Tên gọi và vị trí địa lý
Di tích đền thờ Lê Hoàn nằm ở thôn Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Từ thành phố Thanh Hóa đến đền thờ Lê Hoàn có khoảng cách 40km, có thể di chuyển qua cung đường QL45 hoặc qua đường Kênh Nam.
Làng Trung Lập là một vùng đất cổ, ban đầu, khi mới hình thành, làng có tên là Kẻ Sập, sau đó đến thời nhà Đinh, làng được đổi tên thành Trung Lập. Trước Cách mạng, Trung Lập thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiện Thiên, tỉnh Thanh Hóa (sau này đổi thành Thiệu Hóa). Đến tháng 10 năm 1945, tổng Thử Cốc, trong đó có làng Trung Lập, được chuyển sang huyện Thọ Xuân và giữ nguyên địa lý cho đến ngày nay.
Đền thờ Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, là nơi tưởng nhớ vị vua anh hùng đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược vào cuối thế kỷ X, bảo vệ độc lập dân tộc và củng cố nền tảng vững chắc cho triều đại nhà Đinh.
Lịch sử và nhân vật
Đoạn trích trong “Sáng lập Lê Đại Hành hoàng đế điện miếu bị minh tự do Nguyễn Thực, Lễ bộ thượng thư triều Lê Thần Tông (1629) soạn, nội dung nói về về sự kiện chúa Trịnh (Thanh Đô Vương Trịnh Tráng 1623- 1657) sau khi Quốc Tử Giám tế Tiểu Mai lĩnh, hầu Phùng Khắc Khoan soạn nói về việc cấp 67 mẫu ruộng thờ cúng Lê Đại Hành. Do vậy, có thể nói ngôi đền thờ Lê Hoàn tại xã Xuân Lập (Thọ Xuân, Thanh Hoá) đã có lịch sử xây dựng ít nhất là 365 năm.
Tuy hiện chưa có tài liệu chắc chắn cho biết đền được xây dựng vào năm nào, nhưng theo Tương truyền đền Lê Hoàn được dựng từ thời Lý, lúc đầu còn sơ sài, mãi sau này mới trở thành một ngôi đền quy mô rộng hơn.
Vào thế kỷ XVII- đời Lê Trung Hưng, đền đã được trùng tu.
Lê Hoàn (Lê Đại Hành)
Trong cuốn Việt Sử lược có chép: “Đại Hành Vương, Húy là Hoàn, họ Lê, người Trường Châu), cha là Mịch, mẹ họ Đặng, khi xưa, có mang nằm mộng thấy trong bụng sinh hoa sen bỗng chốc kết thành hạt, hái lấy chia cho mọi người ăn, khi tỉnh dậy không hiểu duyên cớ ra sao”.
“Năm Ất Tị, hiệu Ứng Thiên, năm thứ 11 (1005), Vua mất ở điện Trường Xuân, gọi là Đại Hành vương (26), nhân lấy làm miếu hiệu, ở ngôi 27 năm, thọ 65 tuổi, cải nguyên ba lần, an táng ở Đức lăng tại Trường Châu”.
Ông là một trong những vị vua nổi tiếng của lịch sử Việt Nam, Ông sinh vào khoảng năm 941, quê ở xã Trung Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Xuất thân từ một gia đình không có dòng dõi hoàng tộc, nhưng Lê Hoàn sở hữu tài năng quân sự xuất sắc và lòng dũng cảm phi thường.
Theo tương truyền nơi bà Đặng thị sinh ra Lê Hoàn là cồn đất nhỏ rộng khoảng 30m2; đất này nằm cạnh dòng kênh về phía Nam cuối làng Trung Lập. – Một khu đất thuộc thôn Ngọc Trung (xã Xuân Lập) kể thôn Trung Lập về phía bắc rộng khoảng 19ha có con sông nhỏ bao quanh, rồi đổ vào sông Cầu Chày, xưa kia nơi này là rừng rậm. Dân gian truyền miệng là nơi bà Đặng thị dấu Lê Hoàn và lấy nước ở con sông này tắm cho con, nước hắt đi tạo thành giếng sâu (giếng này vẫn còn).
Năm 16 tuổi Ông gia nhập quân đội dưới triều đại vua Đinh Tiên Hoàng và nhanh chóng thăng tiến. Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị ám sát vào năm 979, Lê Hoàn đã đứng ra bảo vệ đất nước và giúp đất nước ổn định. Vào năm 980, sau khi đánh bại quân Tống xâm lược trong trận Bạch Đằng, ông lên ngôi vua và sáng lập triều đại nhà Đinh, lấy hiệu là Lê Đại Hành. Trong suốt triều đại của mình, ông đã củng cố nền hành chính, xây dựng quân đội mạnh mẽ và duy trì độc lập cho đất nước.
Lê Hoàn mất vào năm 1005, sau khi ông qua đời, nhân dân lập đền thờ tưởng nhớ công lao và ông được tôn vinh là anh hùng dân tộc.
Kiến trúc cảnh quan
Ngôi đền trước kia có tường đất bao quanh (nội công, ngoại quốc), sau này xây tường gạch, hiện nay tọa lạc trên khu đất cao, rộng chừng 2 ha, nằm tách biệt với thôn Trung Lập một khoảng cách về phía Bắc. Kiến trúc đền thờ Lê Hoàn thuộc kiến trúc của thế kỷ XVII.
Theo truyện truyền ngôn ở địa phương thì đền nằm trên nét ngang thứ nhất của khu đất có hình chữ vượng, đúng trên nền của bà Đặng Thị – thân mẫu của Lê Hoàn. Ngôi đền quay hướng Nam, phía trước có hồ sen, phía Tây cũng có hồ lớn và bao quanh là cánh đồng, càng làm ngôi đền nổi bật hơn.
Cổng Ngoại (Nghi Môn)
Cổng đền được làm kiểu tứ trụ, gồm 4 cột trụ dạng lồng đèn, hai cột trụ ở giữa tạo lối đi chính, cột cao khoảng 3m, trên đỉnh mỗi trụ gắn bốn chim phượng chúc đầu xuống, tạo thành trái giành.
Hai bên là hai cột trụ có chiều cao thấp hơn, lối giữa hai cột ngoài với cột trụ chính là bằng bức tường lửng, bề mặt tường vẽ hình ngựa, hai bên quay hướng vào nhau. Ở cổng này lối liền các bức tường bao xung quanh ngôi đền, tạo khuôn viên biệt lập.
Cổng Nội (Tam Quan)
Qua cổng ngoại là con đường gạch lối dài vào Cổng nội, với kiến trúc kiểu Tam Quan, gồm ba gian nhà, để thoáng không có cửa và không bức tường ngăn. Hai bên đầu đốc là hai cột trụ biểu, trên đỉnh gắn hai tượng nghê đứng.
Mái lợp ngói mũi hài, trên nóc mái gắn tượng lưỡng long chầu nhật.
Đền Chính
Đền Lê Hoàn gồm 5 gian có diện tích rộng, với kiến trúc kiểu chữ công (工), gồm Tiền Đường, Trung Đường và Hậu Cung. Xung quanh đền là phần hiên được bao quanh bởi các hệ thống cột gỗ có kích thước lớn. Ngay phía ngoài hiên, kéo gần hết chiều ngang gian giữa, phía trên bộ cửa bức bàn là một bức chạm rồng.
Bên trong đền có kiến trúc chồng rường giá chiêng con nhị, trang trí các bức chạm lộng, chạm kênh bong, bộ cửa bức bàn ngăn cách trung đường với nhà hậu cung bằng kỹ thuật chạm thủng thể hiện những con phượng xòe rộng cánh, những con long mã đang phi nước kiệu, hai con sư tử đang vờn nhau… mang đặc trưng tính dân gian trong nghệ thuật trang trí ở thế kỷ XVII.
Phía sau là Hậu Cung, đây là gian thờ Lê Hoàn với khám thờ trang trí hoa văn, các hoành phi, câu đối, các đồ thờ cùng được bày biện trang nghiêm.
Trong đó có câu đã được ghi chép trong sử sách; nhắc chuyện bà mẹ vua là bà Đặng Thị nằm mộng thấy hoa sen, sinh ra vua và chuyện bà Dương Thái Hậu khoác áo hoàng bào cho vua:
Liên hoa kết thực vương đồ triệu
Long con thùy quang đế vị tân
(Mộng kết hoa sen điềm dựng nước
Hoàng bào ánh tỏa xứng ngôi vua).
Mái đền lợp ngói mũi hài, trên nóc mái gắn lưỡng long chầu nhật, đường bờ nóc trang trí hoa chanh. Dọc hai bên giải tiền đường gắn các đầu đao và các con nghê trong các tư thế khác nhau, đặc biệt ở mỗi đầu đao còn được gắn một mặt hồ phù bằng đất nung uốn theo độ cong của đầu đao.
Nhà Bia
Nằm ở phía vườn cây là Nhà Bia, với kiến trúc giống Phương Đình, gồm hai tầng tám mái, bốn cột gỗ làm trụ chính. Bên trong đặt hai tấm bia, với hai kích thước lớn, nhỏ khác nhau, đây là hai tấm bia được xây dựng năm đầu thế kỷ XVII.
Trong đó, tấm bia thứ nhất có kích thước nhỏ, dựng trước (1601) do Phùng Khắc Khoan soạn. Bia có kích thước khoảng 1,22m, đế bia vuông dày, ở bốn mặt được chạm trổ cánh sen. Nội dung nói về việc Năm Hồng Đức thứ 15, vua Lê Thánh Tông cho làng Trung lập 67 mẫu ruộng dùng cho việc thờ cúng ở đền Lê Hoàn.
Bia thứ hai có kích thước lớn hơn, bia có tên là: “Sáng lập Lê Đại Hành hoàng đế điện miếu minh tự”, do Hoàng giáp Nguyễn Thực soạn năm 1626, nhân dịp trùng tu đền. Bia cao 1,65m, dày 0,21m, đế bia hình chữ nhật, bề mặt chạm hình xoáy nước.
Tâm bia này gồm hai phần: phần Tự và phần Minh, nội dung văn bia gồm: Mở đầu nói về các nơi khởi xuất ra các bậc anh hùng đế vương trong lịch sử Trung Quốc, Đế Thuấn sinh ra ở đất Chu Phùng, Văn Vương ở Kỳ Ấp, Hán Cao Tổ ở Phong Bái, đất Thụy Nguyên (Thọ Xuân) sinh ra hoàng đế Lê Đại Hành sánh ngang vua Tống, vua Đường. Văn bia nhắc tới thuyết bà Đặng Thị mộng hoa sen sinh ra Lê Hoàn.
Văn bia ghi lại rất súc tích về những chiến công to lớn của người anh hùng Lê Hoàn; nắm binh quyền mười đạo đánh bại quân Tống xâm lược, bắt sống vua Chiêm rửa nhục cho việc sứ giả Đại Việt bị Chiêm Thành bắt giữ. Vua Tổng phải thừa nhận độc lập dân tộc của Nhà nước ta và phong Lê Đại Hành là Nam Bình Vương, làm vua 24 năm (980 – 1005), thọ 64 tuổi.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội đền thờ Lê Hoàn diễn ra vào ngày 8 tháng 3 âm lịch hàng năm, được gọi là ngày “quốc tế” là lễ hội lớn nhất của làng. Nhằm tưởng nhớ công lao của Vua Lê Đại Hành cùng các bậc tiền nhân đã đóng góp công lao, sương máu để giữ vững chủ quyền dân tộc trong suốt ngàn năm lịch sử.
Đây là ngày lễ lớn, trong đó các quan triều đình và các quan đầu tỉnh cùng về Trung Lập để tham dự lễ tế. Trước ngày lễ này, các chức sắc và người dân làng Trung Lập sẽ ra đền thắp hương và dâng lễ gỏi cá gáy.
Ngoài lễ hội vào ngày 8 tháng 3 âm lịch, tại đền thờ Lê Hoàn còn có 4 lễ tế lớn khác trong năm, bao gồm tế xuân, tế sinh nhật, tế kỵ nhật và tế kỳ phúc. Tuy nhiên, lễ tế xuân vào cuối tháng 3 âm lịch là quan trọng và được tổ chức long trọng nhất, nhằm tưởng nhớ và ca ngợi chiến công của Lê Hoàn trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 981.
Hiện vật
Tại đền thờ Lê Hoàn hiện nay, còn giữ được 14 đạo sắc của triều Lê, triều Nguyễn (từ 1674 – 1887) và hai tấm văn bia dựng trong Nhà Bia.
Ngoài ra, đền còn giữ được nhiều hiện vật như: Đỉnh đồng; bình hương đồng màu đen có khắc chữ: “Thiên cơ”; một số bình bằng sứ; 05 chén bạc, ống đựng đũa; một bức họa chân dung Lê Đại Hành.
Đặc biệt là một chiếc đĩa đá, tương truyền là của vua Tống tặng Lê Hoàn, trên đĩa có ghi dòng chữ Hán:
Giang Nam nhất phiến tuyết
Trác khí vạn niên trân
Dịch nghĩa:
Một phiến đá trắng ở Giang Nam,
mài gọt nên vật quỷ vạn năm
Xếp hạng
Với giá trị lịch sử – văn hóa và kiến trúc nghệ thuật độc đáo, năm 1990 đền thờ Lê Hoàn được công nhận là Di tích cấp quốc gia. Năm 2018 đền thờ Lê Hoàn đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt.
Tài liệu tham khảo
- Di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thanh Hoá (2019)
- Bối Cảnh Định Đô Thăng Long và Sự Nghiệp Của Lê Hoàn – Hội Sử Học, Nxb Hà Nội.
- Lưu Minh Trị, Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam (tập II), Nxb Hà Nội.
- Vũ Ngọc Khánh (2004), Đền miếu việt nam, Nxb Thanh Niên.
- Trần Quốc Vượng (2005), Việt Sử lươc, Nxb Thuận Hoá.
