Thân thế
Hòa thượng thiền sư Indatthero, thế danh Hiên Sép, sinh năm 1915 dương lịch, Phật lịch 2450, tại ấp An Lợi (Sóc Tà Don), xã Định An, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Hòa thượng sinh trưởng trong một gia đình nông dân phúc hậu, nhân từ, kính tin Tam bảo, thân phụ là cụ ông Danh Hiên, thân mẫu là cụ bà Thị Mao.
Thời kỳ xuất gia học đạo
Hòa thượng thiền sư Indatthero Hiên Sép có 5 anh em, Hòa Thượng là người con thứ 5, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, cho đến năm 13 tuổi mới được học song ngữ ở chùa Sóc Ven Cũ cho tới hết lớp 3.
Năm 1931, khi vừa tròn 16 tuổi ngài xuất gia Sadi với Hòa thượng Chốt Tê.
Năm 1935, qua thời gian dài ngài chuyên cần trau dồi pháp học lẫn pháp hành, dưới sự hướng dẫn của Hòa thượng Prum Ma Chốt, ngài đăng đàn thọ giới tỳ khưu tại chùa Thnol Chum Thủy Liễu, do Đại lão Hòa thượng Lý Phen làm thầy tế độ, thầy Yết Ma hữu là Thượng tọa Prum Ma Chốt, thầy Yết Ma tả là thượng Tọa Krum Nhum và 21 vị tôn chứng sư. Đại lão Hòa thượng Lý Phen ban pháp danh Indatthero.
Đến năm 1936, ngài luôn nghiêm trì giới luật, thuộc những bộ kinh tùng thông dụng, đạt trình độ cơ bản Phật học và là một pháp sư trẻ lỗi lạc.
Cuối năm 1936, ngài Indatthero Hiên Sép từ giã Hòa thượng trụ trì, huynh đệ đồng môn, đồng bào phật tử bốn tự quyết chí theo học trường Trung cấp Phật học Pali tại chùa U-na-lôm Campuchia.
Năm 1942, sau 6 năm chuyên tâm tu học cả Pali ngữ và thiền học, với kết quả tốt nghiệp Trung cấp Pali đạt loại giỏi và đạt trình độ Thiền sư bậc III, bậc cao nhất của môn pháp hành.
Khi học trường Trung cấp Pali ngài luôn yêu thích tiếng Pháp nên khi về nước đến năm 1943, ngài liên tục theo học lớp Pran Cổ Khmer tại chùa Ô Đông Men Chây Phật Lớn (thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang).
Cuối năm 1943, Hòa thượng tốt nghiệp tiểu học Pháp ngữ và bằng sư phạm tiểu học song ngữ Pháp–Khmer.
Thời kỳ hành đạo
Năm 1943, Hòa thượng Hiên Sép được phân công làm giáo viên dạy học song ngữ tại trường chùa cũ Sóc Ven mới.
Năm 1945, Ngài được chư tăng và phật tử suy cử chức vị Phó trụ trì.
Năm 1949, Ngài bắt đầu tham gia công tác cách mạng, tuy là một nhà tu hành, nhưng đứng trước cảnh nhà tan cửa nát do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ gây ra, trong hoàn cảnh nước nhà bị đô hộ, người dân bị làm nô lệ, sống cảnh lầm than, đáp lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hòa thượng cùng toàn thể chư tăng phật tử và nhân dân trong xã Định An nhất tâm đứng dậy kêu gọi sức người, sức của cho cuộc kháng chiến cứu quốc. Hòa thượng được ông Son Phen, ông Si Phon, ông Chính Nhung là cán bộ cách mạng giao nhiệm vụ chống thu thuế nặng, động viên đồng bào phật tử đấu tranh trực diện với kẻ thù và quyên góp tuần lễ vàng để nuôi bộ đội suốt 9 năm kháng chiến kết thúc thắng lợi.
Năm 1959, Hòa thượng Hiên Sép được Ban quản trị chùa và đồng bào phật tử Khmer – Kinh suy cử giữ chức vị trụ trì, Ngài lên kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất chùa chiền được phật tử ủng hộ, từ không có cơ sở vật chất nay chùa chiền đã cơ bản hoàn thiện khang trang.
Năm 1963, Ngài Indatthero Danh Sép được suy tôn lên hàng giáo phẩm Hòa thượng dưới sự chứng minh tối cao của Trưởng lão Hòa thượng Indathera Nam Huân, phó Tăng thống.
Trong thời gian từ 1959–1975, đế quốc Mỹ thay chân thực dân Pháp chia cắt đất nước, miền nam trở thành biển máu, sống trong cảnh đau thương chết chóc, theo lời Bác Hồ dạy “Không có gì quý hơn Độc lập – Tự do”. Hòa Thượng động viên đồng bào phật tử và nhân dân xã Định An đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, nuôi chứa cán bộ, trực diện đấu tranh chống bắt lính quân dịch, chống càng quét, lấn chiếm triệt phá lúa, hoa màu, cây cối, đốt nhà, giết người, cướp của, đòi bồi hoàn thiệt hại chùa chiền, nhiều cán bộ và 14 sư sãi chùa Sóc Ven mới hoàn tục ra tham gia kháng chiến.
Ngoài ra ngài còn vận động biểu tình chống Mỹ – Ngụy, trong các đoàn biểu tình luôn luôn có chư tăng – phật tử Sóc Ven, đỉnh cao ngày 10–11/6/1974 Hòa thượng hướng dẫn hàng ngàn Tu sĩ, đồng bào phật tử từ chùa Sóc Ven Mới và các chùa trong huyện Gò Quao, Giồng Riềng hành trình đi bộ tới Cù Là nơi hoàn táng thi hài 4 vị Sư liệt sĩ do Mỹ – Ngụy bắn hy sinh. Sau khi đấu tranh với địch suốt 7 ngày đêm và sau đó dương biểu ngữ đấu tranh tại chùa bằng hình thức tổ chức cầu siêu kéo dài liên tục suốt mùa an cư kiết hạ năm 1974.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng nước nhà được thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm vui chưa được bao lâu thì chiến tranh biên giới Tây nam nổ ra, bọn Pôn Pốt Ieng Sary diệt chủng gây chiến tranh xâm phạm biên giới và phía Bắc chủ nghĩa bành trướng (Trung Quốc) lấn chiếm biên cương gây đau thương mất mát, Hòa Thượng tiếp tục động viên con em đồng bào phật tử lên đường nhập ngũ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, từ công lao cống hiến to lớn ấy suốt 2 thập kỷ kháng chiến chống ngoại xâm Hòa thượng thiền sư Indatthero Hiên Sép được Đảng, Nhà nước phong tặng: 1 Huân Chương kháng chiến hạng II, 1 Huy Chương vì sự nghiệp đại đoàn kết Dân Tộc.
Đến năm 2002, một lần nữa Hòa thượng lại được Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ V suy tôn lên hàng giáo phẩm Hòa thượng với một Giáo chỉ Tăng của Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đó là niềm vinh dự đối với Hòa thượng, với chư tăng ni và đồng bào phật tử Kiên Giang.
Thời kỳ viên tịch
Do tuổi cao sức yếu, bệnh duyên kéo dài trên 3 năm, mặc dù được Đảng bộ, Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể huyện, Hội Đoàn Kết Sư Sãi Yêu Nước huyện Gò Quao, xã Định An, Ban Lãnh đạo ấp, Môn đồ Pháp quyến, chư Tăng, Ban Quản trị cùng đồng bào phật tử chùa Sóc Ven, đội ngũ bác sĩ là đệ tử của ngài hết lòng chăm sóc cứu chữa, vì bệnh duyên quá nặng, thuận theo pháp Vô thường – Khổ não – Vô ngã nên Hòa thượng đã thu thần thị tịch vào lúc 13 giờ 5 phút ngày 09 tháng 01 năm 2006 (nhằm ngày 10 tháng 12 năm Ất Dậu PL 2548), trụ thế 91 năm, 78 hạ lạp với 70 hạ lạp tỳ khưu.
Cố Hòa thượng thiền sư Indatthero Hiên Sép là bậc cao tăng đầy phạm hạnh trang nghiêm, là thiền Sư bậc cao nhất của hệ phái Nam Tông cả nước, là vị kế thừa xuất sắc sự nghiệp và truyền thống tốt đẹp đạo đức của cố Hòa thượng liệt sĩ Tăng Phô, Quân đại hùng sư, Trụ trì chùa Láng Cát; cố Hòa thượng liệt sĩ Tăng Hổ, Chủ tịch Hội đồng Kỷ luật Sư sãi Nam bộ, Trụ trì chùa Giồng Kè; cố Hòa thượng Tăng Phen, Chủ tịch Hội đồng Kỷ luật Sư sãi tỉnh Kiên Giang, Trụ trì chùa Thủy Liễu; cố Hòa thượng Liệt Sĩ Danh Nem, Giao liên của Ủy ban Mặt trận Việt Minh Nam Bộ, Trụ trì chùa Sóc Ven Mới; cố Hòa thượng Tăng Nè, Chủ tịch Hội đồng Kỷ Luật Sư sãi khu Tây Nam bộ, Trụ trì chùa Chắc Băng cũ. Hòa thượng là một vị tiêu biểu của khối Đại đoàn kết dân tộc lương giáo. Cuộc đời và sự nghiệp của ngài thể hiện đầy đủ Công Hạnh của một vị Như Lai Sứ Giả “Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sứ”.
Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.