Tên gọi và vị trí địa lý
Đền vua Lê toạ lạc tại thôn Cao Minh Thượng, nay gọi là làng Na Lữ, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Đền nằm trong quần thể di tích thành Na Lữ, cách trung tâm thành phố Cao Bằng 11km.
Lịch sử và nhân vật
Thành Na Lữ hình tứ giác, gồm 4 đường thành và 4 cổng ở các phía Đông Bắc, Tây Bắc, Đông Nam, và Tây Nam. Cổng Đông Nam tương truyền được xây bằng gạch hình vòm có hoa văn trang trí đẹp, cánh cổng làm bằng gỗ nghiến kiên cố, chân cổng được xây bằng đá tảng to và phẳng, hiện nay dấu tích móng cổng và đá tảng xây chân cổng vẫn còn rõ. Thành có 4 gò đất nổi lên, được đặt tên lần lượt là Long, Ly, Quy, Phượng. Đền vua Lê dựng trên gò Long (tức gò rồng), một gò đất cao phía Bắc thành Na Lữ. Theo truyền thuyết và những tư liệu lịch sử ghi lại, đền vua Lê vốn là cung điện trong thành Na Lữ.
Thành Na Lữ do Cao Biền đắp bằng đất vào năm 864 đời Đường, niên hiệu Hàm Phong thứ 7, thuộc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ ba. Năm 1039, thời hậu Lý – Lý Thái Tông niên hiệu Thông Thụy thứ 6, thành là thủ phủ của quốc gia (tự trị) Trường Sinh với người đứng đầu là Nùng Tôn Phúc. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng 12 (năm 1038), Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên làm phản.”[1] “Tháng 2/1039, vua Lý đem quân đi đánh, bắt được mang về kinh đô chém đầu.”[2]
Năm 1414, giặc Minh cai trị nước ta, ở Cao Bằng, chúng đặt quan Thái thú cho đóng quân ở gò Đống Lân, thành Na Lữ, bắt nhân dân đóng sưu thuế nặng, cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ. Trước tình hình đó, Bế Khắc Thiệu – một hào trưởng giàu có ở Cao Bằng đã chiêu quân khởi nghĩa, đồng thời liên kết với Nông Đắc Thái đánh giặc, giành được thắng lợi sau trận kịch chiến ở Nà Khuổi (tháng 9/1426). Bế Khắc Thiệu xưng là Bế Đại vương, phong cho Nông Đắc Thái là Nông Nguyên soái, đóng ở thành Na Lữ, cho quân tu sửa lập lại cung điện năm 1430.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất vua Lê Cung Hoàng lập nên vương triều Mạc. Xung đột Nam triều – Bắc triều (Lê – Mạc) từ đó diễn ra suốt nửa thế kỷ. Năm 1592, nhà Mạc lên Cao Bằng đóng đô ở thành Nà Lữ, trải được ba đời: Mạc Kính Cung (1594 – 1625); Mạc Kinh Khoan (1625 – 1638) và Mạc Kính Vũ (1636 – 1677). Tại Cao Bằng, ngoài việc đóng gạch xây thành, đắp lũy, nhà Mạc còn mở mang văn hóa thông qua việc tổ chức các kỳ thi, các nghi lễ cung đình, lập các đội quản nhạc,… Xây dựng bảo vệ giữ yên bờ cõi, chấn hưng đất Cao Bằng, xây dựng Cao Bằng thành vùng phát triển về kinh tế – văn hóa. Triều đại phong kiến ở Cao Bằng kéo dài 85 năm có sự đóng góp trong dòng lịch sử của Việt Nam.
Tháng 8 năm 1677, Mạc Kính Vũ rút khỏi thành Nà Lữ. Năm 1682 quan trấn thủ Cao Bằng là Lê Văn Hải đã tâu xin vua Lê cho sửa thành Na Lữ và đổi cung điện thành đền thờ vua Lê Thái Tổ.
Trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, tại đền Vua Lê đã diễn ra một số sự kiện lịch sử quan trọng: Năm 1936 đồng chí Hoàng Đình Giong đã lập Đoàn thanh niên phản đế; Năm 1942 tổ chức họp hội nghị Liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đền là nơi sơ tán của Nhà máy giấy Cao Bằng.
Kiến trúc cảnh quan
Đền thờ được xây dựng theo hình chữ Tam, gian Chính Điện thờ vua Lê Thái Tổ và một số vị trung thần khác. Gian Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị thánh thần trong tín ngưỡng dân gian. Cửa đền mở theo hướng Đông Nam thông ra sông Mãng. Xung quanh đền xây tường thành dài 600m, trước mặt đền có hai sân rộng khoảng hơn 1.000m2. Trước đây, trong đền có nhiều hiện vật như chiêng, trống, kiếm, áo bào, bia. Hiện nay còn 2 lư hương bằng gang, 1 bia bằng đá, 3 cây đèn thắp.
Lễ hội
Hội đền vua Lê được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng Giêng Âm lịch hàng năm. Ngoài phần lễ được tiến hành ngay từ sáng sớm dưới sự có mặt đông đảo nhân dân trong vùng, phần hội bao gồm các hoạt động văn hóa văn nghệ, trò chơi dân gian như cờ tướng, cờ người, đẩy gậy, kéo co,… thu hút đông đảo người dân tham gia.
Từ năm 2019, lễ hội đền vua Lê được nâng cấp thành lễ hội cấp huyện với nhiều nghi thức trọng thể, đậm đà bản sắc văn hóa dân gian địa phương như nghi thức rước ảnh Vua Lê, múa lân, tổ chức gian hàng trưng bày ẩm thực, các sản phẩm thủ công truyền thống và trang phục các dân tộc của 15 xã, thị trấn trên địa bàn huyện,… Việc nâng cấp lễ hội đền vua Lê thành lễ hội cấp huyện góp phần quảng bá hình ảnh của con người, miền đất Hòa An với các bạn gần xa. Đặc biệt, nằm trong quần thể “Công viên địa chất non nước Cao Bằng”, đền vua Lê có nhiều tiềm năng, lợi thế trong việc thu hút khách du lịch đến khám phá, tìm hiểu, qua đó phát huy được những giá trị của di tích góp phần phát triển kinh tế – xã hội của huyện.
Xếp hạng
Ngày 20/4/1995, đền vua Lê được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia.
Chú thích
[1] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hoà 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, 1993, tr. 96.
[2] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr. 96.
Tham khảo
- “Đền vua Lê ở Cao Bằng – Di tích chứa đựng nhiều giá trị văn hóa lịch sử”, website Cục Du lịch quốc gia Việt Nam, ngày 17/10/2019.
- “Đền vua Lê – Di tích chứa đựng nhiều giá trị văn hoá lịch sử”, trang thông tin điện tử Uỷ ban nhân dân huyện Hoà An, ngày 14/9/2023.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993) Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, mộc bản khắc năm Chính Hoà 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội.