Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Kim Mã tọa lạc tại số 61 phố Kim Mã, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đây là một trong những công trình tín ngưỡng có giá trị lịch sử, gắn liền với quá trình phát triển của khu vực. Đình Kim Mã không chỉ là nơi thờ tự mà còn phản ánh những dấu ấn văn hóa và lịch sử đặc trưng của Thăng Long – Hà Nội qua các thời kỳ. Vị trí của đình nằm trên trục giao thông quan trọng của kinh thành xưa, gắn liền với các hoạt động sinh hoạt của người dân trong vùng.
Lịch sử và nhân vật
Đình Kim Mã là nơi thờ phụng ba vị thành hoàng có công lao to lớn đối với dân tộc: Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, quan thái giám Thái tể Hoàng Phúc Trung và đại vương Linh Lang. Trong đó, Phùng Hưng (761–802) là một anh hùng dân tộc được nhân dân tôn kính như bậc sinh thành. Theo sử cũ, vào năm Nhâm Tuất (602), Tùy Văn Đế đã cử Lưu Phương làm Đại tổng quản, thống lĩnh 27 doanh quân sang xâm lược nước ta, lập nên chức Giao Châu đại tổng quản. Sau khi nhà Tùy suy vong vào năm 618, nhà Đường tiếp tục đô hộ, đổi Giao Châu thành An Nam đô hộ phủ.
Đến năm 722, Mai Thúc Loan nổi dậy ở Thiên Lộc (Hà Tĩnh), chiếm Hoan Châu, xây thành Đáp Lựu, xưng là Mai Hắc Đế. Tuy nhiên, cuộc khởi nghĩa chỉ kéo dài bảy năm. Đến đời Đường Đại Lịch (766–799), tại Đường Lâm thuộc xứ Đoài Sơn Tây, hào trưởng Phùng Hưng nổi lên với gia sản sung túc và sức mạnh phi thường – ông từng vật ngã trâu, hạ gục hổ dữ. Trước sự áp bức hà khắc của viên đô hộ Cao Chính Bình, ông đã đứng lên khởi nghĩa, xưng là Đô Quân, hiệu triệu nhân dân vùng lên lật đổ ách cai trị.
Cuộc khởi nghĩa được hưởng ứng rộng rãi, nhân dân các ấp làng lân cận nô nức tham gia, đoàn nghĩa quân kéo về Tống Bình như trảy hội. Thành Tống Bình bị vây hãm trong khí thế “trùng trùng điệp điệp” của biển người mang vũ khí. Trước thế trận ấy, Cao Chính Bình kinh hoàng đến nỗi sinh bệnh mà chết. Phùng Hưng đã giành lại Tống Bình, thiết lập quyền tự chủ, đem lại yên bình cho đất nước suốt bảy năm cho đến khi ông qua đời. Nhân dân tiếc thương ông như mất người thân, và tôn xưng ngài là Bố Cái Đại Vương – trong đó “Bố” là cha, “Cái” là mẹ.
Gần đây, một tấm bia được phát hiện tại đình Quảng Bá – cũng là nơi thờ Phùng Hưng – đã hé lộ thêm nhiều chi tiết chưa từng được ghi chép trong chính sử: “Năm Tân Mùi (791), Cao Chính Bình chính sự bạo tàn, thuế khóa nặng nề, trăm họ không chịu nổi. Phùng Hưng hợp các tướng bàn cách đánh giặc. Người hiền kế là Đỗ Anh Hàn. Dưới trướng có nhiều tướng như Thiệu An, Lãng Bình, Đỗ Nhung, Triệu Cử, Hà Trại, Lục Thành, Lục Kiều… Phùng Hưng tổ chức suất đại binh chia làm ba cánh quân từ Sơn Tây kéo về. Có hai vệ quân do ông Thống, ông Điển bố trí đóng quân phía đông ngoài sông Tô để chặn đường quân giặc…”.
Bên cạnh đó, Linh Lang Đại Vương là một nhân vật thần thoại trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, được xem là vị thần bảo hộ kinh thành Thăng Long. Thần tích kể rằng Linh Lang là con của vua Lý Thánh Tông, khi giặc ngoại xâm tràn vào nước, ông đã hóa thân thành rồng và bay về trời. Ông được thờ ở nhiều nơi, đặc biệt là trong các ngôi đình cổ kính của Thăng Long.
Quan thái giám Thái tể Hoàng Phúc Trung là một nhân vật lịch sử có công lao lớn trong việc phụng sự triều đình, đồng thời có những đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa tại khu vực Kim Mã. Việc thờ ông trong đình phản ánh sự tôn kính đối với những nhân vật có công với nước và dân tộc.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Kim Mã từng là một công trình kiến trúc tiêu biểu nhưng đã bị thực dân Pháp phá hủy. Sau này, đình được xây dựng lại với mái bằng và sử dụng làm trụ sở Ủy ban nhân dân phường. Hiện nay, đình đã được tu sửa, trở thành nơi thờ tự các vị thần Thành hoàng. Trước đình có hai trụ lớn được xây dựng kiên cố, mang nét trang trí trang nhã, tạo điểm nhấn cho không gian thờ tự.
Bố cục đình Kim Mã tuân theo kiểu truyền thống với khu vực chính điện, hậu cung và sân đình. Mái đình có độ dốc lớn, lợp ngói cổ, các kèo cột được chạm trổ công phu theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Trong đình, các bức hoành phi, câu đối vẫn được bảo tồn, mang nội dung ca ngợi công đức các vị thần được thờ.
Đặc biệt, đình còn lưu giữ một văn bia do Lê Cúc Hiến biên soạn năm 1875, ghi lại công lao của Phùng Hưng và sự phát triển của làng Kim Mã. Văn bia này có giá trị lịch sử quan trọng, từng được tuyển chọn vào tập văn bia tiêu biểu của Hà Nội.
Hiện vật
Dù trải qua nhiều biến cố, đình Kim Mã vẫn bảo tồn được một số di vật quý giá. Trong đó, đáng chú ý nhất là hệ thống sắc phong, thần phả và một cỗ ngai cao 1,2m, có niên đại từ thế kỷ XIX, mang giá trị nghệ thuật đặc sắc. Cỗ ngai được chế tác từ gỗ quý, chạm trổ tinh xảo với họa tiết rồng phượng, thể hiện sự tôn nghiêm của nơi thờ tự.
Ngoài ra, đình còn có một số bức hoành phi, câu đối cổ, cùng các bức tượng thờ được chế tác theo phong cách nghệ thuật truyền thống. Cách đình khoảng 500m là lăng Phùng Hưng, một di tích lịch sử quan trọng đã được công nhận, góp phần khẳng định giá trị của khu vực này trong lịch sử Việt Nam.
Sự kiện và lễ hội
Hằng năm, vào ngày mồng 10 tháng Giêng và 12 tháng Hai âm lịch, người dân Kim Mã Hạ long trọng tổ chức lễ hội truyền thống đầu xuân. Ngay từ tháng Chạp, ban đại diện của tám dòng họ trong làng đã họp bàn, chuẩn bị chu đáo cho ngày hội. Ba mươi hai nam nữ thanh niên khỏe mạnh, chưa lập gia đình, hạnh kiểm tốt, nhà cửa sạch sẽ, đều phải ăn chay, rèn luyện thể lực hằng ngày.
Vào ngày mồng 5 tháng Giêng, đoàn các cụ cao niên mang lễ vật đến chùa Kim Sơn và am Vạn Linh để tế lễ, cúng tam sinh, tưởng niệm vong linh các nghĩa sĩ Tây Sơn đã hy sinh trong chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Chính hội diễn ra vào ngày mồng 10 tháng Giêng, ngày Phùng Hưng mở tiệc khao quân sau khi đánh tan giặc thù.
Trong không khí trang nghiêm và rộn ràng, một cụ già cầm cờ lệnh đi giật lùi dẫn đầu đoàn rước, miệng hô vang từng hồi “Ha! Ha! Ha! Hi! Hi! Hi!”. Tiếng tù và vang dội mở đường cho đoàn rước rời đình làng, gồm kiệu bát cống, sư tử múa, các tổ đánh bồng, tàn lọng, hỏa bài, cờ ngũ sắc. Tiếp theo là đội tế lễ, đội dâng hương, các quan viên chức sắc cùng đại diện của những địa phương kết nghĩa như Quảng Bá, Triều Khúc, Đường Lâm và mười hai làng trong liên minh Thập Tam Trại.
Đoàn đi hơn một cây số để tới lăng Phùng Hưng (nay nằm trong khuôn viên Nhà máy Đóng lạnh Long Biên). Nơi đây, dưới tán cây si, cây đa, cây lan um tùm, có bệ tế ngoài trời và hai cột đá khắc đôi câu đối trang nghiêm:
Sự nghiệp anh hùng truyền vạn thuở
Tôn xưng cha mẹ hợp muôn dân.
Sau nghi lễ tế lễ trang trọng tại lăng, dân làng làm lễ “thập bái” xin chân nhang rước về đình. Buổi trưa, mọi người cùng dự tiệc thụ lộc, thưởng thức các món truyền thống như thịt bò thui chấm tương gừng, xôi trắng dẻo thơm.
Buổi chiều, không khí hội làng thêm phần tưng bừng với nhiều trò chơi dân gian hấp dẫn. Tại ao tròn giữa làng diễn ra trò “cầu tre bập bênh”. Ba giáp trong làng (Trung, Thượng, Văn) cử người thi đấu giật cờ đỏ giữa ao. Ai thắng sẽ được thưởng vịt bầu Bến. Tại hồ đầu làng, cuộc thi đua thuyền nan diễn ra sôi nổi; người về nhất sẽ nhận phần thưởng là vuông vải đỏ thêu nhiều điều tốt lành.
Hội Kim Mã Hạ không chỉ là dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mà còn là lễ hội thiêng liêng nhằm tưởng nhớ Bố Cái Đại Vương – vị anh hùng dân tộc thế kỷ VIII. Người dân Kim Mã vẫn ghi nhớ lời Chủ tịch Trường Chinh trong một lần về thăm Nhà máy Cơ khí Long Biên. Khi dừng chân trước khu lăng mộ, ông trầm ngâm đọc đôi câu đối và phát biểu: “Thủ đô Hà Nội có hai di sản quí – lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và lăng Bố Cái đại vương, ta cần khảo cứu để gìn giữ tôn tạo cho các thế hệ mai sau.”
Xếp hạng
Với những giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa đặc sắc, đình Kim Mã đã được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1990.
Tham khảo
- Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001