam Từ Liêm, Hà Nội)

Đình Phùng Khoang (Nam Từ Liêm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Phùng Khoang nằm ở phố Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Thời Lê gọi là Phùng Quang thuộc xã Nhân Mục Môn, huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam Thượng. Năm 1723 cho lệ vào huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Thời Nguyễn đổi là xã Ngọc Trục, tổng Đại Mỗ, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Năm 1964 nhập vào huyện Từ Liêm, Hà Nội.

Đình thờ Đức thành hoàng làng là tướng quân Đoàn Thượng, một danh tướng đời Lý và là trung tâm sinh hoạt văn hoá chung của cả làng. Trong kháng chiến chống Pháp, đình Phùng Khoang là nơi đi về hoạt động bám trụ của cán bộ và du kích địa phương. Thời kỳ Cách mang thẳng Tâm – 1945 đình là nơi tổ chức mít tinh, cướp chính quyền của người dân trong xã. 

Sau này đình là trụ sở làm việc của các cơ quan đoàn thể, làm kho của bộ đội. Nhắc đến Phùng Khoang người dân còn lưu truyền câu nói: “Nhiều quan làng Mọc, nhiều thóc làng Khoang”.

Đình Phùng Khoang cách trung tâm Hà Nội 11km, có nhiều đường di chuyển để đến đình, có thể đi từ trung tâm theo đường Tràng Thi, qua Điện Biên Phủ,  qua Trần Phú, đi qua phường Nguyễn Trãi và Tây sơn là đến đình. 

Di chuyển bằng phương tiện công cộng có các tuyến xe buýt có đi qua đình Phùng khoang là: 01,02, 19, 21A, 27,39. 

Thành hoàng làng Đoàn Thượng 

Đức Thánh Đoàn Thượng (1181-1228, tên chữ Hán: (段尚), là người Hồng Châu (Hải Dương) một vị tướng giai đoạn cuối thời Lý. Cha mẹ ông đồng tâm tích đức, phụng sự Hoàng đế, một hôm thấy vầng sáng đỏ tràn trong nhà, có con rắn Bạch hoa cuộn tròn biến thành bông hoa, sau đó bà có mang. Hơn 1 năm sau bà sinh ra một đứa trẻ diện mạo phi thường, hình dung quý cách nên đã đặt họ là Đoàn, huý là Thượng. Từ nhỏ ông đã thông minh, ham học, giỏi đánh đàn, tinh thông âm luật. 

Trong sách Việt Điện U Linh Tập – Lý Tế Xuyên có viết: “Tướng quân tên là Thượng, người làng Hồng thị huyện Trường Tân, con của bà vú vua Lý Huệ Tông, theo lệnh vua sai kéo vào Hồng Châu bắt cướp”.

Năm 18 tuổi Đoàn Thượng đã thi trúng các trường do triều Lý mở để chọn nhân tài, Ngài đã từng làm đến chức thái úy, đứng thứ hai trong triều vua Lý Huệ Tông, nhiều lần giúp vua chống các thế lực phản nghịch nổi dậy để cướp ngôi trong triều. 

Sau khi nhà Lý mất, Ông về quê hương Hồng Châu xứ Hải Dương dấy quân trung thành với triều cũ tiếp tục chống lại Trần Thủ Độ. Trần Thủ Độ giả bộ làm hòa với Tướng quân nhưng thầm khiến Hiếu Võ Vương là Nguyễn Nộn đem trọng binh đánh úp, Cuối cùng ông chạy về hướng tây, bị gươm chém đứt đầu, chỉ còn dính một mảnh da (năm Bính Thân 1228). 

Tướng quân Đoàn Thượng nghĩa khí đã dùng đai buộc đầu chạy về hướng đông và xuống ngựa gối giáo nằm xuống, tự nhiên kiến mối đùn đất lên, chôn mất cả thi thể thành một cái mộ.

Sau khi ông mất vua Trần Thái Tông đã lập sắc phong tặng thánh hiệu :”ông Hải Đại Vương trung dũng thượng đẳng thần”, Thượng đẳng Phúc thần,  gia phong Tổ là: ” Thượng đẳng khuyến thiện từ bi quy Phật”, phúng kính tiền bạc, chiếu chỉ cho cả nước thờ cúng.

Dân làng Phùng Khoang và cùng hơn 70 làng khác trong cả nước lập điện thờ Ngài. 

Lịch sử

Đình Phùng Khoang là một kiến trúc được xây dựng vào đời đầu Lê trung hưng (1533 – 1788), hiện ở đình vẫn còn những dấu tích trong kiến trúc thời Lê để lại. 

Ngoài ra căn cứ vào sắc phong có niên hiệu Lê Chính Hoà 19 (1698) trong đó đã ghi lại các giai đoạn trùng tu lớn như: 1721, 1758, 1805, mặc dù đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn nhưng các kiến trúc vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính xưa. 

Kiến trúc

Đình Phùng Khoang được xây dựng với diện tích 3038m², kiến trúc cổ kính có nhiều mảng chạm khắc gỗ đời Hậu Lê, đình xây theo hướng chính Đông, hình chữ Đinh, toàn bộ diện tích ngôi đình đều được xây thành tường ngăn bảo vệ. 

Cổng nghi môn 

Cổng đình Phùng Khoang được xây theo kiểu tứ trụ, 3 cửa ra vào có mái vòm, với kết cấu 2 tầng với quy mô lớn. Điều đặc biệt là cổng đình lại nằm bên phải của toà Đại đình, chứ không nằm ở phía trước mặt toà Đại đình thường gặp ở các đình khác. 

Tầng 1 là gồm 3 cửa ra vào, cửa chính ở giữa có kích thước rộng hơn, cửa hai bên còn lại nhỏ hơn gọi là cổng phụ, cả 3 cửa đều uốn vòm cung. Ở cửa chính giữa trên phần mái vòm cung có chạm khắc hồi văn, phía trên của mái vòm của cửa chính giữa được nối đắp nổi hình cuốn thư có khắc chữ Hán “词  靈 最  ” dịch chữ Việt là “Tối linh từ” nghĩa là ngôi đình rất linh thiêng. Hai cột ở cổng giữa có khắc dòng chữ Hán chạy dọc theo thân cột. 

Còn ở hai bên cửa phụ có kích thước nhỏ hơn, bên phải có khắc chữ Hán “右 宜” tức Hữu nghị, cửa phụ bên trái có khắc chữ “左” tức Tả nghi. Các cột của hai bên cửa phụ cũng đều được khắc chữ Hán chạy dọc thân cột. 

Trên tầng 2, ở cổng chính giữa có xây thêm một khối nhà hình vuông, cũng có cửa ra vào hình vòm, cửa này chỉ để tượng trưng và trang trí. Bốn góc mái của nhà hình vuông này được đắp đầu đao uốn cong lên trời hoạ tiết hồi văn. 

Tầng 2 của hai bên cửa phụ thì mỗi bên được đắp hình khối trụ theo kiểu đèn lồng bằng xi măng. 

Phía trước của cổng đình có thêm kiến trúc là hai cột trụ ở hai bên, cổng đình và hai cột trụ đều có chiều cao ngang nhau là hơn 4m, đây là cột trụ mang dấu ấn nghệ thuật và biểu tượng tâm linh của các kiến trúc như nhà thờ, đình chùa…

Cột có 3 phần là: chân cột, thân cột và đầu cột, phần chân đế cột có vai trò quan trọng vì nó sẽ chịu tải toàn bộ cho cột. nên thường sẽ có kích thước lớn hơn phần thân để giúp cân bằng và chịu lực tốt hơn, chân cột trơn không có hoạ tiết, chia làm 2 phần, phần dưới hình vuông, phần trên tròn dẹt và có các đường gờ đắp xung quanh chân cột. 

Phần thân cột là hình trụ vuông có 4 mặt, mỗi mặt được khắc chữ Hán chạy dọc thân cột, chữ tô màu đen, nền màu trắng. 

Phần đầu cột có kiến trúc đèn lồng, là khối trụ hình vuông đặt trên phần thân cột, 4 mặt của khối vuông có khắc chữ thọ bằng chữ Hán, trên khối vuông đó được đắp hình dạng giống 4 con rồng có kích thước lớn, đầu cúi xuống, đuôi quay lên trời và quay ra 4 phía khác nhau, nhìn rất giống với hình búp sen, xung quang có trang trí đắp nổi xi măng các hoạ tiết hoa lá, rồng mây rất cầu kì. 

Sân đình

Qua cổng đình là vào khoảng sân rộng lát gạch Bát tràng, bên trong sân cũng được dựng hai cột trụ cao khoảng 4m, đứng trước mặt toà Phương đình và Đại đình. Kiến trúc cột cũng giống cột trụ ở phía bên ngoài cổng đình. 

Ngoài ra sân đình còn trồng các cây hoa đại và cây cổ thụ lâu năm. 

Toà Phương đình 

Qua khoảng sân là có toà Phương đình nằm ngay chính giữa, trước mặt có để lư hương bằng đá, toà được dựng trên nền gạch cao hơn nền sân đình khoảng 30cm, nền lát gạch Bát tràng.  

Đây là kiến trúc của thế kỷ XIX, với cấu trúc dạng nhà vuông có kích thước khoảng (6m x 6m), được chống bằng hệ thống 8 cột gỗ lim, các cột gỗ được đặt trên chân cột là dạng chân tảng đá bồng cao 45cm, toà nhà để thoáng không xây cửa có thể đi thông nhau sang các phía, phần đỡ mái là chồng diêm 2 tầng 8 mái, mái tầng dưới rộng hơn lợp ngói, mái tầng trên có diện tích nhỏ hơn. 

Các đầu đao của cả 2 tầng mái được đắp hình rồng uốn cong vút, quay mặt vào trong đình, trên mái tầng 2 còn đắp rồng chầu mặt nguyệt. 

Toà Đại đình

Nằm phía sau toà phương đình chỉ cách một khoảng rất hẹp (ống máng) là toà Đại đình, với 3 gian 2 chái, từ toà phương đình bước 2 bậc thang để lên Đại đình, hai bên đầu hồi của toà được dựng hai cột trụ hai bên, ở gian chính giữa được làm thành bậc ra vào là hai hình rồng ngậm ngọc làm bằng đá. 

Các gian đều được làm cửa bức bàn, cửa gian giữa chính có 6 cánh làm kiểu bức bản vẫn gỗ đơn giản, ở các gian thờ được làm các cửa võng rất lộng lẫy, trang trí hoa văn cầu kỳ, sơn son thếp vàng, mỗi gian đều có bức hoành phi ghi chữ Hán. 

Kết cấu các bộ vì theo kiểu giá chiêng, các kết cấu gỗ gian giữa đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy, tạo sự tôn nghiêm, trang trọng. 

Toà thiêu hương

Còn gọi là gian ống muống nối giữa toà Đại đình với Hậu cung, kết cấu theo kiểu chồng rường, nền lát gạch Bát tràng, đây là gian để sập đá dùng để chuẩn bị đồ lễ cúng trước khi vào Hậu cung. 

Hậu cung

Hậu cung gồm 2 gian ngăn cách phần ngoài bởi một bộ cửa 4 cảnh phía trước được làm kiểu thượng song hạ bản, hai cửa nhỏ 2 bên được xây trên bầu cửa cao là lối vào lễ trong cung. Các bức cốn ở cửa ra vào được chạm khắc rồng cuốn thuỷ, long mã, rùa, hoa lá cách điệu,  Gian trong cùng được xây trên bệ cao trên đặt một khám thờ lớn trong có long ngai và bài vị của Đức thành hoàng Đoàn Thượng. 

Ở phía sau Đại đình có khoảng sân rộng, từ toà Hậu cung có thể đi ra sân phía sau, ở bên phải của khoảng sân còn có một nhà bia mới được xây dựng lại từ năm 2007. 

Tả Mạc/Hữu Mạc 

Toà Tả mạc nằm bên trái của toà Đại đình gồm có 5 gian, đặc biệt là ở 1 bên đầu hồi được xây bịt kín 2 gian liền nhau, ở giữa trổ cửa sổ, còn 3 gian còn lại thì là để ra vào. Còn Hữu mạc nằm bên tay phải toà Đại đình, Tả, hữu mạc là nơi để sắp xếp lễ vật dâng lên Thành Hoàng và để cho bà con nghỉ chân trong dịp lễ hội, là nơi tiếp khách, đặt kiệu.

Hai toà Tả/Hữu của đình được xây dựng trên nền cao hơn nền sân đình, có lát gạch Bát tràng, lợp mái ngói đỏ. Toàn bộ toà để trơn đơn giản không có hoạ tiết trang trí. Kết cấu vì kèo đơn giản kiểu quá giang, bào trơn đóng bén, đầu hồi có cửa ngách nhỏ để vào phía bên và sau đại đình.

Hồ nước trong đình 

Hướng toà Đại đình hướng ra trước mặt là có một hồ nước rộng, có xây cây cầu nối từ sân ra giữa hồ, trên cây cầu đó có đặt bức bình phong dạng cuốn thư, hai bên cuốn thư nối liền với hai trụ cột ở hai bên. Bức bình phong có chiều cao 1,50m, chiều rộng khoảng 2m. 

Điểm kết thúc cây cầu là có xây một khối đất hình tròn, xung quanh thành của khối đất hình tròn được đắp gạch, ở giữa khối đất có trồng cây. Xung quanh hồ được dựng thành bờ ao rất an toàn. 

Lễ hội 

Lễ hội làng Phùng Khoang là một trong Lễ hội Mọc lớn và nổi tiếng từ xa xưa  được Bộ trưởng Bộ VHTT&DL đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1727/QĐ-BVHTTDL ngày 27/5/202 gồm:  làng Giáp Nhất, Chính Kinh, Cự Lộc, Quan Nhân và Phùng Khoang. 

Lễ hội được tổ chức sau Tết Nguyên đán hàng năm nhằm rước các Thánh du xuân và thưởng lãm cảnh quan 5 làng và tưởng nhớ đến các vị thành hoàng làng được thờ ở các đình. 

Lễ hội chính thức diễn ra từ mùng 10 đến 12 tháng 2 âm lịch. Sau khi hoàn tất các nghi lễ chính như: Lễ mở cửa đình; Lễ rước nước và Lễ Mộc dục; Lễ Phong y (Lễ mặc áo Thánh) là chính thức bước vào lễ hội. 

Phần lễ gồm các nghi thức, nghi lễ bắt buộc, quan trọng nhất là Lễ rước Thánh và Tế lễ ở đình. Với tâm thức hướng về cội nguồn, Lễ hội 5 làng Mọc được tổ chức trên tinh thần cộng đồng và gắn kết giữa các làng.

Nhiều nghi thức tế lễ và trò chơi dân gian độc đáo như: Lễ rước kiệu; tế hội đồng; múa hát và các trò chơi dân gian… 

Các ngày lễ chính của làng Phùng Khoang 

Tế lễ theo Thành Hoàng:

Ngày 08 tháng Giêng: Vọng lão; ngày Khánh Hội, Hội làng xưa tẽ theo lễ tam sinh có bò – dê – lợn. Nay tuỳ theo điều kiện sửa lễ đơn giản hơn gồm có xôi, gã, thủ…

Ngày 11/2: Rước giao hiểu ngữ xã (năm làng Mọc);

– Lễ Thánh đản (9/3): Xưa tế một con bò, xôi, rượu, có hội thi thổi xôi.

– Lễ Thánh hoa (12 tháng Chạp): Xưa tể lợn, gà, xôi

Ngoài những ngày lễ chính kể trên, tại Mọc Phùng Khoang con có nhiều ngày lẻ khác tại đình, chùa và trong nhân dân.

Di vật 

Hiện nay đình Phùng Khoang có lưu giữ lại được nhiều hiện vật có giá trị nghệ thuật như nhang án, kiệu, long đình, ngai, bài vị, các bản sắc phong, sớm nhất vào niên hiệu Lê Chính Hoà 19 (1698).

Di vật giấy có 01 Ngọc phả, 09 đạo Sắc phong (Sắc sớm nhất có niên đại 1783), Khoản ước.

Có 6 tấm Bia đá (sớm nhất năm 1698 – muôn 1881).

Ngoài ra còn có 2 rồng đã phong cách nghệ thuật thời Lê, Khám thờ gỗ, 25 câu đối, 16 hoành phi, nhang ăn, kiệu, ngựa thờ, đổ đồng có đỉnh đồng, mũ, hia, chiêng đồng. 

Ở đình còn treo những bức hoành phi, câu đối ca ngợi Thành hoàng Đoàn Thượng như:

Bức hoành đề: “Thạc phủ Lý triều”, “Thánh cung vạn tuế” nghĩa là ông có công to lớn với triều nhà Lý. 

Câu đối:

“Lý mạt danh thân thanh chân giang há khẩm chính khí

Trân sơ hiến thành quang thu tình nhạc nghiễm lĩnh từ”

Dịch nghĩa:

“Quang tiên du hau sinh vì lương tưởng tử vì thắn 

Cư Tran phủ Lý công tại hoàng gia danh tại sử”

Xếp hạng 

Đình Phùng Khoang là nơi giao lưu văn hóa của cộng đồng dân cư, thu hút khách đến tham quan, nghiên cứu về các giá trị của ngôi đình. 

Đình đã được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 2.10.1991. 

Tài liệu tham khảo

  1. Phạm Minh Phương, Lễ hội 5 làng Mọc ở Hà Nội, chương 5, nxb Văn hoá thông tin 2010.
  2. Lễ Hội Thăng Long (1).
  3. Nguyễn Thế Long, Đình Và Đền Hà Nội (Nxb Văn Hóa Thông Tin 2005).
  4. Gia phả họ Đoàn Việt Nam. 
  5. Viet DieULinh tap.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)