Chùa Phong Phú (chùa Hang – Hoa Lư, Ninh Bình)

Chùa Phong Phú (chùa Hang – Hoa Lư, Ninh Bình)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý 

Chùa Phong Phú có tên chữ là Khúc Mộ Tự, hay còn gọi là chùa Phú Gia (theo tên làng xưa), chùa Hang, chùa Động Liên Hoa do nằm trong hang núi Liên Hoa, thuộc phố Phong Phú, phường Ninh Giang, thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Người dân thường gọi là chùa 

Đây là một ngôi cổ tự linh thiêng có từ thời Đinh Tiên Hoàng, còn bảo tồn nguyên vẹn 18 bức họa La Hán được chạm khắc trực tiếp trên vách đá hang động. Các tác phẩm này mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lý – Trần, thể hiện giá trị thẩm mỹ và tín ngưỡng sâu sắc, tạo nên dấu ấn độc đáo.

Chùa Phong Phú không chỉ là nơi thờ Phật mà còn tôn thờ Thần Trấn Vũ Thiên Tôn, vị thần linh thiêng từng được phụng thờ tại động Thiên Tôn. Sự phối thờ này phản ánh sự giao hòa giữa tín ngưỡng Phật giáo và tín ngưỡng dân gian đặc trưng của vùng đất Cố đô.

Lịch sử và nhân vật 

Ninh Bình là vùng đất có vị trí đặc biệt trong tiến trình lịch sử dân tộc. Năm 968, tại động Hoa Lư (thuộc huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình ngày nay), từ thuở “cờ lau tập trận”, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp yên loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn, lên ngôi Hoàng đế, lấy hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Đây là nhà nước phong kiến tập quyền trung ương đầu tiên của nước ta, với kinh đô được xây dựng tại Hoa Lư, nay thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư có chép: “Mậu Thìn, năm thứ 1 [968], ( Tống Khai Bảo năm thứ 1 ). Vua lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời Kinh ấp về động Hoa Lư, bắt đầu dựng đô mới, đắp thành đào hào, xây cung điện, đặt triều nghi. Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế.”

Ngay từ trước thời Đinh, Phật giáo đã hiện diện và phát triển mạnh ở vùng đất này, với nhiều ngôi chùa cổ được dựng lên. Trong số đó, chùa Phong Phú (tên chữ là Khúc Mộ Tự) là một dấu ấn tiêu biểu.

Theo văn bia niên hiệu Gia Long thứ 16, chùa được khởi dựng từ thế kỷ X, dưới thời Đinh Tiên Hoàng. Truyền rằng, An Quốc Đại Vương khi đến vùng núi Cô Phong, nơi có phong cảnh sơn thủy hữu tình, đã cho lập một ngôi chùa và đặt tên là Khúc Mộ Tự. Dãy núi nơi đây về sau được gọi là Liên Hoa Sơn, bởi từ xa nhìn lại, thế núi tựa như một bông sen nở. Chùa còn được gọi là chùa Hang vì được dựng khéo léo trong hang núi, một đặc điểm kiến trúc hiếm gặp.

Chùa Phong Phú nằm ở phía Đông Bắc cố đô Hoa Lư, thuộc xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư. Trong quá trình canh tác, người dân từng phát hiện nhiều viên gạch trang trí hoa sen mang phong cách thời Đinh – Lê. Tại vách phải trong hang hiện vẫn còn lưu giữ năm tấm bia đá có niên đại từ thời Lý đến thời Nguyễn, cùng với 18 pho tượng La Hán được chạm khắc trực tiếp lên hai bên vách đá, có phỏng đoán rằng được tạc từ thời Lý.

Đặc biệt, tấm bia “Khúc Mộ Tự bi ký” từng ghi rõ:


“Người vãng cảnh, cầu đảo,
ngựa xe chật cửa nghênh đường.
Quân dân phấn khởi trong lòng,
thật xứng đáng là nơi danh lam thắng cảnh.”

Tấm bia đã ghi lại hình ảnh sinh động về chùa Phong Phú xưa kia, như một địa điểm hành hương linh thiêng và nổi tiếng. Qua đó có thể thấy, chùa từng là nơi thu hút đông đảo người dân đến vãn cảnh, lễ bái, cầu nguyện. Khung cảnh tấp nập xe ngựa, người qua lại phản ánh sức hút đặc biệt của ngôi chùa đối với cư dân đương thời. Đồng thời, bia cũng khẳng định vị thế của chùa như một danh lam thắng cảnh, hội tụ cả giá trị tâm linh lẫn cảnh quan, là niềm tự hào của vùng đất Cố đô Hoa Lư. 

Trong suốt thời kỳ kháng chiến, chùa Phong Phú không chỉ là chốn tu hành linh thiêng mà còn là cơ sở cách mạng quan trọng của tỉnh Ninh Bình.

Tháng 3 năm 1947, chùa được chọn làm địa điểm kết nạp đảng viên của Chi bộ Trung Sơn. Đỉnh núi Liên Hoa trở thành đài quan sát chiến lược của dân quân du kích trong kháng chiến. Đến năm 1950, chùa là nơi sơ tán an toàn cho Tỉnh ủy Ninh Bình. Năm 1953, hang chùa được sử dụng làm trụ sở của Ban Chỉ huy Trung đoàn 48, thuộc Đại đoàn 320.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hang chùa tiếp tục phát huy vai trò là hậu phương vững chắc khi trở thành trụ sở của Công đoàn tỉnh Ninh Bình, đồng thời là nơi tổ chức nhiều cuộc họp, hội nghị quan trọng của huyện và tỉnh.

Chùa không chỉ là di tích tâm linh mà còn là chứng nhân lịch sử gắn liền với phong trào cách mạng địa phương.

Kiến trúc cảnh quan 

Chùa Phong Phú tọa lạc ở phía Tây Nam xã Ninh Giang, huyện Hoa Lư, với thế đất rộng thoáng, quay mặt về hướng Đông Nam. Không gian xung quanh là cánh đồng của người dân địa phương, tạo nên khung cảnh thanh bình, gần gũi với thiên nhiên. Đặc biệt, khuôn viên chùa chính là hang động tự nhiên, góp phần tăng thêm vẻ linh thiêng và đặc biệt về kiến trúc.

Tác giả Hoàng Quang Thuận, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, đã ngưỡng mộ trước vẻ đẹp cổ kính và giá trị lịch sử của chùa Phong Phú mà viết nên bài thơ:

“Phong Phú chùa xây thời nhà Đinh
Cổ tự mờ sương khói hữu tình
Thế núi long chầu bên hổ phục
La Hán trầm tư đọc sách kinh”.

Bốn câu thơ ngắn gọn, khắc họa rõ nét vẻ đẹp thiêng liêng và trầm mặc của ngôi chùa cổ, gợi về cội nguồn lịch sử lâu đời từ thời nhà Đinh, nổi bật vẻ đẹp thanh tịnh của cổ tự giữa thiên nhiên.

Các hạng mục chính trong chùa bao gồm: cổng Tam quan, Lầu Quán Âm và Hang động thờ tự. 

Tam Quan

Cổng tam quan được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống Việt Nam, công trình gồm ba lối ra vào, cửa chính ở giữa rộng lớn, hai cửa phụ hai bên nhỏ hơn, tất cả đều thiết kế theo dạng mái uốn hình vòm cung mềm mại. Các cột trụ lớn được đắp nổi câu đối bằng chữ Hán chạy dọc theo thân cột, phía trên các cửa vòm là mảng tường được trang trí bằng phù điêu hình rồng uốn lượn, sống động và tinh xảo.

Toàn bộ tam quan được bao phủ bởi hệ mái hai tầng lợp ngói vảy cá, bốn góc mái uốn cong đắp nổi bằng hình đầu rồng. Đỉnh mái tầng hai nổi bật với hình tượng lưỡng long chầu nguyệt, trên phần tường tầng hai có dựng một mảng hình chữ nhật có dạng một bức hoành phi bằng gạch, đề ba chữ Hán cổ. 

Hai bên cổng là bức tường nối dài, được đắp nổi hình dây sen cách điệu, tường bao quanh toàn bộ khuôn viên di tích, không chỉ tạo nên ranh giới rõ ràng mà còn góp phần giữ gìn sự yên tĩnh, tôn nghiêm cho không gian thờ tự bên trong.

Lầu Quán Âm

Bước qua cổng Tam quan, cách một khoảng sân gạch là Lầu Quán Âm, Lầu được thiết kế theo dạng lục giác, với sáu cột đá cẩm thạch trắng vững chãi, nâng đỡ toàn bộ kiến trúc phía trên. Mái lầu hai tầng uốn cong nhẹ nhàng ở các góc, trang trí bằng các đầu rồng chạm khắc sinh động. Trên đỉnh mái là tháp nhọn nhiều tầng hướng lên trời. 

Lầu được đặt trên nền cao khoảng 60cm, có bậc tam cấp dẫn lên, phía trước bài trí lư hương đá, nơi Phật tử dâng hương lễ bái. Chính giữa lầu là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đá trắng, đứng uy nghi trên tòa sen, gương mặt hiền từ, tay cầm bình cam lộ, biểu tượng thiêng liêng cho lòng từ bi và năng lực cứu độ chúng sinh thoát khỏi khổ đau. Bao quanh tượng là hệ vách gỗ nối liền giữa các cột, được chạm lộng tỉ mỉ các họa tiết rồng mây, hoa lá, không chỉ tạo điểm nhấn mỹ thuật mà còn giúp che chắn, bảo vệ không gian thờ tự bên trong. 

Hang Động

Ở khoảng sân chùa, đi theo lối bậc đá men theo sườn núi, tiếp tục đi lên cao khoảng 5 mét về phía Tây Bắc sẽ tới khu Chính Điện. Chân núi Liên Hoa có địa thế cao và rộng, tại đây là toà Tiền Đường gồm 5 gian, có kiến trúc vì kèo kiểu moi, hoành vuông, mái lợp ngói vảy truyền thống. Công trình này được xây dựng sát vào chân núi, chắn ngang lối vào hang động phía sau.

Trong Tiền Đường, gian bên phải đặt tượng Đức Ông, gian bên trái thờ tượng Ngọc Hoàng, là hai vị thần hộ pháp quen thuộc trong không gian thờ tự dân gian. Gian giữa có cửa mở dẫn thẳng vào trong hang núi, nơi tiếp nối không gian thiêng liêng phía sau. Bên trái Tiền Đường là toà Phủ, được xây theo kiểu kiến trúc hình chữ Đinh (丁), diện tích khoảng 19,25m², gồm ba gian Bái Đường phía trước và một gian Hậu Cung phía sau. Hậu Cung Phủ chỉ thờ duy nhất tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, một trong Tứ Bất Tử trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, thể hiện đậm nét thờ Mẫu trong không gian linh thiêng của di tích.

Giữa hai dãy Tiền đường và Phủ là lối dẫn vào Phật điện, tức cửa vào hang động trong lòng núi Liên Hoa. Từ sân chùa nhìn lên, chỉ thấy hai dãy nhà cao thấp nối tiếp nhau, che khuất hoàn toàn cửa hang, tạo nên cảm giác bí ẩn và linh thiêng. Hang nằm khuất phía sau Tiền Đường; ngay phía trước có hai khối đá lớn chắn phía Đông, khiến lối vào bị thu hẹp về phía Tây, chỉ còn rộng khoảng 1,80m.

Bên trái lối vào hang, ngay sát ngoài cửa, có đặt 5 tấm bia đá và 2 tấm Ma nhai (bia khắc trực tiếp lên vách núi), tổng cộng 7 văn bia cổ quý. Các bia này ghi lại dấu tích và công đức qua nhiều triều đại, cụ thể:

– Bia khắc năm Cảnh Hưng thứ 21 (1760).

– Bia khắc năm Mậu Tuất, thời Lê Anh Tông, thờ Mỹ quận công (1558).

– Bia khắc năm Khải Định thứ 5 (1920).

– Bia khắc năm Gia Long thứ 16 (1817).

– Bia khắc thời Hồng Đức (1470-1497).

– Bia khắc năm Bính Ngọ, niên hiệu Kiến Gia (1211-1224), thời Lý.

– Một bia không ghi niên hiệu.

Theo bài viết “Giá trị văn bia trên vách động Cô Phong Sơn, được đăng tải trên trang thông tin Trung tâm bảo tồn
di tích Lịch sử – Văn hoá Cố đô Hoa Lư Ninh Bình
, tấm bia  thời Kiến Gia (1211-1224), dòng lạc khoản cho biết: “Trên cơ sở hang động có sẵn, dưới chân núi Cô phong, đất Hoa Lư, sau đó được An Quốc Đại vương (thời Đinh) khai sáng thành chùa động, lấy tên là Khúc Mộ. Đến nay có vị thiền sư người Nam tông sang Đại Việt tu hành và cho khắc đồ hình “Thập lục Cực quả” lên vách hang.”

Tấm bia: “Gia Long năm thứ 16 (1817): Thôn Phong Sơn, xã Phú Gia, huyện Gia Viễn, phủ Trường Yên…chùa vốn hiển linh, nhiều người tới cầu đảo, xe ngựa đến tắc cả đường đi, bậc quan cũng như dân đều coi là nơi danh lam thắng cảnh…Sau lại có quan huyện là người xã Điềm Giang, hương trưởng của thôn là Trần Trọng Ngân xin được tu sửa lại tiền đường, cảnh chùa lại huy hoàng như xưa: Minh rằng: Vốn từ Đa Giá, tên chùa Cô Phong, đất tạo người tài, Cảnh núi hòa đồng.”

“Tấm bia Khải Định năm Canh thân (1920): Thôn Phong Sơn, xã Phú Gia, tổng Đa Giá, huyện Gia Khánh. Núi Cô Phong, núi có động, trong động có chùa tên là khúc Mộ….Minh rằng: Phong sơn diễm lệ, đỉnh núi vút cao, Trước đời Lý đã xây chùa, Chùa quay hướng nam, Dòng nước bao quanh, Nước trước làm án, núi động thanh u, Danh lam tự cổ.”

Những tấm bia này không chỉ minh chứng cho bề dày lịch sử và giá trị tín ngưỡng lâu đời của di tích, mà còn là nguồn tư liệu quý trong nghiên cứu văn hóa, tôn giáo qua các triều đại Việt Nam.

Cửa hang có hình dáng bán nguyệt, khá rộng và cao, bên trong, hai bên thành hang được gắn liền vào vách đá là 18 bức phù điêu chạm khắc hình tượng 18 vị La Hán, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lý. Đây là bộ phù điêu La Hán duy nhất ở Việt Nam được chạm trực tiếp trên vách đá tự nhiên, có giá trị đặc biệt cả về nghệ thuật và tín ngưỡng.

Hang có chiều rộng hơn 8m, cao gần 10m và ăn sâu vào lòng núi hơn 20m, không gian bên trong rộng rãi và sâu. Cuối hang là khu vực thờ tự chính, với bệ đá được xây ở vị trí cao, nơi tôn trí các pho tượng Phật theo thế bố cục từ cao xuống thấp, tạo nên một không gian linh thiêng, trang nghiêm. Tiếp tục đi sâu vào bên trong, là một lối hang hẹp, cửa hang thấp, không thể đứng thẳng người khi di chuyển. Đoạn hang này kéo dài khoảng 25m, dẫn tới một khu vực gọi là toà Diêm Vương.

Ở đáy hang đặt 9 pho tượng bằng đá, sơn phủ thếp vàng, tượng trưng cho nơi Diêm Vương làm việc trong tín ngưỡng dân gian. Giữa không gian là tượng Diêm Vương lớn, có kích thước của con người, tay phải cầm viên ngọc, tay trái đặt trên đùi, gương mặt uy nghiêm. Bao quanh là 8 pho tượng còn lại, cao khoảng 1,20m, thể hiện nhiều dáng vẻ khác nhau: có tượng đang cầm vồ, có tượng nắm búa, có tượng mang hình đầu trâu mặt ngựa, những hình ảnh quen thuộc trong thế giới âm phủ theo quan niệm dân gian.

Phía bên trái hang còn đặt một pho tượng lớn, cao bằng người thật, đầu đội mũ kiểu nhà sư, đó là tượng ông Thánh Trấn, một nhân vật hộ pháp trong không gian thờ tự, góp phần canh giữ và bảo vệ sự yên ổn nơi cửa Phật.

Bên trong hang vẫn còn lưu giữ một bệ thờ có niên đại từ thời Lý, mang giá trị đặc biệt về lịch sử và nghệ thuật. Bệ thờ cao 45cm, mặt bệ có dạng hình vuông, mỗi cạnh dài 40cm. Bao quanh bệ là những đường chạm khắc mô phỏng hình sóng nước, các đường sóng được thể hiện theo ba tầng lớp, trong đó có những ngọn sóng chính nổi bật, xen lẫn với các đợt sóng phụ nhỏ hơn, tạo cảm giác sống động. 

Phía sau tòa Diêm Vương còn có một hang rộng mở ra tiếp tục, đi lùi về hướng Đông lại gặp một ngách hang dài, dẫn thẳng sang phía Bắc của ngọn núi, tạo thành một đường thông suốt xuyên qua ngọn núi. Như vậy, toàn bộ khu vực chùa Phong Phú là một hệ thống hang động tự nhiên rộng lớn. Nền hang bằng phẳng, được lát gạch hoa. 

Không gian thờ tự có sẵn từ tự nhiên nơi đây trở thành một kỳ công của tạo hóa, tồn tại bền vững qua bao thế kỷ, minh chứng sống động cho sự bền vững của di tích và bàn tay hòa quyện đầy khéo léo giữa con người với thiên nhiên.

Cảnh đẹp nơi đây đã được đưa vào thơ:

“Phú Gia Phong Phú cảnh thiên nhiên
Di tích danh lam trên nghìn niên
Hang sâu thăm thẳm vầng trăng nguyệt
Cửa động Liên Hoa tựa mái hiên”.

Bốn câu thơ ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa, như một bức tranh thiên nhiên hữu tình, là một danh lam tồn tại hàng ngàn năm. Bài thơ không chỉ là lời vịnh cảnh, mà còn thể hiện lòng ngưỡng mộ, trân trọng đối với một di tích linh thiêng và trường tồn cùng thời gian.

Di vật 

Điểm đặc biệt làm nên giá trị nghệ thuật và tâm linh nổi bật của di tích chính là hệ thống 18 bức họa La Hán được chạm khắc trực tiếp lên vách đá trong lòng động. Những tác phẩm điêu khắc này mang đậm dấu ấn mỹ thuật thời Lý. Cùng với đó là các hoa văn trang trí tinh xảo và ba tấm bia Ma nhai khắc trên vách núi, tất cả trở thành chứng tích sống động cho trình độ thẩm mỹ, kỹ thuật chạm khắc và đời sống tín ngưỡng Phật giáo đương thời. Những nội dung này cũng được ghi nhận trong bia đá niên hiệu Gia Long năm thứ 16 (1817) hiện còn lưu giữ tại chùa.

Ngoài ra chùa còn lưu giữ tấm bia Trùng tu Khúc Mộ tự/Cổ tích danh lam/重修曲墓寺/古跡名藍, bia gồm 20 dòng chữ Hán (~500 chữ); có hoa văn; không có chữ húy, bia do Họ Nguyễn (阮) viết chữ. Bia có nội dung tóm lược như sau: 

Chùa Khúc Mộ trên núi Cô Phong là danh lam cổ tích. Ông Lưu Quang Đại, Lưu Văn Phong cùng thiện tín phát tâm hưng công tu sửa tiền đường, tô tượng. Văn bia ghi tên những người tham gia và có 6 câu minh.

Không chỉ có giá trị về văn hóa, tôn giáo, di tích còn là nơi lưu giữ những dấu tích quý giá của cư dân thời tiền sử. Tại khu vực núi chùa, nhiều công cụ lao động bằng đá có vai, được mài nhẵn lưỡi, đã được phát hiện, minh chứng cho sự hiện diện của con người tại đây từ thời hậu đồ đá mới, cách nay khoảng 5.000 năm. Những hiện vật này góp phần khẳng định tầm vóc lịch sử lâu đời và sự liên tục văn hóa qua các thời kỳ tại khu vực linh thiêng này.

Xếp hạng

Chùa Phong Phú đã được nhà nước xếp hạng di tích Lịch sử Văn hoá cấp Quốc gia năm 1997. 

Tài liệu tham khảo

  1. Lã Đăng Bật, “Phật giáo ở Ninh Bình thời Đinh – Lê – Lý- Trần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 4 – 2009. 
  2. Mỹ Dung, “Giá trị văn bia trên vách động Cô Phong Sơn, Trang thông tin Trung tâm bảo tồn di tích Lịch sử – Văn hoá Cố đô Hoa Lư Ninh Bình.
  3. Nguyễn Đại Đồng, Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Phú Lợi (2017), Lịch sử phật giáo Ninh Bình, Nxb Tôn giáo. 
  4. Phan Huy Lê, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội. 
  5. Nguyễn Đăng Vinh, Nguyễn Đăng Quang, Kinh Đô Việt Nam xưa và nay, Nxb Lao Động.
  6. Nguyễn Văn Trò, “Quan điểm của Diện mạo Phật giáo ở Kinh đô Hoa Lư và vùng phụ cận”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6-2010.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
Chua phong phu ninh binh (nguôn gg) (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)