Ni sư Diệu Tịnh (1910 -1942)

Ni sư Diệu Tịnh (1910 -1942)

Thông tin cơ bản

Thân thế và cơ duyên tu học

Ni sư tên thật là Phạm Đại Thọ, sinh năm 1910, người Gò Công, dòng dõi Phạm Ðăng. Năm 15 tuổi, Ni sư vào chùa Tân Lâm ở Tân Sơn Nhất cầu pháp với Hòa thượng Như Hiển Chí Thiền, pháp danh Hồng Thọ, hiệu Diệu Tịnh. Năm 1930, Ni sư thọ giới Tỳ kheo ni tại trường kỳ núi Ðiện Bà, do Hòa thượng Như Nhãn Từ Phong chùa Giác Hải làm Ðường đầu.

Những đóng góp cho Phật giáo

Thời gian đầu sau khi thọ giới, Ni sư dành nhiều thời gian để học và tự dịch kinh Vu Lan, Phổ Môn, Pháp Bảo Ðàn, cho in ấn tống. Năm 1933, Ni sư viết bài đăng tạp chí Từ Bi Âm và tất cả các bài đăng về sau đều có mục đích kêu gọi chấn hưng Ni phái. Cũng năm này, trường hương chùa Giác Hoàng (Bà Ðiểm) tổ chức cho hai phái Tăng Ni, Ni sư được mời làm Chánh na, thủ lãnh Ni và sau đó được công nhận là giáo thọ Ni đầu tiên của Gia Ðịnh.

Năm 1934, Ni sư trụ trì chùa Thiên Bửu (Búng), đầu tiên mở lớp Quốc ngữ và chữ Nho cho trẻ em, sau đó mở lớp gia giáo ba tháng, mời thầy Khánh Nguyên dạy, Ni sư cũng dạy Ni chúng được vài mươi người.

Cuối năm 1934, Ni sư mời Ni trưởng Diệu Tấn (Ni trưởng Kim Sơn), Ni trưởng Diệu Tánh (Sư trưởng Huê Lâm), Sư phó Diệu Thuận cùng xây cất chùa ni Từ Hóa tại làng Tân Sơn Nhì Gia Ðịnh. Năm sau, chùa được dời sang làng Tân Sơn Nhất, đổi hiệu là Hải Ấn Ni tự, đây là chùa Ni đầu tiên vùng Gia Ðịnh.

Cuối tháng 7 năm này, Ni sư ra Bắc tham cứu tạng Luật. Trên đường chu du, Ni sư ghé Bình Ðịnh thuyết pháp tại chùa Liên Tôn và chùa Thiên Hưng, qua Ðà Nẵng viếng Hội Phật học Ðà Thành, đến Huế gặp cụ Lê Ðình Thám và Ni sư Diệu Không (lúc chưa xuất gia). Ðến Hà Nội, chi nhánh Hội Phật học Bắc Việt mời Ni sư thuyết pháp tại chùa Phó Hưng Yên, Ni sư học Luật tại chùa Quán Sứ.

Học xong, Ni sư về Nam ghé Huế giảng dạy kinh “Phạm Võng lược sớ” cho Ðức Từ Cung trong hai tháng. Năm 1939, triều đình Huế ban biển vàng cho Hải Ấn Ni tự và ban sắc tứ cho Bình Quang Ni tự, Phật tử Hưng Yên Bắc Việt tặng chùa Hải Ấn đôi liễn và bức hoành.

Năm 1940, Ni sư làm giáo thọ Ni tại trường Cô Ba Xàng – Sa Ðéc (tức chùa Giác Linh). Ðược ba tháng, chủ chùa giải tán lớp học, Ni sư vận động đưa học sinh sang chùa Vạn An, được HT. Vạn An và chư bổn đạo ủng hộ, Ni sư dạy tiếp trọn năm học. Thời gian này, Hội Phật học Cao Miên mời Ni sư thuyết pháp tại Nam Vang.

Năm 1941, bà Bang Biện mời Ni sư khai trường Ni tại chùa Linh Phước (Oai Khoa – Sa Ðéc). Nhiệt tâm của Ni sư trong buổi đầu, sức nữ giới một mình đảm đương trường lớp, ngày giảng dạy tiếp bổn đạo để vận động ủng hộ, đêm xem kinh thao thức việc hoằng truyền Ni chúng. Ba trường Ni trong hai năm, lao tâm lao lực nhiều nên Ni sư mang bệnh phổi, phải về Hải Ấn tịnh dưỡng.

Ni sư là một người điển hình thể hiện ý chí sắt đá, trung kiên, ai gặp cũng phải thán phục. Ý chí ấy được thể hiện qua lời tự thuật của Người:
Sống, ta sống một mình trơ trọi,
Cùng hoa Đàm đuốc Tuệ
gọi amie (bạn)

Nổi bật nhất trong sự nghiệp của Ni sư là công việc mở trường gia giáo Ni, tham gia mở giới đàn Ni, vận động khắp nơi ủng hộ Ni giới tu học. Đây là việc làm hết sức cấp thiết đối với tình hình xã hội thời bấy giờ. Ni sư đã vượt qua tất cả những khó khăn tưởng như không thể vượt qua được để tiếp tục duy trì sự nghiệp giáo dục Ni chúng, nhằm tạo dựng đội ngũ Ni tài cho thế hệ mai sau. Ước muốn xây dựng cho Ni chúng một đoàn thể riêng, Ni sư đã dày công tạo dựng nền tảng với một ước mong cao cả:
Bao giờ Ni chúng hiệp hòa
Đồng tâm đồng chí một nhà đởm đương.

Tuy mọi hoạt động của Ni sư gặp nhiều chướng duyên hơn là thuận lợi, nhưng những nỗ lực phi thường của người con gái miền Tây Nam Bộ này đã làm chùn chân những kẻ ngáng đường.

Điểm nổi bật trong mọi hoạt động xã hội của Ni sư là quá trình tham gia các diễn đàn trên báo chí. Ni sư viết báo, làm thơ nhằm đánh thức ý thức tự lực, tự cường của Ni giới nói riêng và phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ nói chung. Hô hào họ bước ra khỏi bếp và người nữ cũng có thể tham gia gánh vác những công việc của xã hội như nam giới. Lời văn thống thiết, mạnh mẽ của Ni sư đã có tác động mạnh mẽ đến nhận thức của tất cả mọi người kể cả nam giới. Bên cạnh Phong trào Chấn hưng Phật giáo của giới Tăng sĩ và các vị nam cư sĩ, Ni sư cũng nỗ lực vận động kêu gọi Ni lưu trùng hưng Phật giáo nước nhà.

Thứ nữa, Ni sư đã tham gia hoạt động hoằng pháp mạnh mẽ nhất. Ni sư có thể được xem là vị tổ sư của Ni giới trong lĩnh vực này. Sự nghiệp hoằng pháp của Ni sư hết sức cao cả. Người đã đi dọc đất nước để thuyết pháp trong tình tình khó khăn của đất nước và một mình dám đương đầu với tất cả mọi sự chống đối, chấp nhận tất cả các thiệt thòi, như bôi nhọ danh dự, uy tín,… Chính sự nhẫn nhục và ý chí sắt đá của Ni sư đã làm cho mọi hoạt động của Ni giới về sau có nhiều thuận lợi hơn.

Viên tịch

Ni sư viên tịch tại Hải Ấn Ni tự ngày 1 tháng 7 ÂL, 33 tuổi đời, 12 tuổi đạo, 19 năm trong đạo. Tháp được phụng thờ tại chùa Hải Ấn hiện nay (Bà Quẹo – Bình Tân).

Ngưỡng mộ trí tuệ và nghị lực phi thường của một vị Ni trẻ tuổi, tạp chí Từ Bi Âm có bài thơ tặng, đăng trên số báo 73, và bài thơ đã được lưu truyền rộng rãi.

Tặng Diệu Tịnh Sư cô
Hành vi ngôn luận hẳn siêu quần
Vì cớ sao mà hiện nữ thân
Trăm kiếp rèn nên gương trí tuệ
Một tay tháo sổ cũi phong trần
Dắt thêm đạo lữ năm ba lớp
Ðánh vỡ tà sư sáu bảy phần
Nào kẻ mê lưu xin ngó thử
Tu mi e cũng ớn hồng trần.

Ni sư là người có tư tưởng theo người đương thời, là khá táo bạo và quyết liệt. Cuộc đời tu tập và hành đạo của Ni sư, như thế, rất ngắn ngủi, nhưng sự nghiệp mà Ni sư tạo dựng không hề nhỏ. Nói cách khác, Ni sư đã nỗ lực vượt bậc để vượt qua tất cả mọi chướng ngại mà xã hội đương thời giăng ra để thử thách một vị chân tu đầy nhiệt huyết. Ni sư là hình ảnh tuyệt vời của một vị Ni vượt khó.

Nguồn: Quảng Tuấn, Giác Ngộ Online, Ba vị danh Ni tiêu biểu trong tiến trình phát triển Ni giới Nam Bộ.

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Ni trưởng diệu tịnh

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)