Võ Văn Trường (2008) 500 danh lam Việt Nam. NXB Thông Tấn

Võ Văn Trường (2008) 500 danh lam Việt Nam. NXB Thông Tấn

Nội dung chính

Đại lễ Vesak LHQ hay còn gọi là đại lễ Tam Hợp LHQ, kỷ niệm ba sự kiện Đản sanh, Thành đạo và Niết bàn của đức Phật. Tên gọi chính thức bằng tiếng Anh là United Nations Day of Vesak (UNDV). Tên gọi chính thức tại Việt Nam là “Đại lễ Phật Đản Liên HỢp Quốc” hoặc còn gọi là Ngày Phật đản/ Tam hợp Liên Hiệp Quốc. Mục đích của đại lễ là nhằm tôn vinh các giá trị đạo đức, văn hóa, và tư tưởng hòa bình, bất bạo động của Đức Phật và tạo dựng một mối tương kính, hiểu biết giữa các quốc gia và dân tộc trên toàn thế giới.

Đại lễ Phật đản LHQ là lễ hội văn hóa thế giới do Liên HỢp Quốc khai sinh, chủ xướng, duy trì và triển khai. Lễ hội quốc tế nầy là để vinh danh đức Phật, một vĩ nhân văn hóa của nhân loại, và để xiển dương nội dung hòa bình và nhân bản của giáo pháp của Phật.

Hòa với niềm vui với các dân tộc và Phật tử trên toàn thế giới, năm nay, Việt Nam vinh dự được đăng cai tổ chức ngày đại lễ Phật đản LHQ cao quý tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia từ ngày 13-17 tháng 5 năm 2008 (nhằm mùng 9-13 tháng 4 Mậu Tý). Chính phủ nước Việt Nam phối hợp với ủy ban Tổ chức Quốc tế (IOC), Giáo hội Phật giáo Việt Nam (VBS) và Ban Điều phối Quốc gia cùng tổ chức ngày lễ trọng đại này.

Đại lễ Phật đản LHQ lần thứ 9 (đối với Đại hội đồng LHQ) và là lần thứ 5 (đối với cộng đồng Phật giáo quốc tế) này, Ban tổ chức có nhiều tặng phẩm cao quý cho trên 600 phái đoàn đến từ hơn 80 quốc gia. Trong số đó, ấn phẩm “500 Danh Lam Việt Nam” của nhiếp ảnh gia Võ Văn Tường là tặng phẩm có ý nghĩa, góp phần giúp cho toàn thể đại biểu trong và ngoài nước hiểu thêm về lịch sử Phật giáo và sự đồng hành của nó với dân tộc qua hình ảnh của “mái chùa che chở hồn dân tộc.”

về ý nghĩa từ nguyên của thuật từ “Chùa” trong tiếng Việt Nam cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự nhất trí nào. Rõ ràng từ Chùa ít có khả năng có mối liên hệ từ nguyên với từ “tự” (Tr) của Trung quốc. Có người cho rằng từ Chùa bắt nguồn từ chữ thủy (tiếng Pali) hay stupa (tiếng Sanskrit) vốn có nghĩa là “tháp,” do yếu tố các chùa Việt Nam có dạng tháp. Có nhà nghiên cứu cho rằng hai chữ “thủy” và “stupa” được người Việt Nam rút ngắn như thói quen của họ khi du nhập các từ nước ngoài đa âm tiết, chỉ còn lại “thủy” hay “chữ” và từ đó đọc chạy âm thành “chùa.” Mặc dù chữ stupa hay chữ thủ có hai âm tiết, nhưng âm tiết “pa” là âm câm, nên đọc chạy âm thành chùa. Trong thuật ngữ tiếng Việt, còn có cặp từ “chùa chiền” chỉ cho nơi nơi thờ Phật, mà nguồn gốc của chữ “chiền” được xem là phát xuất từ gốc từ cetiya (Pali) hay caitya (Sanskrit).

Tiếp cận từ góc độ văn hóa, Chùa không chỉ là nơi thể hiện tín ngưỡng tôn giáo trong đạo Phật (mặc dù đạo Phật đúng nghĩa không phải là một tôn giáo theo nghĩa từ nguyên), mà còn vừa là thực thể văn minh, vừa là thực thể văn hóa. Chùa là tổng thể của văn minh kiến trúc, điêu khắc, ảnh tượng, bia ký và pháp khí v.v… Chùa cũng là tổng thể của đời sống tinh thần, nơi trau dồi, rèn luyện nhân cách và lột bỏ tất cả những bợn nhơ của hành vi, cử chỉ, lời nói và nếp nghĩ của những ai tôn thờ Phật Thích Ca làm thầy tâm linh.

Tiếp cận từ góc độ kiến trúc, khác với đền, miếu, nhà thờ, nơi thờ các vị thần thánh hay Thượng đế, Chùa là một tổng thể bao gồm điện thờ Phật, nhà thờ Tổ, các tăng xá, nhà khách và tháp v.v…

Trong dân gian Việt Nam, đã từ lâu, thuật ngữ “chùa” được sử dụng với nghĩa bóng là “miễn phí” hay “không công.” Nguồn gốc ra đời của ý nghĩa này có lẽ bắt nguồn từ các thời đại Lý và Trần, khi ngôi chùa đã trở thành trung tâm văn hoá, giáo dục và tôn giáo của quần chúng. Chùa được xây dựng lên để dân chúng được học tập, sinh hoạt văn hoá và trau dồi đời sống tinh thần, một hình thức sinh hoạt rất quan trọng, làm tăng cường ý nghĩa cuộc sống của con người.

Câu nói “đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” cho thấy được đã từng có một giai đoạn lịch sử người dân Việt Nam xem chùa là tài sản chung của làng xã. Khi chùa được xem là tài sản chung, con em trong làng đến chùa học đều được miễn phí hoàn toàn; đến tham gia các hình thức sinh hoạt văn hoá và lễ hội cũng không phải mua vé hay trả tiền; ăn cơm ở chùa cũng không cần phải đóng tiền tháng, tiền bửa như công nhân ăn cơm phần hay cơm hộp ngày nay. Từ đó, đã phát sinh ra các thành ngữ liên hệ đến từ “chùa” với các ý nghĩa mang đậm nét văn hoá “vị tha và phụng sự” của Phật giáo, một nền văn hoá khác xa với văn hóa mang màu sắc kinh doanh, mua bán của nền kinh tế thị trường hay kinh tế quốc doanh.

Cho đến nay (2008), sách viết về các ngôi chùa Việt Nam chưa đến đầu ngón tay. Các tác phẩm về thể loại này có thể kể “Chùa Xưa Tích Cũ” của Nguyễn Bá Lăng (1988),1 “Việt Nam Danh Lam Thắng cảnh: Những Ngôi Chùa Danh Tiếng” của Nguyễn Quảng Tuân (năm 1990),2 “Chùa Hoa TP.HCM” do Phan An chủ biên (1990),3 “Việt Nam: Di Tích và Thắng cảnh” của Đặng Đức Siêu (1991).4 “Chùa Việt Nam” do Hà Văn Tấn chủ biên (1993)5 giới thiệu cái nhìn bao quát về lịch sử, kiến trúc, cách bài trí thờ phượng và các sinh hoạt tâm linh giữa các cộng đồng làng xã Việt Nam. Số lượng các ngôi chùa được giới thiệu trong các sách trên chưa đến 40 ngôi. Các cuốn sách của Võ Văn Tường về chùa Việt Nam đã mở ra phong cách mới, vừa là tuyển tập các ảnh nghệ thuật về kiến trúc chùa Việt Nam nhiều nhất và tiện tra cứu nhất, vừa là tác phẩm mô tả các phương diện lịch sử, văn hóa và giá trị tâm linh của nó trong lịch sử văn hóa của Việt Nam.

Các tác phẩm của Võ Văn Tường về thể loại này gồm có : “Việt Nam Danh lam cổ Tự” (năm 1992)6 giới thiệu 171 ngôi chùa tiêu biểu ở 45 tỉnh, thành phố’ qua 667 tấm ảnh màu và bài viết với 4 ngôn ngữ : Việt – Anh – Pháp – Hoa; “Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam” (năm 1994)7 giới thiệu 243 ngôi chùa nổi tiếng ở 43 tỉnh, thành phố qua 1.500 tấm ảnh màu và bài viết với 2 ngôn ngữ Việt – Anh; “Danh Lam Nước Việt” (năm 1995)8 giới thiệu 45 ngôi chùa tiêu biểu Việt Nam với 2 ngôn ngữ Việt -Anh; “Hà Nội Danh Lam cổ Tự” (năm 2003)9 giới thiệu 36 ngôi chùa nổi tiếng ở thủ đô; “108 Danh Lam cổ Tự Việt Nam” (năm 2007)10 giới thiệu 108 ngôi chùa tiêu biểu ở 33 tỉnh, thành phố qua 838 tấm ảnh màu và bài viết với 4 ngôn ngữ : Việt – Anh -Pháp – Hoa; “Những ngôi chùa nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh” (năm 2006)11 giới thiệu 26 ngôi chùa nổi tiếng ở TP. Hồ Chí Minh với 2 ngôn ngữ Việt – Anh; “Chùa Phù Châu” (năm 2007)12 giới thiệu chùa Phù Châu – Tiền Giang với 2 ngôn ngữ Việt -Anh. Đặc biệt, Võ Văn Tường còn là tác giả 2 cuốn sách điện tử (CD-ROM) đã được Trung tâm Sách Kỷ lục Việt Nam công nhận Kỷ lục Việt Nam : “CD-ROM Những ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam” (năm 1996)13 giới thiệu 300 ngôi chùa nổi tiếng Việt Nam ở 45 tỉnh, thành phố qua 2.223 tấm ảnh màu và nhiều bài viết với 2 ngôn ngữ Việt – Anh; “CD-ROM Chùa Việt Nam – xưa và nay” (năm 2007)14 giới thiệu 522 ngôi chùa Việt Nam ở 57 tỉnh, thành phố qua 7.804 tấm ảnh màu và nhiều bài viết với 2 ngôn ngữ Việt – Anh, cùng địa chỉ ngôi chùa Việt Nam trên khắp thế giới.

Khoảng 2.000 tấm ảnh nghệ thuật trong tác phẩm “500 Danh Lam Việt Nam” mà quý vị đang có trên tay giới thiệu khá đầy đủ các ngôi chùa nổi tiếng ở ba miền Nam Trung Bắc với nhiều dạng kiến trúc, đại diện cho nhiều truyền thống Phật giáo, cổ cũng như kim.

Tôi tin chắc rằng tác phẩm này là món quà tinh thần quý giá đối với ai quan tâm đến văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam. Giờ đây, kính mời quý độc giả hãy tự mình cất bước trên hành trình nghệ thuật để tự mình khám phá các giá trị văn hóa và tâm linh của Phật giáo.

Trân trọng.

  1. ĐĐ. Thích Nhật Từ
    Tổng thư ký Đại lễ Phật đản LHQ 2008
    Trưởng Bộ môn Triết học Phật giáo HVPGVN tại TP.HCM

CHÚ THÍCH

  1. Nhà xuất bản Lá Bối in lần thứ nhất tại San Jose, California, Hoa Kỳ. Tác phẩm này là một tuyển tập các bài viết về danh lam, thắng tích Việt Nam, vốn đăng trong Vạn Hạnh, năm 1964 đến 1968, Phương Đông năm 1972 – 1973.
  2. Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam xuất bản. Ảnh trong sách của Võ Văn Tường.
  3. Nhà xuất bản TP. Hồ Chí Minh ấn hành. Các tác giả khác bao gồm Phan Yến Tuyết, Trần Hồng Liên, Phan Ngọc Nghĩa. Ảnh của Phan Ngọc Nghĩa. Nội dung giới thiệu 10 chùa Hoa.
  4. Nhà xuất bản Đà Nẵng. Đồng tác giả còn có Nguyễn Vĩnh Phúc, Phan Khanh, Phạm Mai Hùng. Nội dung giới thiệu 34 ngôi chùa.
  5. Nhà xuất bản Khoa học xã hội. Ảnh của Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long.
  6. Nhà xuất bản Khoa học xã hội – Hà Nội. Tái bản các năm 1993, 1994, 1995.
  7. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – Hà Nội. Sách được thưởng giải nhất sách đẹp quốc gia năm 1995.
  8. Nhà xuất bản Mỹ thuật – Hà Nội. Viết chung với ông Huỳnh Như Phương.
  9. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – Hà Nội. Viết chung với Thượng tọa Thích Bảo Nghiêm.
  10. Nhà xuất bản Thuận Hóa – Huế.
  11. Nhà xuất bản Trẻ – TP. Hồ Chí Minh. Viết chung với ông Trương Ngọc Tường.
  12. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh. Viết chung với ông Trương Ngọc Tường.
  13. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – Hà Nội và Công ty Tin học Tin Việt. Cuốn sách điện tử đầu tiên của Việt Nam.
  14. Nhà xuất bản Giáo dục – Hà Nội và Công ty phần mềm VN SOFT. Cuốn sách điện tử giới thiệu sô’ chùa và ảnh chùa nhiều nhất Việt Nam.
Chấm điểm
Chia sẻ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)