Linh Quang tự bi ký/靈光寺碑記

Linh Quang tự bi ký/靈光寺碑記

Thông tin cơ bản

Linh Quang tự bi ký

靈光寺碑記

– Bia tại chùa Bà Đá, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội

– Bia 1 mặt 

– Kích thước: có chiều cao cả đỉnh bia là 1,44m, chiều ngang là 86cm

– Trang trí: Tấm bia đá có hình mái vòm, viền gờ nổi, trán bia trang trí mặt trời, xung quanh là mây lửa, diềm bia trang trí dây lá, bên trong bia được khắc các dòng chữ Hán, tuy nhiên, bia bị mờ và xước bề mặt khá rõ. 

– Niên đại: Tự Đức thứ 4 (1851)

– Chủ đề: Lịch sử, nhân vật, làng xã 

Nội dung tóm lược: 

Bia đá có nội dung ghi nhận công đức của ông Lai Văn Trị và vợ là Lai Thị Đội, người thôn Hương Nghĩa, đã tự nguyện bỏ tiền của tu sửa chùa khi chùa bị hư hại nặng từ sau thời Tây Sơn. Đồng thời bia cũng liệt kê thân nhân của gia đình để truy tiến và quy định nghi lễ dâng hương vào các ngày lễ sóc vọng hằng năm.

Dịch nghĩa

Bia đá vì lý do gì mà được làm đây! Đó là vì ghi chép về dấu tích sự việc đó vậy. Bởi vậy, cổ nhân có công đối với việc gì, có đức đối với việc gì thì ắt là được khắc vào đá để tạo thành cái gọi là bia. Có lẽ nào chỉ là làm cho đẹp cảnh quan thôi đâu! Mà còn là để ghi chép mãi mãi công ấy đức ấy mà thôi vậy.

Kính thay!

Chùa Linh Quang thôn Tự Tháp, tổng Thuận Mỹ, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.

Từ xưa đã là chốn danh lam, là nền phúc cho người đời. Nhưng cũng cảm thương thay, từ cuối thời Tây Sơn, dần dần vì cảnh Phật pháp suy vi, đến một bức tượng nhỏ cũng không còn, nền móng xưa chỉ được trông thấy từ trong lời viết của văn bia vốn có.

Sao có thể làm bài văn ký để kể lại, khi ấy có người thôn Hương Nghĩa, tổng Phúc Lâm, huyện phủ này là Lai Văn Trị và vợ là Lai Thị Đội tự trích xuất tài sản riêng của nhà, một lòng trợ giúp công đức từ đầu đến cuối, kiêm có hằng sản lại có hằng tâm. Mừng nay chùa cột lại được mới, luôn nhớ sự hộ trì từ bên ngoài đối với cửa Phật, ấy là công của người xưa đó vậy. Tuy là chưa thể sánh ngang với việc sáng lập Kỳ hoàn của Trưởng giả Cấp Cô Độc[1], nhưng công lao ấy đối với ngôi chùa này, thì hẳn là cũng có thể sánh cùng hàng tiếng thơm với các bậc thượng thiện nhân vậy. Tôi [Phổ] cho rằng: có đức này, thì ắt có phúc này. Ngài mỗi khi suy vọng đến các bậc gia tiên nội ngoại, ấy cũng là tôi báo đức nhớ công, mà ngài đối với việc thận chung truy viễn[2] cả hai đều vẹn toàn vậy.

Nay đại ước rằng: Từ nay về sau, phàm là hai kỳ mùng một và mười rằm, các lễ tiết bốn mùa, sau khi dâng cúng Tam bảo, thì ắt là tiếp đến trước tòa bia, giữ hương hỏa nơi ấy mãi thơm, khiến cho tiếng ấy không phai mờ, hưởng lễ có nơi tại vị, mong trên soi sét cho. Vì vậy làm bài ký.

Những người phát tư tài trợ giúp cho việc tu sửa bản tự, liệt kê đầy đủ, tổng cộng ba trăm hai mươn quan tiền.

Cung kính truy tiến

Ông nội Nguyễn Công Chính,  bà nội Lê Thị Hậu, ông Lê Phúc Thắng, bà (nội hoặc ngoại) Nguyễn Thị Mỹ. Hiển khảo Nguyễn Công Trực; bà Lê Thị Đa.

Ông ngoại có họ Lê, tự Thuần Chính, bà (ngoại) có họ Nguyễn, hiệu Diệu Đạo, ông Phạm Văn Vương, bà Đào Thị Hằng hiệu Thục Ý, hiển khảo có họ Lai, tự Phúc Bàng, cụ bà có họ Đào, hiệu Thiện Luyện.

Lai Văn Trị, tự Đăng Bình, thụy Chân Như giỗ ngày 26 tháng 9.

Cụ có họ Lai, húy Trù/ Chùa, tự Khắc Khoan, hiệu Phúc Nhân.

Lai Văn Giai, hiệu Thuần Chân.

Lai Thị Đổ hiệu Diệu Quang sinh năm Ất Mão; Nguyễn Thị Lương hiệu Từ Thuận, Nguyễn Thị Sáu hiệu Từ Quảng.

Ngày lành tháng 8 năm Tân Hợi- năm  thứ 4 niên hiệu Tự Đức (1851).

Tăng chùa Giác Vượng cùng với chủ nhân Lai Văn Trị cùng lập bi ký.

[1] Kỳ hoàn: Tức Tinh xá Kỳ hoàn. Do trưởng giả Cấp Cô Độc bỏ vàng dát và mua toàn bộ đất để làm tinh xá cúng Phật. (cây trong vườn là của Lai tử Kỳ Đà).

[2] Thận chung truy viễn: Thận trọng lúc tang lễ và truy nhớ các đời tổ xa trước, ý nói việc nhớ ơn và kính lễ tổ tiên.

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)