Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Cuông, còn gọi là đền Công, nằm trên núi Mộ Dạ thuộc xã Diễn An, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 30km về phía Bắc. Xưa kia, vùng đất này được miêu tả có hình dáng giống như chim công, đầu chim công là nơi xây dựng ngôi đền và nơi đây cũng là nơi sinh sống của rất nhiều chim công. Do đó, tên gọi “đền Công” xuất phát từ hình dáng và sự hiện diện của loài chim này, còn tên “Cuông” là cách gọi theo địa phương.
Đền thờ vua Thục An Dương Vương, người kế tục các vua Hùng trong việc dựng nước. Ông là người lập nên nước Âu Lạc, nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam, sau nhà nước Văn Lang.
Lịch sử và nhân vật
Ban đầu di tích được xây dựng tại cửa Hiền (một cửa biển, nay thuộc xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An). Tương truyền đó là nơi Thục An Dương Vương và con gái Mỵ Châu cùng đường, tự vẫn. Đến thời Lê, di tích được chuyển về dựng trên sườn núi Mộ Dạ (nay thuộc xã Diễn An, huyện Diễn Châu, Nghệ An) – Cách cửa Hiển độ 3km về phía Nam.
Dãy núi này nguyên xưa có tên là núi Hạc, cảnh quan rất đẹp, đã được người xưa liệt vào “Đông Thành bát cảnh”, tức là một trong 8 cảnh đẹp của đất Đông Thành. Dân gian truyền tụng rằng: Sau khi vua Thục mất, mỗi khi màn đêm buông xuống, trên núi Hạc có những đốm lửa to cứ lập lòe tỏa sáng. Dân quanh vùng cho rằng những đốm lửa đó, chính là linh hồn vua Thục đòi về ngự trên núi, nên đã lập miếu, rước bài vị vua Thục và Mỵ Châu về thờ trên núi Hạc và tên gọi Mộ Dạ sơn (Núi Chiều Tôi) có từ đó.
Đền Cuông Nghệ An được cho là đã có từ rất lâu đời, đến nay, vẫn chưa có tài liệu nào ghi chép chính xác thời điểm khởi dựng ngôi đền. Năm 1802 vua Gia Long lên ngôi, đã cho tu sửa lại đền, năm Giáp Tý 1864 dưới thời Tự Đức, triều đình tiếp tục tu sửa lại các công trình như hiện nay.
Năm 1874 quan phó bảng ở Nghệ An là Phạm Huy Lương đã viết trong bài văn bia khắc vào đá ở đền như sau: “Chốn ấy là đất thiêng cho nên cũng tuỳ lòng tín ngưỡng của nhân dân chứ không ngăn cấm được”. Với ý nghĩa là một vùng đất linh thiêng, nơi mà mọi người có thể tự do bày tỏ lòng kính ngưỡng, phản ánh sự tôn trọng đối với quyền tự do tín ngưỡng của mỗi người trong không gian thiêng liêng.
Kiến trúc cảnh quan
Đên Cuông nằm trên núi Mộ Dạ, với vị trí thoáng đãng và cảnh đẹp, được coi là một trong 8 cảnh đẹp của “Đông Yên Nhị Châu”. Ngày nay đền có kiến trúc đặc biệt gồm các hạng mục chính: Cổng Ngoại, cổng Trung, Cổng Nội, Hạ Điện, Trung Điện, Thượng Điện với diện tích khoảng 1ha.
Cổng Ngoại
Nằm phía ngoài mặt đường là cổng Ngoại với kiến trúc đơn giản gồm hai cột trụ có cấu trúc lồng đèn, trên các mặt trụ được khắc chữ Hán chạy dọc thân cột. Cổng này nối với dãy bức tường bao quanh khuôn viên khu vực đền.
Cổng Trung
Qua một khoảng sân rộng là tới cổng Trung, với kiến trúc Nghi Môn tứ trụ, hai cột chính giữa tạo thành lối đi rộng, chiều cao khoảng gần 4m, trên đỉnh trụ đặt hai tượng nghê chầu. Hai bên là hai cột trụ, mỗi bên cột nối liền với cột trụ chính bằng một bức tường, xây kín, giữa tường vẽ trang trí hình hai con ngựa quay hướng vào nhau.
Giữa cổng đặt một lư hương lớn, phía sau cổng là bình phong dạng cuốn thư, giữa cuốn thư xây một nhà bia, bên trong là tấm bia đá, có nội dung ghi bằng chữ Hán.
Cổng Nội (Tam Quan)
Qua cổng Trung là dãy bậc thang dài, cao, dốc dẫn lên cổng Nội phía trên. Cổng xây theo kiến trúc Tam Quan, gồm ba lối ra vào. Cổng chính ở giữa có kích thước lớn nhất, gồm ba tầng mái, diện tích các tầng nhỏ dần lên trên. Hai cổng phụ hai bên thấp và nhỏ hơn có hai tầng mái. Cổng được trag trí tỉ mỉ các hình hổ phù, chim phượng, vân mây,…
Đền chính
Đền Cuông được xây dựng theo lối chữ “Tam”, gồm ba nếp nhà nằm song song là ba cung chính : cung Hạ Điện, cung Trung Điện, cung Thượng Điện.
Cung Hạ Điện gồm năm gian, không có cửa và không chia gian để tạo không gian thoáng đãng. Gian giữa là nơi thờ ban công đồng, bày biện các đồ thờ cúng, mỗi gian được trang trí cửa võng sơn thếp vàng, tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm cho ngôi đền. Bên cạnh gian thờ, đền Cuông có nơi trưng bày xác một con chim hạc. Tương truyền, vào năm 1995, trong một dịp lễ hội, con hạc đã bay về và đậu trên vai một người dân. Sau khi chim bị ốm và không chữa được, xác chim được đưa ra Hà Nội để ướp, rồi sau đó mang về đền Cuông để trưng bày. Chim hạc trắng được đặt vưới tư thế đứng trong tủ kính.
Cung Trung Điện có ba gian thờ: gian giữa thờ tướng Cao Lỗ, bên tay phải thờ thần Kim Quy, bên trái thờ Công Chúa Mỵ Châu. Tại đây, các đồ tế khí, bộ bát bửu, và chim hạc sơn thếp vàng được trưng bày và lưu giữ. Đặc biệt, có treo một quả chuông đồng, được giữ từ khi xây dựng ngôi đền.
Dãy nhà cuối cùng là nơi Điện thờ vua An Dương Vương, đây là noi chỉ mở cửa vào dịp lễ hội, ngày mùng 1, ngày rằm, ngày thường sẽ được đóng kín. Điện thờ gồm năm gian hai chái, ba gian giữa là cửa ra vào, hai gian chái được xây tường kín, trổ cửa sổ chữ Thọ. Đây là kiến trúc được trang trí đặc biệt nhất với mái uốn cong, đầu đao hình rồng, bờ nóc, mái đền có lưỡng long chầu nguyệt và hình nghê chầu, sư tử chạy.
Phía mái trước có đắp bức cuốn thư, bên trong khắc nổi chữ Hán, trang trí hình rồng uốn lượn xung quanh.
Đền Cuông hiện nay treo nhiều câu đối viết bằng chữ Hán của các quan lại, danh Nho nhằm tỏ lòng tôn kính đối với An Dương Vương.
Câu đối ở hai bên cổng vào đền:
Mộ Dạ sơn địa truyền vũ phượng
Ức niên, để thống, kỷ niệm khâm sùng
Nghĩa:
Núi Mộ Dạ đất truyền phượng múa
Muôn năm vua chúa các đời đều tôn sùng.
Câu đối đề trên lầu bia:
Loa thành tự cổ minh thanh sử
Hạc lĩnh nhị Kim tước Dạ sơn
Nghĩa:
Thành Cổ Loa từ xưa ngời sử xanh
Núi Hạc ngày nay vốn là nơi của chim công ở Mộ Dạ sơn
Câu đối đề ở cổng tam quan (trên tầng lầu):
Âm linh truyền địa thắng sơn lưu văn tước hải văn tê
Phận định thiên thư, Bắc hữu cổ thành, Nam hữu miếu.
Nghĩa:
Đất linh thắng lưu truyền, núi còn vẻ chim công,
biển còn ngời ánh ngọc trai Sách trời đã định, Bắc có thành cổ, Nam có miếu thờ.
Sự kiện lễ hội
Hàng năm tại đền Cuông có hai kỳ lễ chính: Xuân tế (vào 15 – 2 Âm lịch) và thu tế (vào 15 – 8 Âm lịch). Theo truyền thuyết, dân chài phát hiện một chiếc kiệu từ biển Đông trôi vào cửa Hiền, nơi vua Thục tự vẫn. Khi dân các làng xung quanh ra khiêng, chỉ có làng Cao Ái khiêng được kiệu và đưa về đình làng. Người dân tin rằng đây là hồn thiêng của vua Thục, công chúa Mỵ Châu, và tướng Cao Lỗ.
Mỗi kỳ tế lế sẽ gồm 6 phần: Lễ rước nước, lễ mộc dục, tế gia quan, lễ rước thần (rước kiệu), lễ đại tế, lễ túc trực.
Trước khi vào hội một ngày, các làng cử người đi lấy nước từ giữa sông, rồi múc từng gáo đổ vào chum đã được chùi sạch, sau đó khiêng các chum nước lên kiệu rước về đền Cuông. Khi rước nước về dân làng sẽ tiến hành làm lễ tắm tượng, các tượng được tắm hai lần, lần đầu tắm bằng nước được rước về, lần hai tắm bằng nước ngũ vị hoặc nước trầm hương. Tắm xong sẽ làm là khoác áo, mũ cho tượng thần.
Tục rước kiệu tại đền Cuông diễn ra sôi động, bắt đầu từ nửa đêm với trống chiêng, và vào sáng hôm sau. Đầu Tiên rước long ngai của vua Thục, Mỵ Châu và Cao Lỗ được rước từ đền Cuông về đình Cao Ái để tế thần, sau đó trở lại đền Cuông. Rồi từ các đình làng trong vùng rước long ngay của Thành hoàng làng về đền Cuông để làm lễ hợp tế (lễ đại tế). Lễ đại tế gồm 19 người, chia thành hai hàng, chịu trách nhiệm dẫn chủ tế ra vào và dâng hương, dâng rượu, đọc chúc,..
Lễ cuối cùng của lễ hội là lễ túc trực, đây là lễ soát lại bài vị, tượng thần cùng các đồ tế khí trước khi rước các Thành hoàng làng trở về các đình làng trong vùng.
Lễ hội không chỉ có các nghi lễ mà còn bao gồm các hoạt động văn hóa, nghệ thuật như múa lân, biểu diễn trống chiêng, kèn, và các trò chơi dân gian. Lễ hội đền Cuông là dịp để cộng đồng địa phương thể hiện lòng thành kính đối với các vị thần, đồng thời gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.
Hiện vật
Hiện nay đền còn lưu giữ được nhiều hiện vật quý như: chiêng, trống, tượng thờ, đồ tế khí và nhiều tư liệu bằng chữ Hán.
Tham khảo
- Vũ Ngọc khánh (2007), Đền miếu Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Vương Tuyển (2009), Lễ hội dân gian Việt Nam, Nxb Văn hoá Dân tộc
- Lưu Minh Trị (2004), Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam tập II, Nxb Hà Nội.
- Văn hóa Phật giáo xứ Nghệ Qúa khứ, hiện tại, tương lai, Nxb Hồng Đức.
