Đền Voi Phục (Ba Đình, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Voi Phục hiện tọa lạc tại số 251 đường Thụy Khuê, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội. Xưa kia, dưới thời Lê, di tích thuộc phường Thụy Chương, sau đổi thành Thụy Khuê, tổng Trung, huyện Vĩnh Thuận cũ. Tên “Đền Voi Phục” bắt nguồn từ hình ảnh hai con voi quỳ đặt trước cổng chính, tạo nên dấu ấn đặc biệt. Do xây dựng trên đất làng Thủ Lệ, di tích còn gọi là “Đền Thủ Lệ”, đồng thời được biết đến với tên “Đền Linh Lang” vì thờ Linh Lang đại vương – con trai thứ tư của vua Lý Thánh Tông.

Lịch sử và nhân vật

Đền được dựng năm 1065, đời Lý Thánh Tông, nhằm tưởng niệm Linh Lang đại vương – vị thần có công lớn trong việc bảo vệ đất nước. Đây là một trong “Thăng Long tứ trấn”, có ý nghĩa quan trọng trong việc trấn giữ và bảo hộ kinh thành Thăng Long xưa.

Theo ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, khu vực Đền Thụy Khuê dưới triều Lý vốn là Điện Thụy Chương. Khi điện bị hư hại, người dân địa phương đã dựng lại một ngôi đền trên nền cũ để thờ phụng thánh Linh Lang.

Sự tích về Linh Lang Đại Vương được lưu truyền trong nhiều thư tịch cổ cũng như truyền thuyết dân gian, có thể tóm lược như sau: Dưới thời Lý Thái Tông, trong một lần du ngoạn hồ Dâm Đàm (hồ Tây) và Bồng Lai, nhà vua gặp gỡ Cảo Nương – một thiếu nữ tuyệt sắc. Vua yêu mến và đưa nàng vào cung, cho ở tại cung điện xây dựng bên hồ Dâm Đàm thuộc phường Thụy Chương. Trong một lần tắm ở hồ Tây, Cảo Nương bị giao long quấn, sau đó mang thai và sinh hạ một hoàng tử vào ngày 13 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ (1029), được vua đặt tên là Hoàng Lang.

Hoàng tử lớn lên nhanh chóng, tinh thông võ nghệ. Năm 1044, ngài theo vua cha thân chinh đánh Chiêm Thành, tiến đến Đồ Bàn, giết vua Chiêm, làm quân Chiêm tan vỡ. Năm 1069, Hoàng tử lại theo vua Lý Thánh Tông nam chinh, tiêu diệt giặc Trình Vĩnh. Đến năm Đinh Tỵ (1077), khi quân Tống xâm lược, Hoàng tử được giao chỉ huy thủy binh, đánh bại lực lượng của Quách Quỳ ở Phả Lại, phối hợp cùng Lý Thường Kiệt phản công, tiêu diệt quân của Triệu Tiết, góp công lớn vào chiến thắng.

Khải hoàn trở về, Hoàng tử không nhận của cải mà phân phát cho dân, chỉ xin vua cho tung cờ, nơi cờ bay đến sẽ dựng cung điện. Cờ dừng ở trại Thủ Lệ, vua cho dựng cung điện tại đây. Ít lâu sau, Hoàng tử hóa thân vào ngày 12 tháng 2 âm lịch, được triều đình phong là Linh Lang Đại Vương, sắc phong cho hai làng Thụy Khuê và Thủ Lệ lập đền thờ, tôn làm thành hoàng làng..

Kiến trúc cảnh quan

Đền Thụy Khuê là một di tích cổ có lịch sử lâu đời, trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo và giữ vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân vùng Hồ Tây. Căn cứ vào tấm bia cổ nhất còn lưu giữ trong đình, dựng vào năm Vĩnh Tộ thứ ba (1621), ta biết ngôi đền vốn “nguy nga, có tiếng là thiêng, vua nhân cầu đảo thấy ứng nghiệm, cho quan đến tu sửa và cấp cho 20 mẫu ruộng…”. Điều này chứng tỏ từ sớm đền đã được triều đình công nhận là nơi thờ tự linh thiêng, đồng thời phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa ngôi đền với đời sống chính trị – xã hội đương thời. Sang thời Nguyễn, đền tiếp tục được nhiều lần trùng tu, tạo nên diện mạo kiến trúc hiện nay mang đậm phong cách thời kỳ này.

Tổng thể mặt bằng kiến trúc của đền được bố cục theo dạng chữ đinh, kiểu thức phổ biến trong kiến trúc tôn giáo – tín ngưỡng Việt Nam. Ngoài cùng là tam quan – tòa nhà ba gian xây gạch, trước mở cửa bức bàn, dưới là bốn hàng cột, bộ vì theo kiểu “chồng rường” chắc chắn. Hai bên hồi đắp tượng hộ pháp, phía ngoài đặt đôi voi đá mang ý nghĩa canh giữ, biểu tượng cho sự dũng mãnh và trung thành. Qua sân nhỏ lát gạch, bậc tam cấp đá xanh mịn dẫn vào tiền tế. Tiền tế gồm năm gian, vì kèo kiểu “chồng rường giá chiêng”, hai vì hồi chạm hổ phù mắt lồi dữ tợn, thể hiện quan niệm cầu mùa và xua đuổi tà khí của cư dân nông nghiệp. Trên các bức cốn đầu dư còn chạm khắc nhiều đề tài quen thuộc như rồng, mây, hoa, lá… mang tính trang trí nhưng cũng ẩn chứa ý nghĩa biểu tượng về sự thịnh vượng. Gian chính giữa treo đôi câu đối ca ngợi công đức thần, hai gian hồi đặt bia đá ghi lại những lần trùng tu.

Hậu cung gồm ba gian, kết cấu tường hồi bít đốc, bộ vì “chồng rường giá chiêng” giống tiền tế. Hai bên hồi trang trí hổ phù, tứ linh, tứ quý – những hình tượng vừa mang ý nghĩa bảo hộ, vừa thể hiện khát vọng phồn vinh. Trung tâm hậu cung là long ngai đặt bài vị “Linh Lang Đại vương thượng đẳng thần”. Bên cạnh là bát hương đá hình vuông, mặt trước chạm hổ phù, hai bên khắc lưỡng long chầu nguyệt – tác phẩm nghệ thuật tinh xảo mang phong cách thời Lê, tượng trưng cho quyền uy, sự bảo hộ và tính thiêng liêng của thần. Ngoài ra, trong đền còn có tấm bia đá đặt trên lưng rùa, cao 92cm, rộng 61cm, dày 10cm, bốn mặt khắc chữ Hán, là di vật quý cho biết rõ hơn về lịch sử hình thành, quá trình trùng tu và giá trị tâm linh của di tích.

Hiện vật

Qua nhiều biến động của lịch sử, ngôi đền còn may mắn bảo lưu được một số di vật có giá trị cao. Hiện di tích còn bảo lưu được long ngai, bài vị, cửa võng, bát bửu, kiệu, hoành phi, câu đối được sơn son thiếp vàng lộng lẫy với nội dung ca ngợi công tích của thần.

Đặc biệt bậc tam cấp vào đền vẫn còn 4 phiến đá tạc hình tượng rồng, với những nét chạm khắc thanh thoát, phóng khoáng. Vây rồng chạm cách điệu hình hoa lá uyển chuyển sống động. Đây là những con rồng đá thời Lê.

Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn 6 bia đá cổ. Theo Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội: Tuyển tập văn khắc Hán Nôm trước đây chùa từng lưu giữ tổng cộng 14 tấm bia đá bao gồm:
– Hậu thần bi ký, dựng năm Minh Mệnh 15 (1834).
– Hậu kỵ bi ký, dựng năm Minh Mệnh 15 (1834).
– Hậu thần bi ký, dựng năm Minh Mệnh 15 (1834).
– Hậu kỵ bi ký, dựng năm Thiệu Trị 4 (1844).
– Hậu thần bi ký, dựng năm Tự Đức 4 (1851).
– Ký kỵ bi ký, dựng năm Tự Đức 13 (1860).
– Ký kỵ bi ký, dựng năm Tự Đức 21 (1868).
– Hậu thần bi ký, dựng năm Tự Đức 29 (1876).
– Ký kỵ hậu bi ký, dựng năm Tự Đức 32 (1879).
– Ký kỵ bi ký, dựng năm Tự Đức 32 (1879).
– Ký kỵ bi ký, dựng năm Thành Thái 13 (1901).
– Ký kỵ bi ký, dựng năm Thành Thái 15 (1903).
– Hậu thần bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 9 (1748).
– Hậu thần bi ký, dựng năm Cảnh Hưng 9 (1748).

Lễ Hội

Hội lớn tại đền được tổ chức lần cuối cùng vào khoảng năm 1924, với sự tham gia của mười ba làng – trại trong khu vực. Nghi thức rước kiệu diễn ra long trọng: ngày mồng 10 tháng Hai, đoàn rước kiệu từ Thụy Khuê về Thủ Lệ; ngày 11 tháng Hai, rước kiệu từ Thủ Lệ sang Hào Nam – nơi Thụy Khuê và Hào Nam kết nghĩa thâm tình. Làng Thủ Lệ xưa giữ lệ thờ cúng, gồm ba giáp là giáp Bắc, giáp Nam và giáp Đông. Đại hội được tổ chức định kỳ năm năm một lần, trong đó Thủ Lệ đảm nhiệm vai trò chủ tế, còn Vạn Phúc đọc chúc văn. Ngoài ra, lệ hội hằng năm có sự hoán đổi: Vạn Phúc giữ vai trò chủ tế, trong khi Thủ Lệ đọc chúc văn. Vào ngày chính hội, bài vị thành hoàng được rước từ đình hàng tổng Vạn Phúc về đền Thủ Lệ. Đặc biệt, kiệu bát cống do trai đinh khiêng qua nhiều quả đồi; để giữ thăng bằng, các đô tùy vừa khiêng vừa bò, có người đi kèm giữ nhịp. Địa điểm này hiện là dốc núi Bò gần Đại sứ quán Thụy Điển. Mỗi kỳ đại hội, vùng Tây trấn Thăng Long trở nên rộn rã, sắc vàng rực rỡ của hoa hoàng anh hòa cùng sắc vàng óng của kiệu thánh, mũ áo, cờ lọng, tạo nên khung cảnh lễ hội lộng lẫy. Không chỉ thập tam trại mà nhiều đoàn từ các tỉnh lân cận cũng về tham dự, như Bồng Lai, Chí Trung, Tăng Non, Đình Vĩ (Hà Tây), Đình Bảng (Bắc Ninh), Thọ Vực (Hưng Yên)… Đám rước được tổ chức quy mô: cờ quạt dẫn đầu, tiếp đến là chiêng trống, phường bát âm, đội sênh tiền; cô gái múa bông duyên dáng chạy quanh kiệu; kiệu bát cống rước sắc vua phong với lọng che; kiệu long đình mang bát nhang, hương khói nghi ngút, mâm ngũ quả rực rỡ. Tiếng tù và, chuông khánh, chiêng trống vang vọng, cùng bước chân quan tế, các bậc kỳ lão và đội phụ nữ áo quần rực rỡ nối tiếp sau đoàn rước. Dưới hồ, thuyền rồng uốn lượn, tiếng trống thùng thình dội vang mặt nước. Đám rước chỉ di chuyển quãng đường khoảng 300 mét, từ cổng đền vào nội tự, song mất đến hai giờ mới hoàn tất, thể hiện sự trang nghiêm.

Sau phần tế lễ và rước kiệu, lễ hội kéo dài ba ngày với nhiều sinh hoạt văn hóa đặc sắc: ngâm thơ, triển lãm thư pháp chữ Hán, hát quan họ, đấu cờ người… Du khách dự hội, dâng hương, tham quan đền đều có cảm giác như trở về quá khứ ngàn năm, giữa mảnh đất linh thiêng còn lưu giữ dấu tích cổ kính: gò, ao, hồ, tam quan với con đường lát gạch Bát Tràng, hàng muỗm xanh rợp bóng và cây si cổ thụ rễ buông chạm đất, nổi bật giữa khung cảnh đô thị hiện đại.

Xếp hạng

Đền đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích lịch sử, thắng cảnh năm 1962.

Tham khảo

  1. Đại Việt sử ký toàn thư (1993), Bản Kỷ, Quyển II, Ebook.
  2. Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Văn Nguyên (chủ biên), Địa chí Thăng Long – Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm – phần Thăng Long cổ tích khảo, Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Nhà xuất bản Thế Giới.
  3. Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
  4. Lưu Minh Trị, (2010), Hà Nội – Danh thắng và di tích (Tập 1), Nxb Hà Nội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)