Hội Năm Làng Mọc (Thanh Xuân, Nam Từ Liêm – Hà Nội)

Hội Năm Làng Mọc (Thanh Xuân, Nam Từ Liêm – Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Thời gian

  • 9 tháng Hai – 11 tháng Hai. Chinh hội 11 tháng Hai 

Địa điểm

  • Phùng Khoang (huyện Từ Liêm) Quan Nhân, Giáp Nhất, Cư Lộc, Chính Kinh (quận Thanh Xuân)

Kẻ Mọc, còn gọi là Mộc Cự, là một vùng đất cổ nằm bên sông Tô Lịch, nay thuộc quận Thanh Xuân – Hà Nội. Theo sử cũ, “vào thế kỷ X, vùng đất bên sông Tô này cây rừng mọc rậm rạp, đầm ao chi chít”, do đó dân gian gọi là Kẻ Mọc. Trước kia, Kẻ Mọc được chia thành hai khu vực: Nhân Mục Cựu gồm Mọc Hạ Đình và Mọc Thượng Đình; Nhân Mục Môn gồm bốn làng Mọc Quan Nhân, Mọc Giáp Nhất, Mọc Cự Lộc và Mọc Chính Kinh. Về sau, năm làng này hợp thành cụm Năm Làng Mọc nổi tiếng, cùng với làng Phùng Khoang (nay thuộc Trung Văn – Nam Từ Liêm) tạo nên một vùng văn vật có bề dày lịch sử, văn hiến lâu đời.

Trước khi có quốc lộ 6, con đường nối kinh thành Thăng Long với trấn Sơn Nam đi qua Cầu Mọc, gọi là “đường lai kinh”. Năm 1032, vua Lý Thái Tông từng ngự giá xuôi đường này để cày ruộng tịch điền tại Hương Tín (Thanh Oai). Đến cuối năm 1426, nơi đây ghi dấu hai trận đánh lớn của nghĩa quân Lam Sơn, do Lê Lợi chỉ huy, đã bắt sống tướng giặc Viên Lượng và đánh bại Sơn Thọ, Mã Kỳ tại Cầu Mọc. Mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789, dưới sự chỉ huy của Quang Trung – Nguyễn Huệ, một cánh quân của Đô đốc Đặng Tiến Đông từng ém quân tại Nhân Mục, sau đó tiến đánh đồn Khương Thượng (Đống Đa) bằng chiến thuật “rồng lửa” thần tốc, góp phần đại thắng quân Thanh.

Ngày nay, cụm di tích Năm Làng Mọc vẫn bảo tồn được nhiều dấu tích xưa: giếng đá, gò Nghiên, khu Ao Cờ, cùng các ngôi đình cổ kính soi bóng bên sông Tô. Mỗi đình làng không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng mà còn là trung tâm văn hóa, nơi lưu giữ truyền thống hiếu học, văn vật ngàn đời của vùng đất “Ngàn năm văn vật Hoa Kinh địa – Tú khí non sông mãi mãi tồn”.

Nhân vật thờ tự

  • Đoàn Thượng, Lã Liệu, Hùng Lãng Công, Phùng Luông 

Mỗi ngôi đình trong cụm di tích Năm Làng Mọc thờ một vị nhân thần, phản ánh chiều sâu lịch sử, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của cư dân vùng Nhân Mục.

Đình Phùng Khoang

Đình Phùng Khoang  thờ Đoàn Thượng, danh tướng thời Lý. Khi nhà Lý mất ngôi, ông giữ đất Hồng Châu, kiên quyết chống lại quân nhà Trần. Mặc dù được Trần Thủ Độ sai người dụ hàng, hứa phong vương, gả công chúa, song ông “quyết giữ trọn tiết nghĩa”, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hy sinh tại Bần Yên Nhân (Hưng Yên) vào ngày 11 tháng Tư âm lịch. Sau khi mất, nhiều địa phương lập miếu thờ ông. Đình Phùng Khoang hiện còn giữ được các mảng chạm khắc gỗ thời Hậu Lê, sắc phong cổ niên hiệu Lê Chính Hòa 19 (1698), cùng văn bia ghi việc trùng tu vào các năm 1721, 1758, 1805.

Đình Cự Chính

Đình Cự Chính do hai làng Mọc Cự Lộc và Mọc Chính Kinh dựng lên, thờ Lã Liệu, vị tướng thời Vua Hùng, người có công “dạy dân cấy lúa, trồng dâu, nuôi tằm, chống giặc ngoại xâm”. Đình quay hướng đông nam, quanh đình còn nhiều dấu tích cổ như giếng đá, gò Nghiên, Ao Cờ. Trên cổng đình còn khắc đôi câu đối:
“Ngàn năm văn vật Hoa Kinh địa,
Tú khí non sông mãi mãi tồn.”
Nội thất đình rộng rãi, hậu cung uy nghi, hai bên đại bái có hai sập sơn son thếp vàng từng dùng để đón tiếp các quận công, tiến sĩ về thăm quê. Trên nóc tam quan còn chạm nổi hình hai chú cóc sành “một chân leo, một chân thả, mắt lồi long lanh ngước nhìn lên trời xanh” – biểu tượng độc đáo hiếm thấy.

Đình Quan Nhân

Đình Cự Chính gồm hai khu: đình trong và đình ngoài. Đình trong có 7 gian rộng, mái chồng diêm, chạm khắc hình rồng mây uốn lượn, còn đình ngoài có tám mái, hai bên là nhà giải vũ. Trong đình có tấm bia đồng dựng năm Tự Đức thứ 6 (1853), ghi lại thần tích do quan Nguyễn Bính soạn năm 1573. Đình thờ Hùng Lãng Công, người quê Châu Ái (Thanh Hóa), từng làm huyện trưởng Vũ Tiên (Thái Bình), là bậc văn võ toàn tài. Khi giặc Nam Chiếu sang xâm lược, ông cùng quân sĩ chiến đấu anh dũng, hy sinh vào ngày 2 tháng Tám. Vợ ông, Trương Mỵ Nương – người làng Quan Nhân, nghe tin chồng tử trận đã “uống thuốc độc tự vẫn” ngày 12 tháng Mười. Các triều vua sau đều phong ông là “Trung nghĩa đại vương”, bà là “Dục đức đề mỵ Quan Nhân vương công chúa”.

Đình Giáp Nhất 

Đình Giáp Nhất nằm gần Cầu Mọc, bên sông Tô, có cổng đình quay hướng Bắc, tam quan bề thế, trụ cao 8 mét chạm hình bát tiên quá hải, chim công, chim phượng. Đại đình và hậu cung xây bằng gạch Bát Tràng, ánh sáng chan hòa bốn mùa. Đình thờ Phùng Luông, cháu Phùng Hưng, người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa chống nhà Đường, góp phần giải phóng thành Đại La năm 791.

Như vậy, các vị thần được thờ tại cụm di tích Năm Làng Mọc đều là những anh hùng dân tộc, biểu trưng cho tinh thần trung nghĩa, nhân ái và lòng yêu nước bất khuất của người Việt. Lễ hội Năm Làng Mọc không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao các bậc tiền nhân mà còn là minh chứng cho truyền thống “trung – hiếu – nghĩa – dũng” ngàn đời của cư dân vùng Nhân Mục – mảnh đất “văn vật ngàn năm giữa lòng Thăng Long”.

Lễ hội

Lễ hội Năm Làng Mọc là một trong những sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng đặc sắc của vùng Nhân Mục (nay thuộc quận Thanh Xuân – Hà Nội), mang đậm dấu ấn truyền thống gắn với lịch sử lâu đời của cụm năm làng: Mọc Quan Nhân, Mọc Giáp Nhất, Mọc Cự Lộc, Mọc Chính Kinh và Phùng Khoang. Sau chiến tranh, đình, chùa và các nghi lễ cổ truyền của năm làng dần được phục hồi. Đến năm Nhâm Tuất (1992), lễ hội được tổ chức quy mô lớn với tên gọi “Đại hội Năm Làng Mọc”, thu hút đông đảo người dân và du khách.

Không khí lễ hội bắt đầu rộn ràng ngay từ sau Tết Nguyên đán. Cờ thần, cờ hội, quốc kỳ cùng các pa-nô, khẩu hiệu được trang hoàng khắp các con đường “lai kinh” xưa. Nhân dân các xóm làng lập bàn thờ bái vọng, thể hiện lòng thành kính với các bậc tiền nhân. Ngày mùng 8 tháng Hai, Mọc Phùng Khoang mở đầu hội bằng màn múa rồng sôi động, đoàn mô-tô thanh niên nam nữ mang cờ diễu hành qua các làng. Ngày mùng 9 tháng Hai, Mọc Giáp Nhất long trọng tổ chức lễ đón bằng xếp hạng di tích đình, chùa làng; cùng ngày, các dòng họ ở Quan Nhân đội mâm lễ ra đình tế lễ.

Đến mùng 10 tháng Hai, không khí lễ hội lan tỏa khắp vùng. Tại Quan Nhân, diễn ra lễ rước kiệu Đức Thánh Ông và Đức Thánh Bà, do giai nam, giai nữ khênh kiệu, tuân theo hiệu lệnh của “ông khởi chỉ, bà khởi chỉ”. Nghi thức tế lễ chính được cử hành vào giờ Ngọ trong không gian trang nghiêm, sau đó là lễ dâng hương. Cùng thời điểm ấy, các dòng họ ở Cự Lộc, Chính Kinh và Phùng Khoang cũng đội mâm lễ trình Thánh, hòa cùng dòng người nô nức hướng về ngày hội lớn.

Ngày mùng 11 tháng Hai là đỉnh cao của lễ hội – ngày hội chung của Năm Làng Mọc. Từ sáng sớm, đoàn rước gồm kiệu, rồng, sư tử, bát bửu, chấp kích, cờ quạt, đội tế, đội dâng hương… theo nhịp trống, chiêng, nhạc bát âm khởi hành từ Phùng Khoang tiến về Giáp Nhất, qua quãng đường hơn ba cây số. Mỗi khi đoàn rước đi qua, dân làng hai bên đường lại ra đón mừng, nhập đoàn, tạo nên đoàn rước dài hàng cây số như “rồng rắn rước tiên về đình Giáp Nhất”.

Không khí hội tưng bừng, náo nhiệt. Hình ảnh ông Thỏ, ông Địa vừa nhảy múa vừa phe phẩy quạt khuấy động đám đông; đội múa rồng, múa sư tử biểu diễn uyển chuyển, khi uốn lượn lên cao, khi hạ xuống mềm mại, giữa tiếng reo hò cổ vũ. Những giai kiệu, gái kiệu theo kiệu bay dọc, bay ngang, nét mặt hân hoan như nhập thần. Sau phần lễ là phần hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc: đánh vật, chọi gà, múa kiếm, múa roi, ngâm thơ, cò người, bắt vịt… tất cả tạo nên bức tranh sinh động về đời sống tinh thần phong phú, gắn bó cộng đồng của cư dân vùng Năm Làng Mọc – nơi “văn vật ngàn năm giữa lòng Thăng Long”.

Tham khảo

  1. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)