Hội Làng Đông Dư (Gia Lâm, Hà Nội)

Hội Làng Đông Dư (Gia Lâm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Thời gian

Mồng 7 – 13 tháng Hai. Chính hội: 8 tháng Hai

Địa điểm

  • Xã Đông Dư – huyện Gia Lâm

ông Dư là một xã của huyện Gia Lâm – Hà Nội; bắc giáp xã Cự Khối, nam giáp xã Bát Tràng, đông giáp xã Trâu Quỳ, tây giáp sông Hồng. Trước năm 1945 nguyên là đất các xã Đông Dư Thượng, Đông Dư Hạ thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Sau năm 1945 được ghép thêm một ấp của đồn điền Marty vào thành thôn Thuận Phúc. Năm 1961 nhập vào Hà Nội có tên gọi là xã Thừa Thiên, năm 1965 lại lấy lại tên cũ là Đông Dư. Thời xa xưa còn gọi là Gỏi.

Đây là vùng đất bãi bồi của phù sa sông Hồng nên từ lâu đời đã có nghề trồng rau rất phát triển, sau này phát triển thêm các loại cây trái khác như táo, ối, doi… làm cho cảnh quan xóm làng thêm đẹp, thêm xanh.

Đến Đông Dư có thể theo đê sông Hồng từ phía bắc cầu Chương Dương xuôi về Bát Tràng chừng bảy cây số. Nơi đây là quê hương cụ Nguyễn Huy Trinh và Nguyễn Huy Chiểu “phụ tử đồng khoa”, cụ Trinh đỗ khoa Đinh Mão (1807) làm quan tả tham trì bộ Hình, là ông ngoại của quan hoàng giáp Nguyễn Tư Giản (1823 – 1890). Nguyễn Tư Giản quê ở Du Lâm huyện Đông Ngàn nhưng lúc nhỏ ở với ông ngoại. Khi đỗ đạt giữ nhiều trọng trách ở triều Nguyễn như Hàn lâm viện thị giảng học sĩ, tham biện Nội các sự vụ… Ông vẫn nhớ sâu sắc cái làng Đông Dư, nơi có chùa Phổ Quang được kiến tạo từ thời Lê, mà ông thường ra chơi đá cầu, cưỡi ngựa tre ở sân chùa. Kỷ niệm thời ấu thơ ấy, ông ghi trong bài Đề Phổ Quang tự như sau:

Chung lâu cổ các trúc hồ tân,
Tổng quát hoan du tích dĩ trần.
Nhị thập dư niên trùng phỏng cựu,
Bích ba phương thảo bất thăng xuân.

Dịch:

Lầu chuông gác trống vẫn trơ,
Bóng người em nhỏ chơi đùa nào đâu?
Cỏ thơm sông biếc dãi dầu,
Hai mươi năm lẻ biệt nhau lại về.

Ngôi chùa Phổ Quang ấy trải bao biến thiên lịch sử vẫn tồn tại, nay đang được tôn tạo lại, gác chuông không còn nhưng quả chuông đồng đúc năm Tự Đức thứ 34 (1881) vẫn được nhân dân giữ gìn cùng với các pho tượng Phật và cổ vật khác. Chùa nằm kề đình ở ngay đầu làng Đông Dư Hạ. Đình bị tàn phá trong hai cuộc chiến chống Pháp và Mỹ nay chỉ còn trơ lại nền cũ và giếng hình bán nguyệt khá thơ mộng. Đình thôn Thượng cũng điêu tàn như vậy, bởi chưa có nơi nào trên đất Gia Lâm ngày ấy lại có nhiều đồn bốt đóng dày như vậy (bốn bốt Tây, bốt bảo an). Dân làng phải phiêu bạt đi nhiều nơi; thế mà các cụ còn giữ được 32 đạo sắc phong cho bốn vị thành hoàng của làng. Trong số đó sắc thời Lê nhiều nhất (13) sớm nhất vào năm 1730. Sắc quý hiếm là thời Tây Sơn cũng có đến bảy chiếc, số sắc còn lại là của thời Nguyễn qua năm triều vua, muộn nhất là năm 1917. Sắc phong cho các vị thành hoàng: Bạch Đa – vị tướng đã từng có công lao giúp Đinh Bộ Lĩnh thống nhất sơn hà, dẹp được 12 sứ quân cát cứ các vùng sau khi Ngô Quyền mất (944) và Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, chuẩn bị cuộc kháng chiến chống Tống vào năm 981.

Nhân vật thờ tự

Cao Sơn là một trong ba vị Quốc chúa thượng đẳng thần, em con ông chú của thánh Tản Viên, đã cùng thánh Tản và Quý Minh gắn bó máu thịt với nhau, cùng cai quản vùng núi Ba Vì, dạy dân cách làm ăn. Cũng như thánh Tản và Quý Minh (em ruột), ngài được nhiều nơi tôn thờ.

Linh Lang đại vương vốn là vị hoàng tử nhà Lý, con vua Lý Thánh Tông và bà Hạo nương cung phi sinh ra. Ngài có công giúp vua dẹp giặc Trinh Vĩnh, khi ngài hóa, được 269 nơi thờ. Đó là một vị thánh có nhiều huyền tích lung linh nhưng đượm chất nhân văn Việt Nam. Từ khi sinh đến khi dẹp giặc và hóa thân phảng phất một cái gì giống thánh Gióng.

Còn một vị thánh nữa chỉ có duệ hiệu là Đức Khương Trí, kiêm Đông Tây Nam Bắc quản đô đại thành hoàng; chưa tường sự tích.

Lễ hội

Hàng năm cứ đến mồng 7 tháng Hai là mở lễ hội. Lễ và hội thường đi kèm nhau. Ngày nào cũng có lễ thánh và sau đó là hội, dường như không có lễ thì không thành hội và không có hội thì lễ sẽ tẻ nhạt. Phần lễ thường làm vào sáng và ngắn gọn hơn, còn phần hội thì diễn ra cả ngày lẫn đêm, thường suốt tới sáng. Lễ hội xưa đâu chỉ có một ngày mà kéo dài hàng tuần lễ, cho đến ngày 13 tháng Hai mới giã đám. Nay thì đơn giản hơn, chỉ tiến hành từ một đến hai ngày. Ông già bà cả của Đông Dư vẫn nhớ hội làng ngày xưa rành rọt cụ thể, mặc dầu lần cuối cùng tổ chức quy mô là năm 1940.

Ngày 7 tháng Hai: lễ rước nước của hai thôn để về “mộc dục” (tắm) cho thánh. Từ mờ sáng tinh sương, xóm làng như bừng dậy, đâu đâu cũng nhộn nhịp khác thường, làng Thượng cũng như làng Hạ, già trẻ đã ăn vận nghiêm trang, tề tựu đông đủ ở sân đình, sân đền, sân chùa. Dưới sự điều hành của vị chủ đám, người vác cờ, người khiêng kiệu, người khiêng chóe, khiêng trống, chiêng… từ ba điểm khác nhau lên tập kết tại đê; đoàn rước nước của hai thôn nhập làm một theo trật tự trước sau cùng tiến qua bãi, ra sông Cái (sông Hồng) lên thuyền.

Đoàn thuyền gồm sáu chiếc chèo ra giữa dòng sông, tiến hành thủ tục nghi lễ múc nước rồi quay thuyền vào và rước kéo dài cho đến chiều mới xong. Từ mồng 8 tháng Hai cho đến ngày giã đám là 13 tháng Hai sáng nào cũng có tế, mỗi giáp tế một ngày, thôn có sáu giáp tế sáu ngày. Thường lễ chỉ có hương hoa, trầu rượu và xôi gà, nhưng đặc biệt chính hội là ngày 11 tháng Hai thì tế có lợn (gọi là ông Ý). Giáp nào đến phiên luân lưu đã biết từ năm trước, nên đã có sự phân công nuôi lợn, bao giờ cũng dự phòng nên hai hoặc ba nhà cùng nuôi, nếu không may gần ngày vào đám mà lợn bị dịch bệnh là phải có con khác thay thế, trong giáp không có lợn đạt tiêu chuẩn thì cấp tốc tìm mua trong xã. Nuôi “ông Y để tế, thật không đơn giản như nuôi lợn khác, từ chuồng trại đến việc tắm rửa và nhất là việc cho ăn, kén rau bèo cám bã. Lại đến khi mổ cũng khá cầu kỳ, dùng nước sôi thế nào, cạo lông ra sao, lợn mổ xong bày đặt trên mâm thế nào, rắc hoa bưởi xung quanh v.v… Hôm ấy, các giáp khác cũng phải dâng lễ xôi lợn và có thi nhất, nhì, ba. Lợn nhất là phải trên một tạ, thịt hồng tươi, béo (“con lợn có béo thì lòng mới ngon”) theo quan niệm cổ truyền. Xôi phải 20 gánh. Gạo nếp cái trắng thơm không lẫn thóc hay gạo tẻ, vo đãi kỹ, xôi phải dẻo… Tế lễ xong, hạ cỗ cúng xuống ăn uống và chia phần mang về. Quy định như sau: lợn nhất dành cho các vị tiên chỉ cùng chức sắc trong làng; lợn nhì dành cho các cụ từ 55 tuổi trở lên; lợn ba dành cho số người còn lại; lợn bốn chia về cho các giáp. Có vị ở hai ba ngôi thứ nên phần mang về khá nhiều, đã có người được 20 cân thịt và tới 50 cân xôi, về biếu hết nội lẫn ngoại vẫn còn phải đem làm mấy chum tương ăn dần.

Ngày 12 tháng Hai tế bò, nói là tế bò nhưng chỉ là xôi và thủ bò. Từ sau cách mạng đến nay việc cỗ bàn tế lễ như xưa đã bỏ, giản tiện nhiều, không còn là mối lo cho dân như trước nữa.

Sau khi đã tế lễ thành kính, biểu lộ lòng tôn sùng các vị thánh là những bậc tiền bối có công lao với nước với dân, biểu lộ sự tri ân của hậu thế xong, dân làng bước vào phần hội hè. Trong phần này dân làng đã bộc lộ tình cảm nồng thắm, chân thực mà cốt lõi là tinh thần cộng cảm sâu sắc. Dân làng đón phường chèo, phường tuồng có tiếng trong vùng về diễn… Có năm hội làng có hàng chục phường đến xin đám. Các phường cứ diễn những tích hay nhất của phường mình, dân sở tại góp gạo thịt cho mỗi phường ăn. hay thì có thương gọi là “lộc thánh” ban: do vậy mà phường nào cũng trổ hết tài nghệ của phường mình. một cuộc thi lặng lẽ với nhau từ áo quần, mũ mãng cho đẹp, đào kép giỏi, tích diễn hay…

Hội làng còn có đánh đu, trò chơi mà trai gái làng ưa thích. Họ thi nhau đu đôi nam nữ hoặc hai nam. hai nữ. Họ mời nhau đu là có ý muốn làm quen nhau, hay muốn tỏ tình với nhau, cũng có khi là để tranh tài cao thấp. Người đu lẫn người xem đều hào hứng. Chỗ khác có đấu cờ tướng. Loại cờ này xưa kia được nhiều người ca ngợi là thú chơi thanh cao, đua tài đua trí. Song vui hơn, sôi nổi hơn có lẽ ở đám chọi gà – nơi họp mặt của nhiều người nuôi gà, chơi gà. Từ nhiều nơi, mọi người đem gà hay về đá chọi. Đây là thú chơi cuốn hút lớp trung niên Nhưng có lẽ độc đáo nhất ở hội này là đấu võ: đấu kiếm, đấu côn, đấu quyền, múa khiên… mang truyền thống thượng võ. Có khi chỉ là trình diễn nhưng cũng có khi là tỉ thí giật giải. Người dự đấu thường là trai tráng khỏe mạnh, tập luyện có bài bản, đã từng thụ nghiệp với một võ sư. Trước đây, ở Văn Đức (cùng huyện) có một lò võ, ở Mai Động (nay thuộc quận Hai Bà Trưng) cũng có một lò… Trước khi vào đấu hai bên chắp tay xá nhau theo lễ nghi nhà võ; tiếp là múa hoa để gây không khívui nhộn cho người xem, vừa để áp đảo tinh thần đôi phương. Trọng tài điều khiển trận đấu cầm trống, đánh dồn ba tiếng một là thúc giục hai bên, trống đánh đổ hồi là kết thúc. Bên thắng có phần thưởng nhỏ đó là máy bao chè, mấy phong thuốc, mấy thước vải điều… Sau cuộc đấu, các võ sĩ thường dự cơm rượu với nhau, giữ bền tính đồng nghiệp.

Phải chăng thuở sơ khai, người Việt cổ thường tổ chức trong nội bộ công xã những nghi lễ buộc trai trẻ mới vào đời phải một phen trổ tài trước quần chúng, chứng tỏ là đã có tập luyện công phu, xứng đáng được chấp nhận vào tuổi trưởng thành. Dấu xưa ấy còn phần nào thể hiện trong hội làng Đông Dư ngày nay, khác chăng là ở ý nghĩa: khuyến khích tinh thần thượng võ, sự tháo vát nhanh nhẹn, luyện tập thân thể, rèn sức dẻo dai để khi hữu sự đem ra thi thố… Ngoài ra là để mua vui trong ngày hội xuân – xuân của tự nhiên mà cũng là xuân của con người Đông Dư vậy.

Tài liệu trích dẫn

Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (4)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)