Thời gian
7 tháng Giêng và 10 tháng Hai. Chính hội: 7 tháng Giêng
Địa điểm
- Phú Mỹ (xã Mỹ Đình), Kiều Mai (xã Phú Diễn), huyện Từ Liêm
Phú Mỹ (nay thuộc xã Mỹ Đình) xưa có tên là làng Quả Hối, thuộc tổng Phương Canh, huyện Từ Liêm. Đầu thế kỷ XV, khi Lê Nhị khởi nghĩa chống quân Minh từ Thanh Oai, có tạt qua vùng này. Nhân dân làng đã dâng gạo, lợn, rượu để nuôi quân khởi nghĩa. Ghi nhận tấm lòng ấy, vị tướng quân đổi tên làng từ Quả Hối thành Phú Mỹ Trang. Về sau, năm 1956, Phú Mỹ thuộc xã Hòa Bình, đến năm 1965 chuyển sang thuộc xã Mỹ Đình.
Cụm di tích Phú Mỹ bao gồm “cổ miếu linh từ” nằm cạnh chùa Đại An, tương truyền có từ thời Lý. Tương truyền, chính nhà vua khi qua đây đã hạ chiếu phong thần, ban tiền, xác lập địa điểm và cắm hương lập miếu. Ban đầu, miếu thờ ba vị thần, nhưng về sau bài vị được rước về đình Phú Mỹ, trở thành Thành hoàng làng. Miếu xưa vốn rộng rãi, phía trước có nhà tiền tế, tuy nhiên nay đã bị phá bỏ, chỉ còn phần cung thờ phía sau đã được tu sửa lại vào năm 1989.
Di tích chính hiện nay là đình Phú Mỹ, một công trình kiến trúc hoàn chỉnh gồm ba phần: tiền tế – đại đình – hậu cung. Đình được dựng lại vào một ngày tốt mùa hạ năm Ất Sửu (1925), dưới triều vua Khải Định. Tuy nhiên, thực chất đây chỉ là lần dựng lại, bởi theo các di vật và tư liệu hiện còn, đình Phú Mỹ đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước. Hiện đình còn lưu giữ 12 đạo sắc phong, trong đó sớm nhất là hai đạo sắc niên hiệu Cảnh Hưng nguyên niên (1740); các đạo khác thuộc triều Nguyễn như Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Duy Tân và Khải Định.
Từ làng Phú Mỹ, theo đường Xuân Thủy qua Cầu Diễn sẽ đến làng Kiều Mai (xã Phú Diễn), vốn là Mai Trang trại, nằm ven sông Nhuệ. Do gần một khu rừng có nhiều cây mai nên gọi là Kiều Mai. Trước năm 1945, Kiều Mai cùng sáu làng khác thuộc tổng Cổ Nhuế, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Sau đó chuyển về xã Từ Liêm, năm 1978 thuộc xã Phú Minh, đến năm 1982 trở thành xã Phú Diễn.
Đình Kiều Mai là công trình kiến trúc độc đáo, có cách thờ theo trục dọc, tương tự đình Yên Phụ (quận Ba Đình), rất hiếm gặp ở Hà Nội. Tòa đại đình cao 2m, dẫn lên bằng tam cấp là những tảng đá nguyên khối, hai đầu chạm hình hổ phù: miệng ngậm, mắt lồi, đỉnh đầu có bốn đường vân xoáy, bảy búi tóc, đuôi xoắn tít. Bậc đá này có niên đại từ thế kỷ XVIII. Bên trong đình gồm năm gian hai chái, cột gỗ kê trên đá xanh mịn. Đầu hồi trang trí hình mặt nguyệt, hổ phù, nghê múa, rồng ổ. Cốn có chạm tứ linh, rồng cuốn thủy, long mã chở tiên. Trong cung có khám thờ, bài vị Thành hoàng và 10 đạo sắc phong, từ niên hiệu Quang Trung 1792 đến Cảnh Thịnh 1802, sắc phong thần hiệu:
Hộ quốc tý dân, anh minh hiển tước, thượng đẳng phúc thần.
Nhân vật thờ tự
- Lý Nam Đế, Lý Phật Tử, ả Lã nàng Đê, Bạch Hạc tam giang
Theo truyền tích, thời vua Hùng thứ 18, ở Kinh Môn (Hải Dương) có người tên Đào Bột, nổi tiếng chí khí. Ông thi đỗ, được làm huyện phó Hoan Châu, rồi thăng làm bộ trưởng bộ Hải Dương. Ông và vợ là bà Nguyễn Thị Hương sinh năm người con: Đào Cư, Đào Hồng, Đào Trường, Đào Khanh, Đào Lân. Khi họ 16–20 tuổi thì cha mẹ qua đời. Đất nước có loạn, cả năm anh em gia nhập quân đội theo Hùng Duệ Vương. Sau một thời gian, chỉ còn hai người sống sót là Đào Trường và Đào Khanh. Hai ông lập nhiều chiến công, đặc biệt trong trận dẹp loạn ở Hồng Chân. Sau đó, Đào Trường về quê, giao lại binh quyền cho em trai, rồi mất tại Tôn Thất Trang.
Lễ hội kết chạ Phú Mỹ – Kiều Mai được truyền tụng bằng câu ca:
Tháng Giêng em đến, tháng Hai chị về.
Tại chùa Lưu Bái (Kiều Mai) hiện còn lưu bản giao ước năm Duy Tân thứ 5 (1911), quy định: ngày 7 tháng Giêng, làng Kiều Mai rước xuống Phú Mỹ; ngày 20 tháng Hai, làng Phú Mỹ rước lại sang Kiều Mai. Truyền tích cho biết: Nguyễn Viên, người Châu Ái (Thanh Hóa), làm quan nhỏ thời Hán, đã liên kết các tù trưởng chống lại Tô Định. Sau khi mất, vợ ông ở lại nuôi hai con là Ả Lã nàng Đê và Quốc Công. Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, hai chị em chiêu mộ dân binh dọc sông Nhuệ về tham gia. Ả Lã được phong làm Phương Anh phu nhân, em trai là Quốc Công, cùng lập công lớn trong việc giải phóng đất nước. Sau này, cả hai hy sinh khi chống quân Mã Viện, và được lập miếu thờ tại gần mười làng ven sông Đáy, sông Nhuệ.
Lễ hội
Lễ hội Phú Mỹ – Kiều Mai có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như cờ bỏi, bắt vịt, phản ánh đời sống nông nghiệp ven sông và sinh hoạt cộng đồng gắn bó.
Bên cạnh đó, hội kết chạ còn chứa đựng phong tục độc đáo liên quan đến truyền thống ca trù. Ở thôn Phú Mỹ có nhà thờ “Ca Công Sứ”, với sắc phong nhà vua ban tặng:
Nam quốc danh ca Đào Thị Mẫu – Đông phương hài hước Tế Tinh quân.
Từ thế kỷ XVI, các thiếu nữ họ Vũ trong làng nổi tiếng hát hay, được tuyển vào cung. Có người sau trở thành hoàng hậu. Khi về già được ban lộc, lập đền thờ. Văn bia ở đình Phú Mỹ ghi rõ: nếu hội có mười ván xôi, mười con gà, thì nhà thờ ca công được một ván xôi, một con gà; hội có một con bò, được một cổ bò; có một con lợn, thì nhận cổ lợn (nọng).
Họ Vũ thường chọn bé gái 10 tuổi có sắc, có giọng, dạy hát trong 5 năm, rồi thi tuyển hát ở các hội khác vùng Từ Liêm. Trong buổi hát ca trù trước cửa đình, người quản giáp đánh trống chầu, hát mở màn:
Gió thuận mưa hòa
Biển lặng sông trong
Đã dẹp xong
Lũ kiến đàn ong
Nay vỗ cử tôi xin giáo trống!
Tiếp đó, các đào nương hát múa dâng hoa lên Thành hoàng. Tinh thần dân tộc và ý chí chống ngoại xâm thể hiện mạnh mẽ qua tiếng trống, tiếng sênh, nhịp phách, làm không khí hội làng thêm náo nức.
Làng Kiều Mai còn giữ được tục thi xôi cây giữa hai giáp Đông và Đoài. Hội cuối cùng tổ chức năm 1932. Vào tháng Chín, làng cử sáu gia đình có con trai sơ sinh nhận phần ruộng Dân (ruộng cấy nếp vàng). Đến hội, mỗi gia đình thổi xôi trắng, ép thành cây, đội ra đình dự thi. Mâm xôi có bốn vì chân đỡ, cây xôi nào cao nhất thì thắng cuộc. Giải là một bánh pháo hoặc vuông vải điều làm khước. Giá trị vật chất nhỏ, nhưng giáo nào thắng thì được trống chiêng tưng bừng. Kết thúc, các cụ già thụ lộc trong đình: xôi trắng, thịt thủ, đĩa muối. Sau đó chia đều cho cả làng, từ trẻ ẵm ngửa đến người già, mỗi người một nắm xôi, một miếng thịt gói trong lá chuối.
Hội kết chạ Phú Mỹ – Kiều Mai là một nét đẹp văn hóa vùng Thăng Long – Hà Nội, nơi những làng cùng cánh đồng, chung bờ sông gắn kết qua lễ hội, tăng thêm tình cảm thương yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng tâm thức cộng đồng về một tình nghĩa anh em thiêng liêng và cao quý.
Nguồn tham khảo
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001



