Lý Thánh Tông Hoàng tử Linh Lang Đại vương phả lục
Xưa, triều Lý sớm ứng lời sấm “Thập bát tử”1, gánh vác nghiệp lớn, nhận quyền ngôi báu. Bấy giờ, tại xã Bồng Lai huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây có người con gái họ Dương tên là Phương Nương, năm mới 3 tuổi, cha mẹ mất sớm, phải ở cùng cậu ruột là Trần Công Tiệp tại phường Thị Trại2 thành Thăng Long, bên hồ Tây. Đến khi trưởng thành, rất có nhan sắc, tuổi mới đôi chín, nhan sắc tuyệt trần, dù là tiên ở Bồng Doanh3, gái đẹp ở Lăng Uyển4 cũng không hơn được. Bấy giờ mối ong thư bướm đầy cửa khắp nhà, nhưng phòng xuân mới khóa, nhụy ngọc đang phong, lương duyên ngày lành chưa định. Bấy giờ mùa xuân ấm áp, hoa nở khắp nơi, người người ngoạn cảnh ngày xuân. Vua xa giá nhàn du ngoài thành. Nhân dân nhiều người đến xem. Hai bên đường, trên dưới tiếng cười nói huyên náo, người đông không kể xiết. Phương Nương cũng theo cậu đi xem. Đến khi đến trước mặt vua, vua nhìn thấy trong lòng yêu thích, lấy đưa vào trong cung, lập làm Đệ tứ Cung phi, hàng ngày hầu hạ ở bên không rời nửa bước. Khoảng 4 năm, chưa từng sinh nở. Vua lập một cung ở phường Thị Trại, cho cung phi ở đó. Phi về ở cung Thị Trại, chuyên luyện nữ công, được 6 tháng, bấy giờ vào mùa hạ nóng nực, cung phi ra Tây Hồ giặt vải. Việc xong, nhân ở bến có bàn đá là nơi mát mẻ, nàng bèn ngồi ở bàn đá tắm. Bỗng thấy trời đất tối sầm, sấm sét nổi lên, trong hồ có tiếng vang như sấm bên tai. Nàng bàng hoàng sợ hãi, chưa kịp lên bờ, bỗng thấy con giao long vảy màu đỏ trắng từ trong hồ trườn lên, ôm lấy thân nàng. Nàng hoảng hốt tinh thần, ngồi ngây ở bản đá, không biết tỉnh hay mơ. Một lát sau, dần dần tỉnh ra, không thấy giao long, chỉ thấy thân mình đầy dãi. Nàng trở về, tâu hết với vua. Vua cả giận, vừa định soạn biểu trách Thủy cung, bỗng tinh thần mê man, thân thể mệt mỏi, tựa long sàng mà nằm, mông lung như mơ, thấy một người thân khoác áo đó, tay cầm cờ đỏ, từ trời giáng xuống trước mặt vua, tâu rằng:
– Sau ba năm, quốc gia có giặc Trinh Vĩnh đến xâm phạm. Sự an nguy của thiên hạ chỉ một sớm một chiều. Bởi vậy, Hoàng thiên sai Thủy thần xuất thế, đầu thai vào hoàng gia, để giúp nước bình đám giặc tàn. Nếu có nguy cấp, cũng không phải lo.
Nghe nói chưa hết, vua bỗng tỉnh giấc, biết là thần báo mộng, lập tức ghi vào số vàng, không biết là việc này ra sao, xem đoạn sau thì thấy nghiệm chứng. Lại nói, từ khi cung phi trở về cung, tâm thần chuyển động mà có thai. Từ khi mang thai, mỗi lúc sương sa hay hay đêm trăng, thường nghe ở trong cung có tiếng gió, vịnh rằng:
Thủy thần thiên định,
Xuất trần kim thành,
Trinh Vĩnh chỉn tăng,
Ma chỉ thiết vinh;
Một trận xuất uy,
Sài lang phá đản,
Kình nghê kinh hồn.(Thủy thần trời định,
Giáng thế cung vàng.
Trinh Vĩnh kéo sang,
Thần thét tiếng vang5,
Ra uy một trận,
Sài lang vỡ mật,
Kinh hồn kinh nghê).
Mang thai 12 tháng, bấy giờ là ngày 15 tháng Giêng năm Giáp Thìn, sinh được một cậu con trai, diện mạo như rồng, thân thể toàn vẫy. Được 100 ngày, cung phi ôm Hoàng tử vào triều. Vua thấy mà lạ, bèn đặt tên là Hoàng Lang6. Lại cho cung phi trở về cung để nuôi nấng Hoàng tử. Được 7 tháng, lúc ấy có giặc Trinh Vĩnh7” vào chiếm cả nước. Thiên hạ ba phần đã mất hai. Triều đình nhiều phen chỉnh chiến, cuối cùng không thể thắng được. Vua lo lắm, bèn sai sứ thần đi mộ [9a] khắp các phủ huyện trong nước, xem dân chúng có người nào anh tài trí dũng, có thể bình được giặc ấy, thì nhận tước cao trong thiên hạ. Sứ giả phụng mệnh đi mộ người trong thiên hạ. Đến khi trở về đến Thị Trại, bấy giờ, Hoàng tử còn đang nằm ngửa trên giường, bỗng nghe tiếng sứ giả, bèn hỏi mẹ rằng:
– Sứ giả tuyển mộ ai đấy ạ?
Cung nương thấy lời ấy, cả sợ, bèn đáp rằng:
– Hiện nay quốc gia có Trình Vĩnh sang xâm phạm. Sự an nguy của nước nhà chỉ trong sớm chiều. Vua cha sai sứ thần đi mộ người trong thiên hạ, nếu có tài làm tướng, bình được giặc ấy thì nhận thưởng hậu.
Nhân đó đùa rằng:
– Hoàng tử miệng còn hơi sữa, có thể bình được giặc ấy không mà hỏi?
Hoàng Lang bảo:
– Mẹ gọi sứ vào.
Cung phi lấy làm lạ, liền gọi sứ giả vào gặp Hoàng Lang. Hoàng Lang nói rằng:
– Các ngươi nên về tâu cùng vua cha rèn cho ta một con voi khỏe, [96] một ngọn cờ vuông, đều dùng đồ sắt, mau mang đến đây. Giặc này chỉ trong ngày là dẹp yên.
Sứ giả vải tạ, rồi về tâu hết việc này. Vua cả mừng, lập tức truyền luyện sắt đúc voi, cờ, rồi sai sứ đem đến. Khi ấy Hoàng Lang hắt hơi ba tiếng, đang nằm bỗng đứng lên, thân cao 10 thước, tay cầm cờ sắt, nhảy lên voi, hét lên một tiếng, trong miệng phun ra lửa. Voi chạy như bay, thẳng đến đồn giặc. Hoàng Lang vẫy cờ, thét rằng:
– Ta là Long Quân, nghe lệnh trời đánh giặc, không còn tên nào sống sót.
Nói chưa dứt, thấy gió bấc nổi lên ầm ầm, thần gió giương oai. Doanh trại giặc đều bốc lửa cả. Trong khoảnh khắc đã cháy sạch. Bọn giặc chết không đếm xuể. Quân còn lại đều bình được. Hoàng Lang trở về bái yết bệ hạ. Vua cả mừng, muốn lập Hoàng Lang làm thái tử. Có lẽ trời xui khiến nên như vậy. Một hôm, Hoàng Lang bỗng bị bệnh đậu, [10a] qua 3 tháng vẫn không thể khỏi. Vua thân đến thăm bệnh, bảo Hoàng Lang rằng:
– Con là con ta thì bệnh đậu này phải khỏi ngay.
Hoàng Lang thưa:
– Thần vốn là Long Quân Thủy thần, phụng mệnh Hoảng thiên thác vào hoàng gia, để trừ nghịch tặc, không phải con của bệ hạ. Nay đã thanh bình, thần muốn trở về thủy cung.
Vua nghe nói, rất thương, bảo rằng:
– Việc đã như vậy, thì biết làm sao. Hơn nữa, khanh có công lớn với việc nước, khanh muốn thế nào, ta sẽ đồng ý ngay.
Hoàng Lang cúi mình tạ rằng:
– Thần xin bệ hạ đem thần và voi cùng cờ ra chỗ bàn đá ở Tây Hồ. Thần xin dùng cờ này thả lên trời. Cờ bay rồi dừng lại ở nơi nào, thì thần xin cho đất ấy làm dân sở tại của thần, làm nơi ngày sau hưởng hương hóa của thần.
Vua bằng lòng, bèn [sai] trăm quan đón Hoàng Lang và voi cờ cùng ra bàn đá ở [106] Tây Hồ. Hoàng Lang tay cầm cờ, phóng thẳng lên trời. Việc xong, vái tạ vua. Hoàng Lang hắt hơi một tiếng, lập tức thấy sấm sét rền vang, nước hồ sóng cuồn cuộn. Lúc ấy Hoàng Lang bỗng hóa thành con giao long, vào thẳng Tây Hồ, trườn xuống nước rồi biến mất (Bấy giờ là ngày 15 tháng 12-NC). Voi sắt cũng phục ở bên trái mấy hôm thì cờ sắt cũng bay về, dừng lại ở bên phải. Vua biết Hoàng Lang rất anh linh, liền tặng phong sắc chỉ làm Linh Lang Đại vương, truyền lập đền ở phía trên bàn đá (bên phải Tây Hồ-NC) làm đền chính. Các tiết sinh, hóa, xuân thu, sai quan tế hậu, vẫn chuẩn cho phường Thị Trại làm trại Thủ Lệ, phụng thờ. Lại truyền xã dân các phủ huyện các ấp của dân trong thiên hạ đâu có cờ sắt chỉ vào thì đến ngay kinh thành đón sắc về phụng thờ, tổng cộng được 170 nơi. [11a] Xã Chùy Khê huyện Giao Thủy phủ Thiên Trường đạo Sơn Nam là nơi cờ sắt chỉ vào nhưng nhân dân nơi đó bị bệnh dịch. Đến lúc ấy, nhân dân nghe chiếu, đến kinh đón sắc chỉ về. Dân ghi thần hiệu là Linh Lang Đại vương rồi phụng thờ. Từ đó dân vật yên ổn khỏe mạnh, từ lâu linh ứng, nhiều đời gia phong, huyết thực vạn thế vô cùng.
Hai chữ Linh Lang tuyệt đối cấm dùng.
Hành lễ:
Ngày thần sinh là ngày 15 tháng Giêng.
Ngày thần hóa là ngày 15 tháng 12.
Linh Lang Thần Hóa Lục
Xét, sách Ngoại truyện có ghi chép về năm Nguyên Hoàng dựng nước (Nguyên Hoàng tức là Kinh Dương Vương, tên hiệu do họ Khúc truy tôn tặng-NC), con thứ 5 là Bạch Long Quân, là tiền thân của vương (đền thờ Bạch Long Quân nay ở Đặng Xá, Hoài An-NC). Đến triều Lý Thánh Tông ban đầu được giáng vào làm con thứ 4 do cung phi họ Nguyễn sinh ra. Đó là hóa thứ nhất.
(Ghi chép thêm: Theo gia phả họ Nguyễn, phi là người giáp Bồng Lai hương Từ Liêm. Cha họ Nguyễn húy là Thực, mẹ họ Lê, húy là Năng. Năm bà mẹ hơn 30 tuổi nằm mơ thấy thần long, rồi thấy mình nuốt mặt trăng vào bụng, từ đó có thai. Đến ngày 15 tháng 3 năm Quý Sửu mới sinh).
Ngày mồng 5 tháng 9, người cha gần 60 tuổi qua đời, lúc đó phi mới lên 3 tuổi. Sau khi mãn tang cha, mẹ con chuyển đến ở tại xứ Thị Trại, huyện Quảng Đức, thành Thăng Long. Năm phi lên 17 tuổi, dung mạo xinh đẹp hơn người. Bấy giờ trong cung chưa có người nối dõi, Thánh Tông thường du chơi khắp nơi, thấy phi xinh đẹp nên đưa về cho làm phi, sống ở Cửu cung (cung thứ 9), lại ban sắc cho đổi ấp xưa thành trại Thủ Lệ. Chưa được bao lâu thì người mẹ qua đời, vua xuống chiếu ban cho tiền vàng lụa là, lại sai quan tiến hành tang lễ. Vua còn ban cho phi về quê để tang mẹ trong ba năm, hết kỳ để tang lại về trong cung.
Phi tên húy là Hạo Nương, khi còn để tang mẹ phi luôn ưu uất. Ngày hết tang mẹ cô ra tắm gội ở hồ Dâm Đàm, chợt thấy thần [76] long từ trong hồ bơi lại quấn lấy người, rồi phun sóng thành mây bay lên trời đi mất. Lúc đó dịch hương loang khắp người phi. Phi bàng hoàng quay trở về, năm sáu ngày sau được vua vời vào, từ đó có thai. Qua 14 tháng, phi nằm mơ thấy có dị nhân mặc áo bào gấm, đeo đai ngọc tới trước thưa rằng:
– Thần tên Mỗ xin được thác làm con.
Người kia nói xong, phi liền tỉnh giấc, đúng lúc đó thì sinh hạ. Bấy giờ là giờ Thân ngày 13 tháng 12 năm Giáp Thìn, năm thứ 6 niên hiệu Gia Khánh (1064) (xét, xưa năm Ất Mùi là năm Long Thụy Thái Bình thứ nhất đến năm thứ 6 đổi là năm Chương Thánh Gia Khánh), trong phòng hương thơm ngào ngạt, cả ngày không hết, lúc đó vương được sinh ra.
Vương trông khôi ngô kỳ lạ, sau lưng có 18 nốt ruồi đỏ như vầy cá lân, trước ngực có 7 nốt ruồi đen nổi như những hạt châu. Vua cha lấy làm lạ. 7 ngày sau gọi đến bảo:
– Ngày 20 tháng này mở yến tiệc để quần thần chúc mừng hoàng tứ lang (hoàng tử thứ 4).
Vua lại tìm ban cho phi trở về nơi cung xưa đề nuôi con. Được khoảng một tháng bảy ngày, lúc bấy giờ [8a] tướng giỏi của giặc Tống là Triệu Khế (âm Khế), Quách Đạt thống lãnh 9 tướng quân là bọn Hồng, Chân, Vũ, Nhị, Dư, Tĩnh cùng Hoàng, Vĩnh, Trinh cùng hợp với hai man Chiêm Thành, Chân Lạp chia đường mang quân đến xâm lược nước ta. Đến Thượng Lộ, Quốc Oai (Thượng Lộ tức nay là các phủ Đoan Hùng, Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây-NC), thế giặc rất mạnh. Thư từ biên ải 5 lần gấp báo, cả kinh sư chấn động. Vua lo lắng vô cùng, nhân có việc ở cung Thái Hòa, trong lúc mơ màng, vua nghe có tiếng nói:
– Nước có một người có thể dẹp giặc, vua còn gì phải ưu lo.
Tỉnh giấc, vua xuống chiếu chiêu mộ người tài giỏi, nói rằng ai có thể diệt bọn hung ác ấy sẽ trọng thưởng không tiếc. Hơn một tháng, sứ giả đi tới địa phận trại ấy, lúc đó vương đang nằm trên giường nghe thấy bèn đứng lên nói với phi rằng:
Biên giới có giặc, con có thể nằm yên trên gối được chăng. Mong mẹ hãy gọi ông ta vào để con hỏi chuyện.
Phi vô cùng kinh ngạc nói:
– Thế giặc mạnh như thế, con lại nhỏ thế này.
Vương đáp:
– Nhỏ sẽ có lúc lớn, mẹ không phải lo xa.
Phi bèn ra nói với sứ. Sứ giả vào, vương ung dung bảo sứ giả rằng:
Khanh hãy gấp về tâu lên với vua xin [86] chớ lo lắng về điều đó. Nhưng đi như thế này chưa đủ để dẹp được giặc.
Sứ lại hỏi:
– Cần làm binh khí gì không?
Vương trả lời:
Cần một lá cờ hồng, cán dài 10 trượng, một con voi đực.
Sứ quay trở lại tâu lên vua. Vua mừng rỡ nói:
– Hãy ban đúng những vật đó.
Vua còn cho thêm vài vạn tỉnh binh đi theo. Lúc đó vương còn chiêu mộ được nghĩa sĩ trong trại ta được 121 người, trong số đó có 5 người nổi tiếng như Lê Bảo, Đặng Tịch, Trần Hưng… Vương còn phong chức cho họ. Việc xong, vương bỗng nhiên xuất thế, một trời buồm căng, gọi voi một tiếng, voi đến phủ phục trước mặt (người đời sau gọi đền ấy là đền Phục Tượng (Voi Phục) là vì thế-NC). Vương bèn cầm cờ, tiến như bay về phía trước, đến phủ Phú Lang (Phú Lang nay là phủ Hanh Thông-NC) vừa phất cờ lên quân giặc đã tan, vương chiến thắng trở về, mở yến tiệc, ban thưởng theo thứ bậc.
Vài tháng sau, thấy vương có công lao lớn, vua bèn triệu về muốn nhường ngôi cho, nhưng vương từ chối không nhận, bái tạ trở về đất xưa (Cố Dã tức là trại Thủ Lệ-NC).
Được 7 tháng, vương bị dịch đậu, hạt cứng như ngọc, nổi lên hàng trăm nốt, chữa trị, thuốc thang thế nào cũng không khỏi. Tháng 2 mùa xuân năm sau, vua nhiều lần xa giá đến thăm hỏi, vương thưa rằng:
– Thời gian trích giáng xuống trần có hạn, thần không thể như người bình thường mà mong đội ơn sâu dày của đức vua. Xin hãy nhìn các ngọn cờ cắm trên cửa Đại Hưng. Hôm trước thần vừa mới mang cờ đi đánh giặc, các ngọn cờ đó vẫn còn. Sau này nếu thần mất đi, bệ hạ hãy cho người tung lên không trung, nếu thấy chúng rơi xuống cắm vào chỗ nào thì xin được lấy đó làm đất hương hỏa. Như thế cũng đủ lắm rồi.
Vua bằng lòng. Bèn sai hạ màn đưa giá trở về. Xa giá vừa dời đi, vương liền biến thành một con rắn lớn dài hơn trăm trượng bỏ vào hang đá trong ngôi biệt thự. Được một lát bò ra đến hồ Dâm Đàm thì mất. Đó là ngày 10 tháng 2 năm Kỷ Tỵ thứ 7.
Bấy giờ trời đất tối đen, phong ba cuồn cuộn [9b] đến vài ngày trời mới tạnh hứng. Lúc đó cờ hồng bay lên không trung, mọi người thấy chúng cắm xuống 269 nơi, sau đó lại bay trở lại trong kinh thành cắm vào cửa Ngọ Môn như trước. Vua vô cùng kinh ngạc. Đến ngày 12 vua sai quan mang sắc phong tới làm lễ phong tước cho vương. Lại ban thêm 30 hốt vàng cùng 36 mẫu ruộng thờ để hằng năm hai mùa xuân thu tổ chức lễ tế.
Tháng 3 vua xuống chiếu lấy tiền công, cho phép hai ấp là trại Thủ Lệ và Bồng Lai xây đền thờ. Lấy dân ở trại Thủ Lệ làm dân đất hộ nhi, được miễn trừ tất cả. Ngôi nhà xưa của vương được làm đền từ đó. Còn 269 ấp miếu đều trở thành miếu thờ vương, trong miếu còn ánh lên hoa văn rắn năm màu. Mọi người ai cũng kinh ngạc. Được một lúc thì không nhìn thấy nữa.
Từ đó việc cầu đảo vô cùng linh ứng, sự linh thiêng không thể đoán biết. Tục gọi là đền Phục Tượng (Voi Phục).
Đến thời vua Lý Nhân Tông (1072 – 1075), trong triều có hai vị Linh Long và Nương Long, đó là lần hóa thứ hai. [10a] Vào khoảng năm niên hiệu Thái Ninh (1072 1075), vua xa giá tới hồ Dâm Đàm xem cá. Một hôm có cô gái xinh đẹp ở hồ Tây đến giặt lụa ở đó. Vua nhìn thấy liền đưa về cung, được một thời gian thì có thai, một trứng hai người con. Một gọi là Linh Long, một gọi là Nương Long. Sinh được vài tháng đã có thể biết nói như đứa trẻ lên sáu lên bảy tuổi. Vua thấy kỳ lạ càng yêu mến. Đầy tuổi chợt thưa với vua rằng:
– Thời hạn trích giáng xuống trần đã hết, không dám trái lệnh, mong bệ hạ xá tội. Hôm nay là ngày cuối cùng.
Vua băn khoăn không biết làm thế nào, bèn sai Trung sứ đưa tiễn. Hai anh em vừa ra đến cửa thì hóa thành rồng bay đến Hội Giang thuộc Hoài An thì mất. Sứ quay trở lại tâu mọi việc lên vua. Vua xuống chiếu lấy đất đó xây ngôi miếu. Về sau, đất đó có việc nguyền rủa gì [đến trước miếu cầu khấn] thì kẻ gian tự phải mất. Sự linh ứng rờ rỡ, ngôi miếu nay vẫn còn.
Đến thời Lý Thần Tông (1128 – 1132), có hai ông là Dực Thánh và Vệ Quốc, cũng là hậu thân của thần. Đó là lần hóa thứ 3.
Mẹ của hai ông là người Hồ Khẩu, tuổi đã cập kê mà chưa lấy ai. [106] Một hôm vào buổi chiều nằm mơ thấy rồng tới đùa giỡn, khi tỉnh lại, dịch hương còn khắp trên thân, nhân đó mà có thai, một bào sinh đôi. Đến khi lớn lên, dũng mãnh tài trí, lại giỏi võ công. Vào khoảng năm niên hiệu Thiên Thuận (1128 – 1132), giặc núi ở châu Bạch Hạc nổi lên, triều đình đưa quân đánh dẹp nhưng không chế ngự được. Vua xuống chiếu tìm người tài giỏi. Hai ông bèn ra ứng mệnh. Vua nhìn thấy bèn ban kiếm ấn, cùng vài ngàn binh giỏi tới chỗ quân giặc, dẹp tan được.
Vua phong cho người anh là Dực Thánh tướng quân, vợ là Thanh Từ phu nhân. Em được phong là Vệ Quốc tướng quân, cho lấy Minh công chúa. Lại ban cho xứ đó làm thực ấp (xét ấp đó sau thành thôn xóm, đến đời nhà Trần mới đặt tên là phường Hồ Khẩu-NC). Hai ông cùng Thủy chủ 3 miếu cùng được dân ấp đó thờ phụng, hương hỏa không dứt.
(Lại xét đền Dực Thánh mặt quay về hướng đông nam, ở phía bắc của ấp. Đền Vệ Quốc mặt quay về phía nam ở phía đông của ấp. Miếu Thủy Chúa mặt quay về hướng đông ở phía tây của ấp. Phía trái là hồ Dâm Đàm, bên phải là sông Tô Lịch. Cũng có biển đề là Thăng Long từ (Đền Thăng Long).
Phụ Linh Lang Vương
Hoàng tử thứ 7 của vua Trần Nhân Tông (1279 – 1284), đời thứ 3 nhà Trần được sắc phong là Linh Lang vương, thần hóa ở sông Bạch Hạc (xét, sông này xưa có tên gọi là sông Nghĩa Giang-NC). Mẹ là Chiêu Nhân. Xưa du chơi ở chùa An Quốc (chùa An Quốc đến thời nhà Lê đổi là Trấn Quốc. Vào khoảng những năm niên hiệu Hoằng Định, chuyển vào bên cạnh hồ. Nay gọi là chùa Trấn Bắc-NC), bên bến sông phường Yên Hoa (nay đổi là Yên Phụ-NC). Khi bà xuống hồ, thấy sóng lớn ào vào mặt, trở về thì có thai, sau sinh ra một chú bé, thông minh như cậu bé lên 5, 6 tuổi (bản cũ có truyền họ có 7 anh em là không đúng-NC). Đến khi lớn lên học ở xứ Sách Tào ấp ta (nay vẫn còn họ Sách Tào-NC), tài giỏi dũng lược có mưu trí.
Vào khoảng những năm trùng hưng, người Nguyên lại sang xâm lược (giặc Nguyên tới lần này là lần thứ 2-NC). Vương phụng mệnh vua đi dẹp tan giặc, chiến thắng trở về, không nhận ban thưởng tước lộc, trở về sống ở chùa Vân Hồ (chùa nay thuộc thôn Phong Vân-NC) trong huyện Vĩnh Xương (nay là Thọ Xương-NC), tu hành Phật đạo. Sau khi viên tịch, trong chùa còn có [13a] pho tượng gỗ để phụng thờ. Đến cuối thời Lê Cảnh Hưng (1740 – 1786), pho tượng được chuyển vào thờ ở đền Yên Phụ, đến nay vẫn còn. Các miếu Nhật Chiêu (nay là Nhật Tân-NC), Yên Phụ, Thụy Chương (nay là Thụy Khuê-NC) đều phụng thờ vương. Không phải là Linh lang vương thần triều Lý.
Chú thích:
1. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 1, tờ 31a- b) chép: “Trước đó, ở làng Diên Uẩn, thuộc châu Cổ Pháp (nay là vùng Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh), có cây gạo bị sét đánh. Người làng ấy đến xem kỹ thì thấy có chữ như sau: Thụ căn diễu diều, Mộc biểu thanh thanh. Hòa đao mộc lạc, Thập bát tử thành. Đông a nhập địa, Mộc dị tái sinh. Chấn cung kiến nhật, Đoài cung ẩn tỉnh. Lục thất niên gian, Thiên hạ thái bình. Mấy câu này, đại để có nghĩa là: Rễ cây sâu thăm thẳm, Vỏ cây màu xanh xanh. Hòa đao mộc thì rụng (a), Thập bát tử thì thành (b), Đông a mà nhập địa (c), Cây lạ sẽ tái sinh (d), Phương Đông mặt trời mọc (e), Phương Tây sao ẩn mình. Chừng sáu, bảy năm nữa, Thiên hạ sẽ thái bình. (a): Hòa đao – mộc ghép lại, có âm Hán Việt là lê, đây chỉ họ Lê, chỉ ngôi vua của Lê Long Đĩnh. Rụng là rụng xuống, ý nói sẽ mất đi. (b): Thập – bát – tử ghép lại có âm Hán Việt là lý, chỉ họ Lý. Chữ thành ngụ ý được dựng lên. Cả câu nói triều Lý sẽ được dựng lên. (c): Đông – a ghép lại có âm Hán Việt là trần, chỉ họ Trần. Họ vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc nên mới có hai chữ nhập địa. (d): Cây lạ sẽ tái sinh ngụ ý rằng, về sau cũng có triều Lê, nhưng đó lại là một họ Lê khác. (e): Ý chỉ rằng sẽ có thiên tử. Xưa người ta vẫn gọi Thanh Hóa là Tây còn Thăng Long là Đông.
2. Phường Thị Trại: Phường này thuộc địa giới huyện Vĩnh Thuận, sau phường đổi tên là trại Thủ Lệ.
3. Bổng Doanh: Tức núi Bồng Lai và núi Doanh Châu, tương truyền là nơi tiên ở.
5. Nguyên văn là “ma chỉ thiết vinh”麻之咽, Không rõ nghĩa, chúng tôi tạm dịch như trên.
6. Nguyên văn viết bộ vũ mỹ trên chữ lang 5. Từ điển không có chữ này. Tạm phiên như trên.
Nguồn: “Lý Thánh Tông Hoàng tử Linh Lang Đại vương phả lục”, ký hiệu AEa2/15, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.











