Hòa thượng Tăng Phô (Trần Phố) (1847–1894)

Hòa thượng Tăng Phô (Trần Phố) (1847–1894)

Thông tin cơ bản

  • Trụ trì đời 18 (1882–1894) của chùa Angkok Chum, nay thuộc phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Thân thế

Hòa thượng Tăng Phô sinh năm 1847 tại Wel Rinh thuộc tỉnh Cam Pốt, ngài xuất thân trong một gia đình nông dân lao động nghèo, lại mồ côi cha mẹ. Gia đình năm anh em yêu thương, đùm bọc nhau vượt qua mọi khó khăn, sóng gió.

Với bản tính hiền lành, thông minh và tin kính vào Tam bảo, Ngài đã sớm giác ngộ theo con đường chánh lý của đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Năm anh em cùng trôi dạt về xóm giữa Láng Cát làm ăn sinh sống, đó là các vị:

  1. Tăng Phô
  2. Tăng Ung
  3. Tăng Nghét
  4. Tăng Nanh
  5. Tăng Tanh

Thời kỳ xuất gia tu học

Các anh em trai qua cuộc sống không cha mẹ, nhưng cũng sớm thấy được ánh sáng đạo mầu của chánh Pháp.

Năm 1859, Ngài Tăng Nghét hữu duyên tu học tại chùa Angkor Chum (lúc đó Hòa thượng Tăng Pô còn đương chức vị trụ trì chùa).

Năm 1860, Hòa thượng Tăng Phô nhận ra được vinh dự lớn lao của việc tu học giáo pháp và Ngài cũng xuất gia tu học tại chùa Angkor Chum. Ngài được Hòa thượng Tăng Pô trợ duyên đưa đi học chữ ở Cam Pốt (từ năm 1859 đến 1868). Ngài tốt nghiệp tiểu học và thông thạo tiếng Khmer.

Năm 1870, Ngài thọ giới Tỳ kheo tại chùa Angkor Chum dưới sự tế độ của Hòa thượng Tăng Pô và theo yêu cầu của ngài Tăng Nghét.

Thời kỳ hành đạo

Thời đó anh em của Hòa thượng Tăng Phô do cần cù chịu khó nên đều có nhà cửa ruộng rẫy tại xóm giữa Láng Cát và ngài Tăng Phô tự giác vào chùa Phật thọ giáo để gắn gửi gia đình anh em ruột thịt của mình.

Từ ngày về xóm Láng Cát và tu học tại chùa, Ngài đã tỏ ra là một vị sư cần mẫn và thông minh được bà con Phật tử và chư Tăng kính trọng thương yêu. Ngài có tấm lòng bác ái, thương yêu Phật tử nghèo và hay giúp đỡ họ.

Do có trình độ hiểu biết, định lực và trí tuệ phát triển hơn người, lại tiếp xúc với nhiều nhà yêu nước là thân tín của ông Nguyễn Trung Trực nên Ngài thức tỉnh về cuộc sống lầm than của cộng đồng Việt Nam dưới chế độ áp bức bóc lột của thực dân xâm lược Pháp, Ngài cho đó là nguyên nhân lớn làm cho dân tộc Khmer đói nghèo và bệnh tật, người dân thuộc địa không còn quyền sống để làm người. Ngọn lửa căm thù luôn âm ỉ cháy trong thân tâm của Ngài khi bọn thực dân Pháp và bè lũ của nó gọi đồng bào dân tộc là Thổ như một thứ dân nô lệ hạ đẳng.

Có lúc Ngài nói với các vị sư và bà con Phật tử:

“Làm vườn, làm rẫy là để nuôi sống dân mình,
Làm cách mạng là để giành lấy giang sơn đất nước”.

Ngài thường huấn thị cho chư Tăng và Phật tử biết rõ bản chất của thực dân Pháp và tay sai đó là:

“Các con nhớ lấy câu này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”.

Vào mỗi dịp lễ lớn, Ngài luôn kêu gọi tinh thần đoàn kết của đồng bào Phật bằng câu nói cửa miệng:
“Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.

Gương của vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực đánh Pháp còn vang dội núi sông với chiến công diệt đồn tàu Espérance của Pháp ở sông Nhật Tảo. Diệt đồn giặc ở Kiên Giang còn lưu trong sử sách mà Ngài hằng tâm niệm như một bài kinh.

Còn đó nhiều vị nghĩa quân như Thạch Bút và các vị bô lão là người dân tộc đã từng tham gia đánh Pháp còn sống trong các xóm ấp Khmer, họ như những hồi chuông thức tỉnh lòng yêu nước của mọi người. Trong đó Hòa thượng là một vị sư yêu nước luôn trăn trở vì nỗi đau mất nước.

Năm 1882, Hòa thượng Tăng Phô (Trần Phổ) được chư Tăng và Phật tử cung thỉnh giữ chức vị trụ trì chùa Phật Angkor Chum. Ngoài công việc tu tập tại chùa, Hòa thượng còn liên lạc với tổ chức yêu nước do ông Đào Công Bửu tổ chức. Với những công lao to lớn đối với đạo pháp, dân tộc và phong trào yêu nước nên Ngài được ông Đào Công Bửu phong tặng danh hiệu Quân Đại Hùng Sư, nhằm tập hợp lực lượng sư sãi và bà con Phật tử Khmer chống bọn thực dân xâm lược Pháp.

Ngài ra sức củng cố khối đoàn kết Phật tử trong các phum sóc Khmer, khơi dậy lòng yêu nước, thương giống nòi của mọi người, nhất là chư Tăng, Achar, Ban quản trị chùa, bô lão và bà con Phật tử gắn gửi với Ngài.

Ngài thường nói với bà con:

“Khi nào còn đất Kiên Giang này thì dân Khmer vẫn còn chống thực dân Pháp xâm lược”.

Câu nói đó của Hòa thượng như một lời thề nguyện biểu hiện khí tiết của một vị sư và đồng bào dân tộc Khmer yêu nước, nói như một đạo lý vĩnh cửu có sức mạnh lôi cuốn bà con Phật tử Khmer ngấm ngầm chống giặc Pháp.

Thời đó có tên Hương Phụ (thường gọi là ông Chiêu) là một đệ tử thường xuyên gần gũi Hòa thượng, biết rõ được ý định của Người nên đã bí mật báo tin cho kẻ thù. Tên Chiêu là một Phật tử mà bọn mật thám cài để luôn theo dõi bám sát Ngài, do đó mà tình hình vận động, tổ chức của Hòa thượng bị lộ.

Một số bà con Phật tử báo cáo cho Hòa thượng biết và Ngài đã lui về vùng Tà Bết hoạt động (hồi đó là vùng rừng rậm âm u). Ở đây Ngài được các vị sư và bà con Phật tử Khmer đùm bọc, che giấu,…

Các ông trùm Thừa (tức là đời ông cố của mẹ ông Trịnh Vi nay là thành viên Ban quản trị chùa) ông là người Kinh và ông Phổ là người Hoa cũng đều là những nhà yêu nước đã cùng với Hòa thượng ra sức vận động sư sãi và bà con Phật tử ngấm ngầm chống bọn cai trị.

Cũng cần nói thêm về ông Đào Công Bửu (tức ông Cả Bửu) 68 tuổi, quê quán An Bồi, Bảo Hữu, tỉnh Bến Tre với chức vụ là Nam kỳ Tướng quân Nguyên soái, khi ông bị giặc Pháp bắt trong người ông có hai con dấu và nhiều giấy tờ, bằng cấp. Ông bị kết án 15 năm tù, đày ra Côn Đảo.

  • Trịnh Quới, tức là thầy Cuội 57 tuổi ở Vĩnh Thanh Vân (là hương chức làng Vĩnh Thanh Vân) là Chánh đốc binh.
  • Lê Văn Minh, tức Út 45 tuổi ở xã Giục Tượng được ông Bửu giao giữ các mộc triện.
  • Vương Văn Sơn, tự Ấp Xoa 61 tuổi ở Vĩnh Thanh Vân là Phó đốc binh.
  • Nguyễn Văn Huy, là thầy Huy giáo viên 55 tuổi ở Vĩnh Hòa Đông, Kiên Định là cố vấn và thư ký được giao giữ các giấy tờ quan trọng.

Trần Văn Minh, tức thợ sơn 34 tuổi ở Thanh Hòa, Kiên Định là cố vấn kiêm thư ký thứ hai và rất nhiều người khác được ông Đào Công Bửu tổ chức trong đó có Hòa thượng Trần Phổ chùa Láng Cát.

Bọn Pháp ra lệnh cho tên Chiêu phải tìm cách bắt cho được Hòa thượng và toàn bộ tổ chức của Ngài thì sẽ cho hắn làm Phó tỉnh trưởng Rạch Giá. Tên Chiêu đã đến tận nơi Hòa thượng ẩn trú ở Tà Bết để dụ dỗ Ngài về Láng Cát vì bà con Phật tử đang chờ đón Ngài và nó hứa sẽ đảm bảo an toàn cho Ngài.

Tháng 6 năm 1894, Hòa thượng trở về chùa Angkor Chum thì sáng hôm sau bọn mật thám Pháp đến bao vây chùa bắt Hòa thượng và toàn bộ giấy tờ trong đó có bằng cấp “Quân Đại Hùng Sư” do ông Đào Công Bửu cấp có ký tên và đóng dấu. Bọn chúng tra tấn Hòa thượng rất dã man nhưng Ngài không khai báo gì thêm. Sau đó chúng kêu án 8 năm tù và đày Ngài ra Côn Đảo.

(Theo tài liệu của bọn mật thám Pháp còn để lại thì Hòa thượng Trần Phổ quê ở Vĩnh Thanh Vân ngụ tại chùa Láng Cát, hoạt động chống đối nhà nước Pháp bị đày ra Côn Đảo 8 năm). Cùng bị bắt với Hòa thượng lúc đó có ông:

  • Kim Văn Quang, 39 tuổi là một vị sư từ Châu Đốc đến tu ở chùa Láng Cát (4 năm tù đày ra Côn Đảo).
  • Danh Nghét, 25 tuổi ở Vĩnh Niên, Kiên Hảo do Hòa thượng vận động tham gia nổi loạn đày ra Côn Đảo 4 năm.
  • Lâm Nhật Thăng, tự là Sèu 59 tuổi ở làng Vĩnh Thanh Vân làm chức Phó quản, bị đày Côn Đảo 4 năm.
  • Đại đức Lâm Văn Huôn, 26 tuổi ở Kiên Định do Hòa thượng Trần Phổ lôi kéo nổi loạn, đày ra Côn Đảo 4 năm.
  • Danh Sát, 25 tuổi, nhà sư Trần Phổ tổ chức nổi loạn, Ngài quê ở Túy Đặng, Kiên Hảo đày Côn Đảo 4 năm.

(Trích 1 số vị trong danh sách 22 người bị bắt đày đi Côn Đảo do tên Tri Huyện lập ngày 5/6/1894 để báo cấp trên của chúng).

Sau khi Hòa thượng Tăng Phổ (Trần Phổ) bị bắt, chúng truy lùng ráo riết nên nhiều vị sư tu ở chùa Láng Cát phải bỏ chùa đi nơi khác, còn bà con Phật tử cũng chạy đến nơi khác làm ăn.

  • Đại đức Danh Nghinh, Đại đức Danh Sang trốn về chùa Cù Là Cũ, vị Sư Tăng Hô cũng chạy về chùa Cù Là Cũ.
  • Các ông Tăng Ung, Tăng Nghét, Tăng Danh, Tăng Tanh thì chạy xuống sâu vùng Cái Bản rồi Chắc Băng, Cạnh Đều, Cós Thum để làm ăn và đổi thành họ Lý.

Thời kỳ viên tịch

Hòa thượng Tăng Phổ giữ chức vị trụ trì chùa được 12 năm, với khí phách anh hùng và tinh thần kiên định của một vị chân tu, sau khi bị đày ra Côn Đảo, Hòa thượng đã tổ chức vượt ngục trở về đất liền để tiếp tục hoạt động nhưng bị bọn mật thám bắt lại lần thứ hai và đánh đập tra tấn rất dã man… rồi đưa đày ra Côn Đảo giam cầm.

Dù kiên cường duy trì tinh thần đạo pháp, dân tộc nhưng do tuổi già sức yếu và bệnh tình trầm trọng lại bị tra tấn dã man nên Hòa thượng đã thu thần viên tịch ở Côn Đảo.

Các vị chư Tăng và bà con Phật tử vô cùng thương tiếc Ngài, một vị Hòa thượng chân tu, một nhà sư yêu nước nồng nàn đã cống hiến suốt cả đời mình cho chánh lý của đức Thích ca Mâu ni Phật, một công dân kiểu mẫu mãi mãi lưu danh sáng ngời trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Đồng bào Phật tử Khmer ở Láng Cát và tỉnh Kiên Giang luôn luôn tự hào về phẩm hạnh cao đẹp của Hòa thượng mở đầu một giai thoại lịch sử vẻ vang của dân tộc Khmer, về truyền thống đấu tranh bất khuất kiên cường của Người.

Mãi mãi sau này các vị chân tu nối tiếp nhau xây dựng truyền thống đấu tranh cách mạng của Người, góp phần cùng toàn thể các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam giành nhiều chiến công oanh liệt trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc giành lấy độc lập tự do trong cả nước ta.

Nguồn: Thượng toạ Danh Lung, Đại đức Châu Hoài Thái (2014). Danh tăng Nam Tông Khmer. Nhà xuất bản Hồng Đức.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cover ảnh thiền sư chốn thiêng (5)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)