Kinh Dương Vương

Kinh Dương Vương

Thông tin cơ bản

Thân thế

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Kinh Dương Vương:

Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông. [Nhâm Tuất, năm thứ 17] Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.

Vì vậy, trong Toàn thư, các sử gia đã xem Kinh Dương Vương là vị thủy tổ đầu tiên của nước Nam. Sách cũng ghi rõ rằng Kinh Dương Vương kết duyên với con gái của Động Đình Quân là Thần Long và sinh ra Lạc Long Quân. Sau này, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ – con gái của Đế Lai – và sinh được một trăm người con trai. Năm mươi người theo mẹ lên núi, năm mươi người theo cha xuống biển. Lạc Long Quân được tôn là tổ của Bách Việt. Người con trưởng của ông là Hùng Vương đã dựng nên nhà nước Văn Lang và phát triển hưng thịnh qua 18 đời vua. 

Lập quốc và trị vì

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Kinh Dương Vương lên ngôi và bắt đầu cai trị vào quãng năm 2879 trước Công nguyên. Lãnh thổ quốc gia dưới thời ông được ghi nhận có phạm vi rất rộng: phía Bắc kéo dài đến Trường Giang, bao gồm cả khu vực hồ Động Đình; phía Nam giáp Hồ Tôn (tức Chiêm Thành); phía Đông là Biển Đông, một phần của Thái Bình Dương; còn phía Tây tiếp giáp Ba Thục, thuộc vùng Tứ Xuyên của Trung Quốc ngày nay.

Lĩnh Nam chích quái ghi lại giai thoại vua đánh đuổi thần Xương Cuồng dũng mãnh, trừ hại cho dân:

Thuộc địa giới Phong Châu, về thời thượng cổ có một cây đại thị tên là Chiên Đàn, thân cao nghìn tầng, cành lá sum suê không biết mấy nghìn dặm, có chim thước làm ổ ở trên cây nên chỗ đất ấy đặt tên là Bạch Hạc. Cây Chiên Đàn trải qua không biết mấy nghìn năm đến khi khô hủ thì hóa làm yêu tinh, biến hiện dũng mãnh, hay thương xót nhân dân.

Kinh Dương Vương dùng thần thuật thắng được yêu tinh…

Sách Thiên Nam minh giám có viết:

Tượng mảng xưa sách trời đã định,
Phân cõi bờ xuống thánh sửa sang,
Nước Nam từ chúa Kinh Dương,
Tầy nhường phải đạo, mở mang phải thì.

Bản Thần tích xã Vi Cương (Phú Thọ) ghi chép khá rõ về các đời vua với nhiều thông tin thú vị liên quan, ở mục về Kinh Dương Vương, bản thần tích này có chép:

Kinh Dương Vương có 6 cung phi, sinh 24 hoàng tử và 20 công chúa hoàng tôn miêu duệ gồm 36 chi, sinh 596 chắt. Vua cai trị, các chư hầu trong thiên hạ luôn cảm phục, bách man bốn phương đến làm khách, quần phương tám cõi cùng hưởng phúc thái bình, trong nước không thu thuế khóa, dân không dối trá.

Kinh Dương Vương và tín ngưỡng thờ những vị thủy thần Long Vương

Truyền thuyết cá vượt Vũ Môn khởi nguồn họ Hồng Bàng kể 50 người con theo cha Rồng Lạc Long Quân đi về phía Đông xuống biển là các Thủy thượng Linh thần, 50 người con theo mẹ Tiên Âu Cơ lên vùng miền núi phía Tây là các Sơn thần. Như thế rồng là hình tượng đã đi vào trong văn hóa Việt ngay từ buổi đầu dựng nước với tâm thức hướng ra khai phá miền biển Đông.

Ca dao xưa có câu: 

Mùng bốn cá đi ăn thề
Mùng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Truyền thuyết Việt về rồng đầu tiên là trong điển tích cá vượt Vũ Môn hóa rồng. Đây là sự tích kể về thời vua Kinh Dương Vương khởi dựng nước Nam. Kinh Dương Vương cũng là Tản Viên Sơn Thánh, người đã chống lại nước lũ ngập ngang trời thời Đường Nghiêu. Vũ Môn là nơi Kinh Dương Vương trị thủy – là dải Thác Bờ gập ghềnh hiểm trở trên dòng sông Đà. Hình ảnh cá hòa rồng còn lưu lại ở nhiều đền thờ Tản Viên Sơn Thánh quanh vùng Ngũ Linh núi Ba Vì. Cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương nghìn đời của bậc tiền nhân thời lập quốc, đã tìm tòi tri thức về thế giới quan và nhân sinh quan mà nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa vào xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

Người đã kết duyên cùng với Kinh Dương Vương sau cuộc gặp gỡ bên bờ Động Đình là Thần Long Nữ. Tản Viên Kinh Dương Vương đã cứu được con rắn, con của Long vương Động Đình, rồi đi xuống Thủy cung mà lấy được cuốn sách ước. Mẫu Thần Long đại diện cho tộc người sinh sống trong vùng sông biển ở phía Đông, xưa gọi là hồ Động Đình. Câu chuyện Mẫu Thoải (Mẫu Thủy phủ) còn được kể trong truyền thuyết về thư sinh Liễu Nghị, đã xuống thủy cung truyền thư báo tin mà cứu được Xích Lân Long Nữ. Liễu Nghị như thể là một cách kể khác của Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh. Mẫu Thoải và Liễu Nghị được thờ như các vị thủy thần có khả năng ngăn mưa chống lụt ở chùa Ông (chùa Sộp) và chùa Bà (chùa Dựa) tại Thanh Miện, Hải Dương.

Kinh Dương Vương lấy mẫu thân Thần Long sinh ra Lạc Long Quân nên Lạc Long Quân thừa hưởng vị trí quan chủ của cả dòng Lạc bên cha và dòng Long bên mẹ. Lạc Long Quân đứng đầu các tộc người vùng sông biển nên khi hóa sinh về biển được tôn là Vua cha Bát Hải Động Đình, là vị vua chủ của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. 

Tín ngưỡng thờ những vị thủy thần rất phổ biến ở vùng đồng bằng sông Hồng ven biển, trải dài qua Thanh Hóa, Nghệ An, vào tới tận Hà Tĩnh. Ở khu vực ven biển huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh có một loạt các di tích thờ Tam Lang Long Vương như Miếu Ao Thạch Trị, đình Đại Hải… Đặc biệt nhất là đình Thạch Lặc nằm ngay trên di chỉ khảo cổ tiền sử cồn sò, nơi đã phát hiện được di cốt người Việt cổ với niên đại 4000 – 5000 năm trước. Đây là bằng chứng rất rõ ràng rằng các vị Long Vương là những quân chủ vùng ven sông biển, lấy nghề đánh cá bắt thủy hải sản mà sinh sống từ thời kỳ dựng nước trên 4000 năm trước. 

Kinh Dương Vương và chuyện tình với nàng tiên nữ Động Đình

Kinh Dương Vương được tôn là Thủy tổ và được coi là vị vua đầu tiên của dân tộc Việt. Ngài có một mối tình huyền thoại được các sách sử nhắc đến ngắn gọn như sau:

Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, sinh ra Lạc Long Quân” (Việt sử tiêu án). Sách Toàn thư viết: “Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân (Xét: Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi)”. Sách Lĩnh Nam chích quái, ghi chép những sự kiện kỳ lạ ở phương Nam, trong truyện Họ Hồng Bàng cũng chỉ viết rằng: “Tục truyền Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lâm, hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước.

Hiện nay tại phương Tiên Cát, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn còn tồn tại một ngôi đền được gọi là đền Tiên – là nơi thờ phụng bà Thần Long còn được gọi là Thần Long nữ, tên húy là Hồng Đăng Ngàn. Bản sao Ngọc phả tại đền Tiên được soạn năm Quý Dậu (1573) cũng viết rằng Thần Long Hồng Đăng Ngàn là vợ của Kinh Dương Vương, bà được phong làm “Vì cung chính khổn” (tức Hoàng hậu) của nước Xích Quỷ. Ngọc phả cho biết thêm rằng, Kinh Dương Vương khi còn tại vị đã cho xây dựng 50 lâu đài, cung điện tính từ núi Nghĩa Lĩnh đến ngã ba Bạch Hạc (Việt Trì), trong đó có một cung điện ở trang Tiên Cát dành riêng cho Hoàng hậu Hồng Đăng Ngàn. Sau khi mất, bà được táng ngay trong cung chính, từ đó cung Tiên Cát được chuyển thành làng Tiên Cát, rồi trở thành đền thờ Hoàng hậu Hồng Đăng Ngàn với tên gọi là đền Tiên. 

Hằng năm, người dân địa phương làm lễ giỗ bà hoàng Hồng Đăng Ngàn từ mồng 9 đến 12 tháng 10 Âm lịch. 

Trong tín ngưỡng đạo Mẫu, vì có xuất thân từ miền sông nước nên bà Thần Long được coi là thần Thuỷ phủ và được suy tôn là Mẫu Thuỷ, nhưng vì kiêng tên húy, kiêng cả đến nơi xuất thân của bà nên dân ta gọi chệch đi là Thoải phủ, Mẫu Thoải. Trong một bài chầu văn có đoạn ca ngợi mẫu Thoải như sau:

Trình giang biên dòng ngân lai láng,
Nguyệt làu làu soi sáng Nam minh.
Ngài con vua Thuỷ Động Đình,
Có tiên thần nữ giáng sinh đền rồng.
Tài gồm đủ công, dung, ngôn, hạnh,
Nét nhu mì bẩm tính thiên nhiên.
Dung nghi cốt cách thần tiên,
Vàng trong nước lệ ngọc miền non Côn…

Thiên diễm tình huyền thoại giữa Kinh Dương Vương và Thần Long nữ Hồng Đăng Ngàn được truyền tụng ở vùng Tiên Cát như sau:

Chuyện rằng, một lần Kinh Dương Vương đi thăm thú du ngoạn tới hồ Động Đình gặp cảnh sông nước thơ mộng khiến nhà vua vô cùng sảng khoái, lập tức xuống tắm. Vốn dĩ giỏi bơi lặn, dưới đáy nước, vua đã nhìn thấy một tiên nữ xinh đẹp, dáng mảnh mai, tóc dài cài hoa trắng óng ả. Tiên nữ khiến lòng Kinh Dương Vương xao xuyến, mong muốn đưa nàng về cung làm vợ. Tiên nữ đó là con gái Động Đình Quân vốn thuộc nòi giống Rồng.

Nhà vua bèn đến ngỏ ý với Động Đình Quân. Nghe danh của Kinh Dương Vương đã lâu, nay được giáp mặt, Động Đình Quân rất vui và đồng ý gả con gái cho vua. Sau khi theo Kinh Dương Vương về cung, chẳng bao lâu, tiên nữ sinh hạ được một người con trai mình đầy vảy rồng. Kinh Dương Vương vô cùng sung sướng đặt tên con là Sùng Lãm. Về sau, Sùng Lãm nối ngôi vua cha, lấy hiệu là Lạc Long Quân…

Mối tình huyền thoại này còn được nhắc tới trong nhiều nguồn thư tịch và truyền tụng dân gian với một số tình tiết dị biệt. Trong bản Ngọc phả đền Hùng (tức Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh vương triều Hùng) có viết rằng:

Vua lúc bình sinh vốn yêu phong thuỷ, bèn cử giá tuần du ngoài biển, xem khắp địa đồ, bất giác thuyền rồng đến thẳng hồ Động Đình. Vua sai dừng thuyền trên mặt nước ngắm nhìn, bỗng thấy một người con gái xinh đẹp yêu kiều từ đáy nước hiện ra. Nàng có dung nhan tuyệt đỉnh, cho là kỳ ngộ xưa nay, liền sai chèo thuyền lại, vua hỏi rằng:

Đẹp thay tiên nữ! Nàng từ đâu đến đây?

Nàng đáp:

– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái vua Động Đình, ở chốn điện vàng cửa ngọc, chờ đợi người anh hùng đã lâu. Nay trời xui gặp gỡ, thiếp nguyện muốn được nâng khăn sửa túi.

Vua nghe vậy mừng rỡ khôn xiết, bèn mời vào trong thuyền, đưa về thành đô, lập Thần Long làm chính khốn.

Về sau vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông… Khi ấy vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh, thấy bà cung phi Thần Long quân nữ mang thai, có điềm lành ứng rồng, ánh hào quang đỏ đầy khắp nhà, trong trướng sinh hương, mùi thơm ngào ngạt trong mấy tuần, sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân có tư chất phi thường, tự có khí tượng của bậc đế vương. Vua mới lập làm Hoàng thái tử.

Theo truyền thuyết vùng Nghệ – Tĩnh: Tục truyền, Kinh Dương Vương khi mới dựng nước liền đi xem phong cảnh núi sông, tìm đất tốt để xây dựng kinh đô. Khi về phương Nam đến vùng Ngàn Hống, vua thấy phong cảnh núi non trùng trùng điệp điệp, 99 ngọn cao tận trời xanh, chân núi vờn lên đến cửa Đơn Hay có thế rồng vây hổ chầu.

Kinh Dương Vương lấy làm vừa ý bèn cho đắp thành dưới núi, lấy nơi này làm đô ấp của nước Việt Thường, vị trí thành ấy là đất Nội – Tả – Hữu Thiên Lộc thuộc Châu Hoan (nay là các xã Thiên Lộc, Phúc Lộc, Tùng Lộc của huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Dựng xong đô ấp, Kinh Dương Vương lại cưỡi thuyền thẳng về hướng Bắc, tiếp tục đi xem phong cảnh đất nước. Thuyền đang đi, bỗng có một nàng tiên xinh đẹp tuyệt trần từ dưới nước hiện lên tự xưng là Thần Long. Sau khi chào hỏi ân cần, vua mời nàng lên thuyền, đôi bên trò chuyện tâm đầu ý hợp, Kinh Dương Vương bèn đưa Thần Long về Ngàn Hống cưới làm vợ…

Đánh giá về mối kỳ duyên này, sách Đại Việt sử ký toàn thư bình rằng:

Kinh Dương Vương họ Hồng Bàng, nối con cháu Thần Nông, lấy con gái vua Động Đình, tỏ rõ đạo vợ chồng, nắn ngay gốc phong hoá, vua thì lấy đức cảm hoá dân, rủ áo khoanh tay. Dân thì cày ruộng ăn, đào giếng uống, sớm làm tối nghỉ, chẳng phải là phong tục thái cổ của Viêm Đế ư?

Kinh Dương Vương và truyện Liễu Nghị thời Đường

Khi so sánh, đối chiếu các chính sử, các nhà nghiên cứu đương thời đã đặt ra nghi vấn có phải Kinh Dương Vương là một nhân vật huyền thoại, có nguồn gốc tiểu thuyết Liễu Nghị truyện?

Theo Trần Trọng Dương, nhà nghiên cứu lịch sử và các biểu tượng văn hóa cổ đã có nghi vấn rằng:

trong Toàn thư, sau khi viết về lai lịch, cuộc đời của Kinh Dương Vương, Ngô Sĩ Liên đã viết: “Xét Đường kỷ chép: thời Kinh Dương có người đàn bà chăn dê, tự xưng là con gái út của Động Đình Quân, lấy con thứ của Kinh Xuyên, bị bỏ, viết thư nhờ Liễu Nghị tâu với Động Đình Quân. Thế thì Kinh Xuyên và Động Đình đời đời làm thông gia với nhau đã từ lâu rồi.

Chúng ta còn thấy chuyện này được chép trong sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV?), rồi sau đó lại được sao chép nguyên vẹn vào trong thần tích của Mẫu Thoải tại Tuyên Quang. Cần nhắc lại ở đây ghi chép về nguồn Đường kỷ của Ngô Sĩ Liên là một gợi ý hữu ích cho những người nghiên cứu các đời sau. Từ gợi ý đó, một số học giả đã tìm ra cả chục văn bản văn học Trung Quốc chép câu chuyện này. Lần xa hơn nữa, các học giả đều thống nhất cho rằng, truyện Kinh Dương Vương có sự sao chép từ tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳) do Lý Triều Uy sáng tác vào đời Đường.

Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục:

Vâng tra sử cũ, danh xưng Kinh Dương vương, Lạc Long quân trong ‘Hồng Bàng thị kỷ’, vốn từ thời thượng cổ, thuộc thuở hồng hoang, tác giả căn cứ vào cái không và làm ra có, sợ rằng không đủ độ tin cậy, lại phụ hội với Liễu Nghị truyện của nhà viết tiểu thuyết đời Đường, lấy đó làm chứng cứ”. 

Chuẩn tấu những lời của sử quan, vua Tự Đức đã nhận định đây là những “câu truyện đề cập đến ma trâu, thần rắn, hoang đường không có chuẩn tắc” và cương quyết loại Kinh Dương và Lạc Long ra khỏi chính sử bằng cách đưa xuống phụ chú dưới niên kỷ Hùng Vương, để “cho hợp với cái nghĩa lấy nghi truyền nghi”.

Còn Liam Christopher Kelley nhận xét:

Trải qua nhiều thế kỷ, những truyền thống mà họ [các sử gia] sáng tạo đã trở thành cái tự nhiên thứ hai (second nature). Thực tế, trong nửa thế kỷ qua, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc, những truyền thống được sáng tạo ấy (invented traditions) đã và đang trở thành những sự thực không thể thay đổi. 

Có thể nói, đây sẽ là những manh mối gợi mở cho các nhà nghiên cứu sau này, ở bài viết này chúng tôi xin được dẫn lại nghiên cứu mới nhất về vấn đề này của nhóm Nghiên cứu di sản văn hóa Đền Miếu Việt, được trình bày trong cuốn sách “Kinh triều bảo lục – Sử tích Long quân và các vị Thủy thần Lạc Thị”:

Truyện Liễu Nghị là một tác phẩm dạng truyện truyền kỳ phổ biến từ thời Đường kể về con gái vua Động Đình bị kinh xuyên ruồng bỏ, rồi được thư sinh Liễu Nghị báo tin cứu giúp. Các nhà Nho nước ta dựa vào truyện này mà cho rằng huyền sử về Kinh Dương Vương là sản phẩm sao chép từ truyện Liễu Nghị truyền thư. Tuy nhiên, di tích và tín ngưỡng thờ Liễu Nghị và Thần Long Thoải phủ ở đất Hải Dương lại cho một nhận thức hoàn toàn khác về ý nghĩa thật sự của truyền thuyết Liễu Nghị, gắn với Tản Viên Sơn Thánh và Thủy phủ Động Đình.

Chùa Ông Sộp ở xã Tân Trào, Thanh Miện, Hải Dương, xưa là xã Ngọc Lạp, là nơi thờ Đức Thánh Liễu Nghị. Thần tích ở đây kể: 

Ngài là sao Liễu giáng sinh. Đức thánh phụ là Liễu Phong, đức thánh mẫu là Hán Thị Miên. Ngày học ông Hàn Tỉnh tiên sinh. Ngài có phép phù thủy, lúc bấy giờ ngài chưa đỗ, ngài đi chu du sơn thủy, gặp một người thiếu nữ kêu khóc ở trong rừng, vừa khóc vừa dậy nói rằng:

Thiếp là con gái vua Động Đình, bị giáng làm người dương thế, lấy Hồ Nghi người Kinh Diên, có vợ bé là Thị Chi. Thị Chi dụng tình làm thư giả nói với chồng là Hồ Nghi rằng thiếp có ngoại tình cho nên người chồng đem đày trong rừng này, bắt nuôi dê bao giờ dê đực để mới về. Thiếp xin viết 1 bức thư nhờ lang quân đem xuống Động Đình, cứ đi đến bên sông Hoàng Giang thấy có cây quất, long quân đánh vào cây quất 3 tiếng tự nhiên ứng hiện.

Ngài đến bên sông Hoàng Giang cầm thư đánh vào cây quất, quả nhiên thấy đền đài lầu các, đền gọi là đền Hư Linh Đài, chỗ ăn, chỗ ở lạ khác dương trần, thấy vua Động Đình ngồi chỉnh tọa, tay cầm ngọc khuyên. Bấy giờ ngài dâng thư vào. Vua Động ĐÌnh xem như sai Xích Lân Đại tướng đến chỗ sơn lâm đón con gái về, rồi mở tiệc yến. Vua Động Đình cho kết làm vợ chồng nhưng ngài không nghe, từ chối xin để sau này sẽ hay. Vua Động Đình tặng kim ngân châu ngọc cũng không lấy. Bấy giờ vua Động Đình sai Xích Lân Đại tướng tiễn ngài về dương trần. Lúc bấy giờ con gái vua Động Đình tiễn ngài ra ngoài Bích Vân cung, có cầm lấy tay ngài đọc bài thơ lưu luyến:

“Thiếp nay thoát khỏi kiếp chăn dê
Nhờ ơn sâu nặng báo Thủy Tề
Đức lớn biết bao giờ đền đáp
Nguyện đem tấm thân theo chàng về”.

Ngài đọc lại một bài thơ rằng:

“Bích Vân lời ấy xin nàng nhớ
Mãi với non cao cùng biển xanh
Một dải âm dương chia tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh.

Thơ rồi Đức bà về long cung, Đức ông về dương thế.

Rồi đến đời vua Cao Tôn nhà Đường, ngài thi đỗ, làm quan Khu cơ mật viện. Đến niên hiệu Hàm Thông thứ 6, vua Đường Cao Tôn sai ông Cao Biền sang Nam Việt làm đô hộ đánh giặc Nam Chiếu.Ông Cao Biền thấy đức Liễu Nghị, ngài có anh tài kiêm tinh phù thủy pháp môn, tâu vua Đường cho Ngài làm Phó đô hộ Tướng sĩ. Vua Đường y cho. Ông Cao Biền cùng đức Liễu Nghị tiến binh sang Nam Việt bình được giặc Nam Chiếu lập đô ở Đại La thành. Bấy giờ đức Liễu Nghị ra chơi bên sông Nhị Hà, thấy một người thiếu nữ nhan sắc rất đẹp, hình dung giống con gái vua Động Đình, tự xưng là Lư Thị lại nói rằng:

– Thiếp là con gái vua Động Đình, trước bị nhục bởi Hồ Nghi nhờ có lang quân cứu cho. Nay thiếp tâu nhờ với vương phụ để tìm lang quân, sang đến nước Nam Việt này, xin hầu làm khuê phòng.

Đức Liễu Nghị mừng đón về thành. Thời bấy giờ Hải Dương, đạo Hồng Châu bị thủy nạn mất mùa. Ông Cao Biền bảo đức Liễu Nghị đi cứu. Đức Liễu Nghị ngài cùng đức thánh bà đến Hải Dương, Hồng Châu lập đàn trị thủy. Đức Liễu Nghị lập đàn ở xã Ngọc Lạp. Đức Thánh bà là Thủy tinh Công chúa, con gái vua Động Đình, lập đàn ở xã Nhữ Xá, viết thư xuống thủy cung, tự nhiên nước cạn.

Bấy giờ phụ lão xã Nhữ Xá, xã Ngọc Lạp đêm nằm mộng thấy đức thành hoàng của hai làng ấy báo rằng: có 2 vị chủ quan về, dân phải bái hạ. Bấy giờ dân đều tỉnh mộng làm lễ xin làm thần tử đức Liễu Nghị và đức Thủy Tiên.

Sau đức Thánh bà bảo đức Thánh ông rằng thiếp cùng lang quân thủy hỏa tương khắc tử tức khó thành, xin biệt cư. Đức Thánh bà ra tu ở chùa Nhữ Xá, đức Thánh ông tu ở chùa Ngọc Lạp. Cứ lệ 3 năm đức bà mang cho đức ông bộ mũ áo, hội ở chùa Nhữ Xá rồi có một ngày ông bà cùng ra chơi sông Nhị Hà, tự nhiên trời đất tối tăm, 2 ông bà cùng về Động Đình, thủy quốc vân hương. Chùa Ngọc Lạp phụng sự vị hiệu là Thủy phủ Đại đức long cung Liễu Nghị tôn thần. Chùa Nhữ Xá phụng sự vị Động Đình quân nữ Thủy tinh Công chúa. 

Sự tích Liễu Nghị ở Thanh Miện, Hải Dương không chỉ dừng lại ở việc Liễu Nghị cứu được người con gái con vua Động Đình mà còn cho biết ông có thuật “phù thủy” và có phép trị thủy chống lũ lụt. Đôi câu đối ở chùa Ông Sộp nói về thánh Liễu Nghị:

作雨興天有旱
射書治水地無洪

(Tác vũ hưng vân thiên hữu hạn
Xạ thư trị thủy địa vô hồng.)

Nghĩa là:

Khởi tạo mây mưa trời còn hạn
Bắn thư trị thủy đất không tràn

Câu đối nhắc lại tích Liễu Nghị cùng Thần Long đã viết thư gửi xuống Thủy phủ để làm cạn nước chống lũ lụt. Chi tiết đặc biệt này đã cho phép xác định Liễu Nghị chính là Tản Viên Sơn Thánh, người dùng cuốn sách ước trị cơn hồng thủy thời mở nước.

Liễu Nghị gặp Thần Long bị đày đi chăn dê ở Đồng Dã là chuyện Tản Viên Sơn Thánh cứu con rắn, con của Long Vương Động Đình bị lũ trẻ chăn trâu đánh chết bên bãi Trường Sa trong ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh (Tản Lĩnh ngọc ký). Cũng giống như truyện Liễu Nghị, sau khi cứu được con vua Thủy tề, Sơn Thánh đã rẽ nước xuống Thủy phủ gặp Động Đình Đế quân và được tặng một cuốn sách ước thần kỳ. Lúc ra về, Thái tử Long cung tiễn Sơn Thánh tới tận bãi Trường Sa và để lại lời thơ đầy xúc động. Đặc biệt bài thơ này trong Tản Lĩnh ngọc ký lại có 2 câu thơ trùng khớp với bài thơ của Liễu Nghị đọc khi chia tay

Thủy Tiên Công chúa:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung rồng khách chẳng đành
“Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh”
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình”.

Xem thêm một đôi câu đối khác ở chùa Ông Sộp:

天牘寄洞庭雪盎雲宮水府
寸書傳澇處波平海道洪州

Thiên độc ký Động Đình, tuyết áng vân cung thủy phủ
Thốn thư truyền lạo xứ, ba bình hải đạo Hồng Châu.

Nghĩa là:

Thẻ trời gửi Động Đình, tuyết phủ cung mây thủy phủ
Tấc sách truyền vùng ngập, sóng lặng ven biển Hồng Châu.

Câu đối nhắc tới 2 lần truyền thư của Liễu Nghị. Lần thứ nhất là bức thư dạng thẻ được Thủy Tiên Công chúa gửi xuống cho vua cha Động Đình. Lần thứ hai là một đoạn thư thả về Thủy phủ khi ông bà đi chống lụt ở đất Hồng Châu. So sánh với Tản Lĩnh ngọc ký có thể thấy rõ “thiên độc” (thẻ trời) và “thốn thư” (tấc sách) trong sự tích Liểu Nghị tương đương với cây Gậy thần và cuôn Sách ước, là 2 pháp khí của Sơn Thánh đã dùng khi trị thủy. “Thư sinh” Liễu Nghị dùng “thư sách” không phải để học hành thi cử, mà là để làm phép “phù thủy” trong công cuộc chống lại thiên tai, an dân lập quốc.

Cách chùa Ông Sộp khoảng 5km là chùa Nhữ Xá, nay là xã Hồng Quang của huyện Thanh Miện. Chùa còn có tên là chùa Dựa, nơi thờ đức Thánh bà Động Đình Thủy Tinh Công chúa. Sự tích chùa Nhữ Xá còn kể Liễu Nghị được vua Động Đình cho một bầu nước dùng để cứu giúp nhân dân khi thiên tai hạn hán, không có nước cấy cày. Vị Thiên Lôi ở làng An Xá trong cùng xã từng lấy trộm bầu nước này, nhưng không thể sử dụng được như thánh Liễu Nghị. Chi tiết này cho thấy phép thuật của Liễu Nghị còn trên tài phép cả Thiên Lôi, nên Liễu Nghị không chỉ là một thư sinh bình thường.

Gần ngay cạnh chùa Ông Sộp là thôn Thủ Pháp, nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh và người mẹ nuôi Ma Thị Cao Sơn Thần Nữ. Thủ Pháp cũng là tên làng quê của bà Ma Thị ở trên núi Tản Viên. Như thế ở Thanh Miện có đủ quê của Thánh Tản và nơi Thánh cùng Thần Long Động Đình trị thủy.

Tới đây đã có thể kết luận, hình tượng Liễu Nghị là một cách kể khác về Tản Viên Sơn Thánh từ góc nhìn của dân gian miền đồng bằng ven biển xưa. Liễu Nghị là Thủy phủ Đại đức Long cung, tức là một vị Thủy thần của chốn Động Đình.

Truyện Liễu Nghị là một dẫn chứng rõ ràng nữa cho nhận định Tản Viên Sơn Thánh là Kinh Dương Vương, vì đều là người đã lấy Thần Long Động Đình. Trong thư tịch cổ cũng đã từng có việc đồng nhất Liễu Nghị là Kinh Dương Vương. Sách Nam sử, một cuốn sử không rõ tác giả, chép: “Kinh Dương Vương đi tuần thú Nam Hải, gặp một người chăn dê, nói mình là con thứ của Động Đình Quân gọi là Thần Long, bị Kinh Xuyên ruồng bỏ. Kinh Dương Vương bèn lấy Thần Long làm Nguyên phi, một năm sau, sinh hạ được một con trai gọi là Sùng Lãm. Kinh Dương Vương sống hơn trăm tuổi, bèn phong Sùng Lãm làm Lạc Long Quân, nối trị phương Nam. Kinh Dương Vương và Thân Long bèn cưỡi rồng lên trời”. 

Từ nhận định rõ ràng về thời kỳ Hùng Vương Thánh Tổ khai dân lập quốc thì truyện Liễu Nghị truyền thư, Tản Viên Sơn Thánh cứu Thủy Tinh Động Đình hay Kinh Dương Vương có tài đi dưới Thủy phủ lấy mẫu Thần Long nay đã có thể hiểu như sau.

Vào thời Đế Nghi, chính dòng Viêm tộc từ Đế Minh, đang làm chủ thiên hạ. Dòng thứ lúc này là Tiên tộc từ bà Vụ Tiên đã gây mâu thuẫn làm cho Đế Nghi đuổi dòng Long tộc Động đi. Thần tích ở Thanh Miện kể thành Hồ Nghi ở Kinh Diên (Kinh Xuyên) nghe lời người thiếp Thị Chi (Thảo Mai) đày Thần Long đi chăn dê (bị nhốt vào cũi trong rừng).

Khi Tản Viên Sơn Thánh, là dòng Lạc tộc (Lộc Tục) lên nắm giữ ngôi chủ thiên hạ, xưng là Kinh Dương Vương, Sơn Thánh – Liễu Nghị đã có chuyến đi xuống Thủy phủ Động Đình ở miền sông biển Hải Dương, kết giao với dòng Long tộc. Từ đó Kinh Dương Vương đã hoàn thành nốt chặng đường hội nhập 4 tộc người thời lập quốc (gồm Viêm tộc, Lạc tộc, Tiên tộc và Long tộc) thành một thiên hạ chung thống nhất. Sơn Thánh với cây gậy thần sách ước được dòng Long tộc gọi là Liểu Nghị truyền thư, kết duyên với con vua Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Khi Kinh Dương Vương cùng Thần Long “cưỡi rồng” đi mất, Lạc Long Quân đã dựa vào thế lực của bên mẹ là Long tộc Động Đình mà chiếm được ngôi vị chủ tể thiên hạ, đánh đuổi và buộc dòng Viêm tộc của Đế Nghi phải di dời đi. Truyện Liễu Nghị kể là Xích Lân Đại tướng đã giết Hồ Nghi ở Kinh Xuyên. Xích Lân là con rồng đỏ, bởi Lạc Long Quân là vị cha Rồng đã nối tiếp làm Xích Để ở nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương. Truyện Liễu Nghị như vậy cũng có đầy đủ nhân vật lịch sử quan trọng là Lạc Long Quân trong vai là Xích Lân Long thần. Sự tích và tín ngưỡng thánh Liễu Nghị trị hồng thủy ở Hải Dương là câu chuyện thật sự về Kinh Dương Vương – Tản Viên Sơn Thánh khai mở vùng ven biển, thống nhất 4 tộc người ở bốn phương, lập nên nước Xích Quỷ và khởi đầu thời kỳ cha truyền con nối trong lịch sử Hồng Bàng – Viêm Bang của người Việt.

Thờ phụng

Việc thờ cúng Kinh Dương Vương ở Việt Nam không phổ biến bằng tín ngưỡng thờ cúng Thần Nông, vị thần là cụ thủy tổ của Hùng Vương đồng thời là vị thần rất được sùng bái trong tín ngưỡng nông nghiệp ở Việt Nam; được các triều đại phong kiến lập Đàn Xã Tắc để tế lễ hàng năm.

Di tích đình Thượng Lãng ở xã Minh Hòa, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình là di tích cổ nhất thờ Kinh Dương Vương; tương truyền có từ thời nhà Đinh.

Ngài được thờ tại đền thờ và lăng Kinh Dương Vương, ở làng Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Lăng Kinh Dương được xây dựng từ lâu đời, tọa lạc trên bãi đất cao cạnh sông Đuống. Thời phong kiến, các triều đại đều chú ý bảo tồn và tôn tạo lăng. Năm Minh Mạng thứ 21, lăng được nhà nước tu bổ ớn và khắc bia đặt trong lăng với bốn chữ “Kinh Dương Vương lăng” và hàng đại tự, câu đối nhằm khẳng dịnh việc tôn thờ thủy tổ có rất lâu đời và là truyền thống quý báu của dân tộc ta, như:

Thiên cổ cương lăng linh tích tại
Nhất đàn chở dậu quốc ân sùng

(Dịch: Dấu vết linh thiêng ngày xưa còn đây. Bàn thờ cúng đầy lễ vật là do cả nước thành kính dâng lên)

Lăng Kinh Dương Vương được Nhà nước xếp vào hệ thống miếu thờ các vị đế vương qua các triều đại. Vào mỗi dịp quốc khánh, nhà vua đều cử quan về làm lễ tế một cách trang trọng và thành kính.

Bên cạnh khu lăng mộ là hai ngôi đền cổ được xây dựng từ rất sớm để thờ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ. Hai công trình này tọa lạc ở phía tây xóm Bi, làng Á Lữ. Đền thờ Kinh Dương Vương còn gọi là đền Thượng, gồm hai tòa tiền tế và hậu đường. Kiến trúc đền theo kiểu kèo kẻ chồng giường, chạm khắc tứ linh tinh xảo, mái đao cong bốn góc và trang trí hình lưỡng long chầu mặt trời trên nóc.

Đền Hạ thờ Lạc Long Quân – Âu Cơ có quy mô nhỏ hơn đền Thượng. Hệ thống đồ thờ tự, đại tự, câu đối, bia ký cùng các bản thần tích và sắc phong của các triều vua phong kiến còn lưu giữ tại đây đã cho thấy sự tôn kính và văn hóa thờ cúng các vị thủy tổ dân tộc ở Á Lữ đã có từ rất xưa. 

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (2005), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên.
  2. Nhóm nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt (2025), Kinh Triều Bảo Lục: Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc thị, Nxb Lao động. 
  3. Trần Đình Luyện (Chủ biên), 2003, Lễ hội Bắc Ninh, Sở văn hóa thông tin Bắc Ninh. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…, Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch, 1993, Nxb Khoa học xã hội. 
  5. Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, In lần thứ nhất, Nhà sách Khai Trí. 
  6. Nguyễn Khắc Thuần (2006), Việt sử giai thoại, Tập 1: 40 giai thoại từ thời Hùng Vương đến hết thế kỉ X, Nxb Giáo dục.
  7. Trần Hậu Yên Thế – Trần Trung Hiếu – Lê Thị Liễu – Trần May (2022), Tinh hoa mỹ thuật Việt truyền thống: Hình tượng tiên nữ, Nxb Giáo dục Việt Nam. 

Ngôn ngữ khác 
Tiếng Anh

Life

According to Dai Viet su ky toan thu, Kinh Duong Vuong is recorded as follows:

“His personal name was Loc Tuc, a descendant of the lineage of Than Nong. In the seventeenth year of the cycle Nham Tuat, it is said that De Minh, a third-generation descendant of Viêm De of the Than Nong lineage, begot De Nghi. Later, while touring the southern regions, De Minh reached Ngu Linh and took as wife a daughter of Vu Tien, who gave birth to Kinh Duong Vuong.
The king was endowed with exceptional wisdom and intelligence. De Minh loved him deeply and wished to make him heir to the throne. However, he humbly declined and insisted that the succession should go to his elder brother. Consequently, De Minh appointed De Nghi as the ruler of the North, while granting Loc Tuc the title Kinh Duong Vuong, entrusting him with the governance of the southern territories, which were called the state of Xich Quy.”

For this reason, the historians who compiled Toan thu regarded Kinh Duong Vuong as the primordial ancestor of the Vietnamese realm.

The chronicle further records that Kinh Duong Vuong married Than Long, the daughter of Dong Dinh Quan, and that their union produced Lac Long Quan. Later, Lac Long Quan married Au Co, daughter of De Lai, and they gave birth to one hundred sons. Fifty followed their mother to the mountains, while fifty followed their father to the sea.

Lac Long Quan was subsequently venerated as the ancestor of the Bach Viet peoples. His eldest son, Hung Vuong, established the state of Van Lang, which flourished under eighteen successive generations of kings.

Origin of the Kingdom and Reign

According to Dai Viet su ky toan thu, Kinh Duong Vuong ascended the throne around 2879 BCE.

The territory of his kingdom was described as extremely vast:

To the north it extended to the Truong Giang (Yangtze River), including the region of Dong Dinh Lake

To the south it bordered Ho Ton, identified with Chiem Thanh

To the east lay the East Sea, part of the Pacific Ocean

To the west it bordered Ba Thuc, corresponding to present-day Sichuan in China

Linh Nam chich quai recounts a legendary episode in which the king defeated the powerful spirit Xuong Cuong, thereby saving the people:

“Within the territory of Phong Chau, in ancient times there stood a gigantic sandalwood tree named Chien Dan, rising thousands of layers high with branches spreading for thousands of leagues. Magpies nested upon it, and the place was therefore called Bach Hac.
After countless years the tree decayed and transformed into a fierce spirit that caused harm to the people.
Kinh Duong Vuong used divine arts to subdue the spirit.”

Another work, Thien Nam minh giam, praises the king:

“The ancient destiny was decreed in the celestial books,
The sacred ruler descended to organize the land.
The southern realm began with Lord Kinh Duong,
Who yielded with righteousness and expanded the domain in proper order.”

The Than tich of Vi Cuong commune (Phu Tho) provides additional legendary details. It records that Kinh Duong Vuong had six consorts, who gave birth to twenty-four princes and twenty princesses. Their descendants were said to form thirty-six lineages and produce hundreds of later generations.

Under his rule, the realm was described as peaceful and prosperous. Foreign chieftains admired his authority, peoples from all directions came as guests, taxes were not levied, and the people lived without deceit.

Kinh Duong Vuong and the Cult of Water Deities

The legend of the Vu Mon crossing traces the origin of the Hong Bang lineage. It recounts that fifty sons followed their dragon father Lac Long Quan to the eastern seas, becoming Water Deities, while the other fifty followed their fairy mother Au Co to the western mountains, becoming Mountain Spirits.

Thus the dragon became a central symbol in Vietnamese culture from the earliest stage of state formation, reflecting an orientation toward maritime exploration and coastal life.

An old folk verse says:

“On the fourth day the fish gather to swear an oath,
On the eighth day they return to cross the Vu Mon gate.”

The earliest Vietnamese dragon legend concerns the story of the fish that crosses Vu Mon and transforms into a dragon. The event is associated with the era of Kinh Duong Vuong, when the southern realm was first established.

In certain traditions, Kinh Duong Vuong is also identified with Tan Vien Son Thanh, the divine hero who controlled the great floods in the age of Duong Nghieu. In this interpretation, Vu Mon corresponds to the rugged rapids of Thac Bo on the Da River, where the hero subdued the waters.

Images of fish transforming into dragons remain preserved in temples dedicated to Tan Vien Son Thanh around the Ngu Linh region of Ba Vi.

Marriage with the Princess of Dong Dinh

After his encounter at the shores of Dong Dinh Lake, Kinh Duong Vuong married Than Long Nu, daughter of the Dragon King of Dong Dinh.

According to tradition, the king once rescued a serpent that was the child of the Dragon King. He later descended to the underwater palace and received a sacred magical book. Than Long, representing a people living in the riverine and maritime regions of the East, thus became the queen of the early Vietnamese ruler.

In folk religion, she later came to be venerated as Mau Thoai, the Mother of the Water Palace within the Tu Phu belief system.

Water-deity worship remains widespread across the Red River delta and the coastal regions stretching through Thanh Hoa, Nghe An, and Ha Tinh. In Thach Ha district of Ha Tinh province, numerous shrines are dedicated to the Tam Lang Long Vuong.

Particularly notable is Dinh Thach Lac, built atop a prehistoric shell mound where human remains dating 4,000–5,000 years have been discovered. Such evidence suggests that the cult of the Dragon Kings may preserve memories of ancient coastal rulers whose livelihoods depended on fishing and maritime resources.

The Legendary Love Story

Kinh Duong Vuong is honored as the primordial ancestor and the first king of the Vietnamese people. His legendary love story is summarized in the historical texts:

“Kinh Duong Vuong married the daughter of Dong Dinh Quan and begot Lac Long Quan.”
— Viet su tieu an

Dai Viet su ky toan thu records similarly that the king married Than Long, daughter of Dong Dinh Quan, who gave birth to Lac Long Quan.

Today, in Tien Cat ward, Viet Tri city (Phu Tho province), there still stands a temple known as Den Tien (Den Tien) dedicated to Than Long, whose personal name is recorded as Hong Dang Ngan.

A copy of the Ngoc pha compiled in 1573 states that she was enthroned as the principal queen of the state of Xich Quy.

According to this text, during his reign Kinh Duong Vuong constructed fifty palaces extending from Nghia Linh Mountain to Bach Hac junction. One palace at Tien Cat was specifically built for Queen Hong Dang Ngan.

After her death she was buried within the main palace. The palace later became the village of Tien Cat, and eventually the site developed into the present Den Tien dedicated to her worship.

Every year local residents commemorate her death anniversary from the 9th to the 12th day of the tenth lunar month.

Kinh Duong Vuong and the Liu Yi Legend

Modern scholars have debated whether the figure of Kinh Duong Vuong may have been influenced by the Chinese tale Liu Yi zhuan, written by Li Chao Wei during the Tang dynasty.

Historian Tran Trong Duong noted that Ngo Si Lien, the compiler of Dai Viet su ky toan thu, had already cited Tang-period records about a shepherd woman claiming to be the daughter of the Dragon King of Dong Dinh and sending a letter through Liu Yi.

Some scholars therefore proposed that the Vietnamese legend may have been adapted from this Chinese narrative.

The historical work Kham dinh Viet su thong giam cuong muc expressed skepticism about the reliability of the ancient accounts concerning Kinh Duong Vuong and Lac Long Quan, suggesting that they might have been legendary constructions influenced by literary tales.

Emperor Tu Duc later judged such narratives to be mythical and ordered them placed in supplementary annotations rather than the main chronological history.

Modern historian Liam Christopher Kelley observes that over centuries such traditions—whether historically factual or not—have gradually become accepted as cultural realities within national historical consciousness.

Recent studies by the Vietnam Temple Heritage Research Group, presented in the book Kinh trieu bao luc – Su tich Long Quan va cac vi Thuy than Lac Thi, argue that the Liu Yi story may instead represent another narrative form of the cult surrounding Tan Vien Son Thanh and the water-deity traditions associated with Dong Dinh.

In this interpretation, the figure of Liu Yi corresponds symbolically to a sacred water deity capable of controlling floods and protecting communities—an attribute also associated with the legendary founders of the Vietnamese realm.

References

  1. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (2005), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên.
  2. Nhóm nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt (2025), Kinh Triều Bảo Lục: Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc thị, Nxb Lao động. 
  3. Trần Đình Luyện (Chủ biên), 2003, Lễ hội Bắc Ninh, Sở văn hóa thông tin Bắc Ninh. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…, Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch, 1993, Nxb Khoa học xã hội. 
  5. Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, In lần thứ nhất, Nhà sách Khai Trí. 
  6. Nguyễn Khắc Thuần (2006), Việt sử giai thoại, Tập 1: 40 giai thoại từ thời Hùng Vương đến hết thế kỉ X, Nxb Giáo dục.
  7. Trần Hậu Yên Thế – Trần Trung Hiếu – Lê Thị Liễu – Trần May (2022), Tinh hoa mỹ thuật Việt truyền thống: Hình tượng tiên nữ, Nxb Giáo dục Việt Nam. 

Tiếng Trung

身世

据《大越史记全书》(Dai Viet Su Ky Toan Thu)记载,泾阳王(Kinh Duong Vuong):“讳禄续(Loc Tuc),神农氏之后。[壬戌,十七年] 昔炎帝神农氏三世孙帝明(De Minh)生帝宜(De Nghi)。帝明南巡至五岭(Ngu Linh),娶雾仙(Vu Tien)之女,生王(泾阳王)。王聪慧圣明,帝明甚爱之,欲立为嗣。王固辞让兄,不敢奉命。于是帝明立帝宜为嗣,治北方,封王为泾阳王,治南方,国号赤鬼(Xich Quy)。”

因此,《全书》中诸史家皆视泾阳王为南国之始祖。书中亦记载,泾阳王娶洞庭君(Dong Dinh Quan)之女神龙(Than Long),生貉龙君(Lac Long Quan)。其后貉龙君娶帝来(De Lai)之女瓯姬(Au Co),生百子。五十随母上山,五十随父入海。貉龙君被尊为百越之祖,其长子雄王(Hung Vuong)建立文郎国(Van Lang),历十八世而兴盛。

建国与统治

据《大越史记全书》记载,泾阳王即位并开始统治约在公元前2879年。其时国土范围极广:北至长江(Truong Giang),包括洞庭湖(Dong Dinh);南接胡孙(Ho Ton,即占城 Chiêm Thành);东临东海(Bien Dong),为太平洋之一部;西界巴蜀(Ba Thuc),即今中国四川地区。

《岭南摭怪》(Linh Nam Chich Quai)记载王驱逐凶神昌狂(Xuong Cuong)之事:

“属封州(Phong Chau)地界,上古有一大柿树名旃檀(Chien Dan),干高千层,枝叶蔽空数千里。鹊鸟巢其上,故其地名白鹤(Bach Hac)。此树历经千年枯朽,化为妖精,变化勇猛,残害百姓。

泾阳王以神术降之……”

《天南明鉴》(Thien Nam Minh Giam)亦云:

“象网昔天书已定,
分疆列土圣人修。
南国自从泾阳主,
让德开基应其时。”

富寿省(Phu Tho)维冈社(Vi Cuong)神迹亦记载:

“泾阳王有六宫妃,生二十四皇子与二十公主,苗裔三十六支,孙曾五百九十六。王治天下,诸侯咸服,四方百蛮来朝,八方同享太平。国内不征赋税,民无欺诈。”

泾阳王与龙王水神信仰

鸿庞氏传说(Hong Bang)中“鱼跃禹门”之说称:五十子随父龙貉龙君东入海,为水上灵神;五十子随母仙瓯姬上山,为山神。龙之形象自建国之初便融入越南文化之中,体现向东海开拓的精神。

古谣云:

“四日鱼行誓,
八日鱼跃门。”

越南关于龙的最早传说即“鱼跃禹门化龙”。相传此事始于泾阳王建国之时。泾阳王亦被视为伞圆山圣(Tan Vien Son Thanh),曾于尧帝(Duong Nghieu)洪水时代治水。禹门为其治水之地,即今沱江(Song Da)瀑布险滩。

鱼化龙的形象至今仍见于巴维山(Ba Vi)五灵山地区诸多祭祀伞圆山圣之庙宇。鱼跃禹门象征先民在建国之初努力克服灾害、开创文明。

泾阳王与洞庭仙女的爱情传说

泾阳王被尊为越族始祖,其爱情传说在史籍中简略记载:“泾阳王娶洞庭君之女,生貉龙君”(《越史标案》)。

《大越史记全书》载:

“王娶洞庭君女神龙,生貉龙君。(按:唐纪载,时有牧羊女自称洞庭君幼女,嫁泾川之子,后被弃,托柳毅(Liu Yi)传书于洞庭君。)”

《岭南摭怪》亦载:

“相传泾阳王能入水府,娶洞庭湖龙王之女,生崇览(Sung Lam),号貉龙君,使之继位治国。”

今富寿省越池市(Viet Tri)仙吉坊(Tien Cat)尚存仙庙(Den Tien),祀神龙女(Than Long Nu),讳洪登岸(Hong Dang Ngan)。

庙中玉谱(1573年)记载:神龙洪登岸为泾阳王之妻,被封为赤鬼国皇后。

泾阳王与唐代柳毅传

近代研究者提出疑问:泾阳王传说是否源自唐代小说《柳毅传》(Liu Yi Zhuan)。

研究者陈仲阳(Tran Trong Duong)指出,《大越史记全书》中吴士连(Ngo Si Lien)曾引用唐纪记载洞庭龙女与柳毅故事。

《钦定越史通鉴纲目》(Kham Dinh Viet Su Thong Giam Cuong Muc)亦云:

“泾阳王、貉龙君之名,出于鸿庞氏纪,皆属上古洪荒之事,或依虚构实,且附会唐人小说《柳毅传》。”

阮朝(Nha Nguyen)嗣德帝(Tu Duc)曾认为这些故事“多涉牛鬼蛇神,荒诞无据”,遂将泾阳王与貉龙君移出正史,仅附于雄王纪下。

然而西方学者**利亚姆·克里斯托弗·凯利(Liam Christopher Kelley)**指出:

“数世纪以来,史家所创造的传统逐渐成为一种‘第二天性’。近半个世纪,在民族主义影响下,这些‘被创造的传统’逐渐被视为不可动摇的历史事实。”

参考资料

  1. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (2005), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên.
  2. Nhóm nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt (2025), Kinh Triều Bảo Lục: Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc thị, Nxb Lao động. 
  3. Trần Đình Luyện (Chủ biên), 2003, Lễ hội Bắc Ninh, Sở văn hóa thông tin Bắc Ninh. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…, Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch, 1993, Nxb Khoa học xã hội. 
  5. Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, In lần thứ nhất, Nhà sách Khai Trí. 
  6. Nguyễn Khắc Thuần (2006), Việt sử giai thoại, Tập 1: 40 giai thoại từ thời Hùng Vương đến hết thế kỉ X, Nxb Giáo dục.
  7. Trần Hậu Yên Thế – Trần Trung Hiếu – Lê Thị Liễu – Trần May (2022), Tinh hoa mỹ thuật Việt truyền thống: Hình tượng tiên nữ, Nxb Giáo dục Việt Nam. 

Tiếng Pháp 

Origine et biographie

Selon Dai Viet su ky toan thu, Kinh Duong Vuong :
« Son nom personnel etait Loc Tuc, descendant du clan Than Nong. [Annee Nham Tuat, 17e annee]. Autrefois, le petit-fils a la troisieme generation de Viem De du clan Than Nong etait De Minh, qui donna naissance a De Nghi. Plus tard, lors d’une inspection vers le Sud, De Minh arriva a Ngu Linh, prit pour epouse la fille de Vu Tien et engendra le roi [Kinh Duong Vuong].

Le roi etait un sage d’une grande intelligence. De Minh l’aimait profondement et souhaitait lui transmettre le trone. Mais le roi refusa humblement et insista pour ceder la succession a son frere aine. De Minh etablit alors De Nghi comme heritier pour gouverner le Nord et donna au roi le titre de Kinh Duong Vuong afin de gouverner le Sud, appelant ce royaume Xich Quy. »

Ainsi, dans Toan thu, les historiens considerent Kinh Duong Vuong comme l’ancetre primordial du pays du Nam. Le livre indique egalement qu’il epousa la fille du roi de Dong Dinh, Than Long, et donna naissance a Lac Long Quan.

Plus tard, Lac Long Quan epousa Au Co, fille de De Lai, et eut cent fils. Cinquante suivirent leur mere vers les montagnes, tandis que cinquante suivirent leur pere vers la mer. Lac Long Quan fut venere comme l’ancetre des Bach Viet. Son fils aine, Hung Vuong, fonda l’Etat de Van Lang, qui prospera durant dix-huit regnes.

Fondation du royaume et regne

Selon Dai Viet su ky toan thu, Kinh Duong Vuong monta sur le trone et commenca a regner vers l’an 2879 avant notre ere. Le territoire de son royaume etait tres vaste :

au Nord, il s’etendait jusqu’au fleuve Truong Giang, incluant la region du lac Dong Dinh ;

au Sud, il touchait Ho Ton (c’est-a-dire Champa) ;

a l’Est, il etait borde par la mer de l’Est, une partie de l’ocean Pacifique ;

a l’Ouest, il rejoignait Ba Thuc, correspondant aujourd’hui a la region du Sichuan en Chine.

Linh Nam chich quai raconte egalement l’histoire selon laquelle le roi vainquit l’esprit redoutable Xuong Cuong afin de proteger le peuple :

« Dans la region de Phong Chau, dans l’antiquite, il existait un grand arbre nomme Chien Dan. Son tronc s’elevait comme mille etages, et ses branches et feuilles s’etendaient sur des milliers de lieues. Des pies y faisaient leurs nids, et l’endroit fut nomme Bach Hac.

Apres des millenaires, l’arbre se dessecha et devint un esprit malfaisant, se manifestant sous une forme puissante et effrayante. Kinh Duong Vuong utilisa ses pouvoirs surnaturels pour le vaincre. »

Le livre Thien Nam minh giam ecrit :

« Depuis l’antiquite, le destin du monde etait fixe,
Les frontieres furent organisees par les sages.
Le pays du Nam commenca avec Kinh Duong,
Qui gouverna avec justice et prosperite. »

Le Than tich de la commune Vi Cuong (Phu Tho) mentionne egalement :
« Kinh Duong Vuong avait six epouses principales, vingt-quatre princes et vingt princesses. Les descendants royaux se divisaient en trente-six branches, donnant naissance a cinq cent quatre-vingt-seize arriere-petits-enfants. Durant son regne, les vassaux admiraient son autorite ; les peuples barbares des quatre directions venaient en visiteurs ; les huit regions vivaient en paix. Le royaume ne percevait pas d’impots et le peuple ne trompait pas. »

Kinh Duong Vuong et le culte des divinites aquatiques Long Vuong

La legende du poisson franchissant la porte Vu Mon pour devenir dragon raconte que cinquante fils suivirent leur pere dragon Lac Long Quan vers l’Est jusqu’a la mer et devinrent des esprits aquatiques, tandis que cinquante autres suivirent leur mere Au Co vers les montagnes de l’Ouest et devinrent des divinites montagnardes.

Ainsi, l’image du dragon est presente dans la culture vietnamienne des l’origine du pays, symbolisant l’orientation vers la mer de l’Est.

Un ancien chant populaire dit :

« Le quatrieme jour les poissons vont preter serment,
Le huitieme jour ils franchissent la porte Vu Mon. »

Dans les traditions vietnamiennes, la premiere legende du dragon apparait dans l’histoire du poisson franchissant Vu Mon et se transformant en dragon. Cet episode est lie a l’epoque ou Kinh Duong Vuong fonda le pays du Nam.

Selon certaines traditions, Kinh Duong Vuong est egalement identifie a Tan Vien Son Thanh, le heros qui maitrisa les grandes inondations du temps de Duong Nghieu. Vu Mon correspondrait aux rapides dangereux du fleuve Da.

Kinh Duong Vuong et l’amour legendaire avec la princesse de Dong Dinh

Kinh Duong Vuong est venere comme l’ancetre primordial et le premier roi du peuple vietnamien. Les chroniques mentionnent brievement son union mythique :

« Kinh Duong Vuong epousa la fille du roi de Dong Dinh et engendra Lac Long Quan. » (Viet su tieu an)

Selon Toan thu :

« Le roi epousa la fille du roi de Dong Dinh nommee Than Long et donna naissance a Lac Long Quan. »

Le livre Linh Nam chich quai indique egalement :

« On raconte que Kinh Duong Vuong pouvait voyager dans le royaume sous-marin et epousa la fille du roi dragon du lac Dong Dinh ; elle donna naissance a Sung Lam, appele Lac Long Quan. »

Aujourd’hui encore, dans le quartier Tien Cat de la ville Viet Tri (province de Phu Tho), se trouve le den Tien, temple dedie a Than Long Nu, aussi appelee Hong Dang Ngan.

Selon une copie du Ngoc pha redigee en 1573, Than Long Hong Dang Ngan etait l’epouse de Kinh Duong Vuong et fut proclamee imperatrice du royaume de Xich Quy.

La tradition raconte que le roi construisit cinquante palais entre le mont Nghia Linh et le confluent Bach Hac. L’un de ces palais etait reserve a l’imperatrice Hong Dang Ngan. Apres sa mort, elle fut enterree dans ce palais, qui devint plus tard le den Tien.

Chaque annee, les habitants celebrent sa fete du 9 au 12 du dixieme mois lunaire.

Dans la religion des Deesses-Meres (Dao Mau), en raison de son origine aquatique, Than Long est consideree comme la divinite du royaume des eaux et est venerée sous le nom de Mau Thoai.

Un chant rituel dit :

« Au bord du fleuve, les flots d’argent s’etendent,
La lune eclaire la mer du Sud.
Fille du roi des eaux de Dong Dinh,
La deesse descendit dans le temple du dragon. »

Kinh Duong Vuong et l’histoire de Lieu Nghi sous la dynastie Tang

Certains chercheurs ont emis l’hypothese que la figure de Kinh Duong Vuong pourrait avoir ete influencee par le recit chinois Lieu Nghi truyen, compose sous la dynastie Tang par Ly Trieu Uy.

Dans ce conte, Lieu Nghi sauve la fille du roi du lac Dong Dinh, injustement exilee par son mari, en transmettant une lettre au palais sous-marin.

Les historiens vietnamiens ont remarque des ressemblances entre cette histoire et certaines traditions relatives a Kinh Duong Vuong.

Le livre Kham dinh Viet su thong giam cuong muc declare :

« Les noms de Kinh Duong Vuong et Lac Long Quan dans l’epoque Hong Bang appartiennent a l’antiquite mythique ; l’auteur a cree des faits a partir du vide et les a associes au recit Lieu Nghi truyen de la dynastie Tang. »

L’empereur Tu Duc considera ces recits comme des histoires fantastiques concernant « esprits et serpents », et decida de les retirer de l’histoire officielle en les placant seulement en note sous l’ere des rois Hung.

Cependant, certains chercheurs modernes estiment que ces traditions ont evolue au fil des siecles et qu’elles font aujourd’hui partie integrante de la memoire culturelle vietnamienne.

References

  1. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng (2005), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên.
  2. Nhóm nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt (2025), Kinh Triều Bảo Lục: Sử tích Long Quân và các vị Thủy thần Lạc thị, Nxb Lao động. 
  3. Trần Đình Luyện (Chủ biên), 2003, Lễ hội Bắc Ninh, Sở văn hóa thông tin Bắc Ninh. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,…, Đại Việt sử ký toàn thư, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam dịch, 1993, Nxb Khoa học xã hội. 
  5. Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Lê Hữu Mục dịch, In lần thứ nhất, Nhà sách Khai Trí. 
  6. Nguyễn Khắc Thuần (2006), Việt sử giai thoại, Tập 1: 40 giai thoại từ thời Hùng Vương đến hết thế kỉ X, Nxb Giáo dục.
  7. Trần Hậu Yên Thế – Trần Trung Hiếu – Lê Thị Liễu – Trần May (2022), Tinh hoa mỹ thuật Việt truyền thống: Hình tượng tiên nữ, Nxb Giáo dục Việt Nam. 
5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Kinh Duong Vuong

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)