Vua Lê Thái Tổ (1385 – 1433)

Vua Lê Thái Tổ (1385 – 1433)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Lê Thái Tổ (1385 – 1433), chữ Hán: 黎太祖, sinh ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu(1), tên húy là Lợi, niên hiệu Thuận Thiên 順天 (1428 – 1433). Ông là người khai sinh triều đại Lê Sơ, ở ngôi 6 năm, thọ 51 tuổi, táng ở Vĩnh Lăng. 

Lê Lợi là con trai thứ ba và cũng là con út trong một gia đình hào trưởng tại hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hóa(2). Cha sinh ra ông húy là Khoáng, người có chí khí và hào hiệp. Cụ nội của Lê Lợi là Lê Hối, có lần đến Lam Sơn, sách Đại Việt thông sử đã chép rằng: Đã trông thấy đàn chim bay lượn quanh chân núi, giống như cảnh đông người tụ hội. Lê Hối cho là đất tốt và chuyển nhà đến ở đấy. Sau 3 năm thì thành sản nghiệp. Từ đó, các thế hệ họ Lê thay nhau làm quân trưởng ở Thanh Hóa, đế nghiệp của họ Lê bắt đầu từ đó. 

Căn cứ vào thành phần cư dân ở vùng Lam Sơn hiện nay phần lớn là người Mường, và việc dòng họ Lê Lợi đã mấy đời làm quân trưởng tại đó, có những giả thuyết cho rằng Lê Lợi là một tù trưởng người Mường. Tuy nhiên, các khảo cứu về gia phả họ Lê gần đây đã xác định rõ: kị nội của Lê Lợi là ông Lê Mỗi, người trang Bái Đô (nay thuộc xã Xuân Bái, huyện Thọ Xuân). Lê Mỗi sinh được năm người con trai, trong đó Lê Hối là con thứ hai. Bái Đô vốn là một vùng đất chưa từng có cư dân người Mường. Về phía mẹ của Lê Lợi, dòng họ cũng có nguồn gốc là người Kinh, vốn từ nơi khác đến khai khẩn vùng đất Thủy Chú(3). Như vậy, có thể khẳng định Lê Lợi là người Kinh, không phải người Mường.

Lê Hối lấy bà Nguyễn Thị Ngọc Duyên, người sách Quần Dội (nay thuộc huyện Thọ Xuân). Hai người sinh ra Lê Đinh, người nối được nghiệp nhà, vốn yêu thương nhân dân nên người gần kẻ xa đều đến quy phụ, nhân khẩu trong nhà đông tới hàng ngàn người. Lê Đinh lấy vợ là Nguyễn Thị Quách, sinh được 37 người con trai; con trưởng là Lê Tòng, con thứ là Lê Khoáng. Lê Khoáng lấy bà Trịnh Ngọc Thương (người làng Chủ Sơn, nay là Thủy Chú). Bà Trịnh Ngọc Thương có ông nội là Trịnh Tám, người từng đi đánh Chiêm Thành, lập công bắt được voi trắng nên được phong chức Đại toát hữu. Cha bà là Trịnh Sai được kế tập chức vụ này.

Khi hai ông bà Lê Khoáng sinh sống ở làng Lam Sơn, các tù trưởng người Ai Lao như Cầm Lô, Cầm Lạn thường kéo đến cướp phá. Vì thế, hai ông bà chuyển tới Thủy Chú, sinh ra ba người con trai là Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi, cùng ba người con gái: Quốc thái Trưởng Công chúa Ngọc Tá, Quốc trưởng Công chúa Ngọc Vĩnh và Quốc trưởng Công chúa Ngọc Tiên(4).

Sách Lam Sơn Thực Lục kể: 

Nguyên xưa, lúc Nhà vua chưa sinh, ở xứ Du-sơn trong làng, dưới cây rừng quế, thuộc thôn sau Như-áng, thường có con hổ đen, thân nhau với người, chưa hề làm hại ai! Đến giờ Tỵ, ngày mồng sáu tháng Tám, năm Ất Sửu, sinh ra Nhà vua; từ đó không thấy con hổ đâu! Người ta cho là chuyện lạ.(5)

Ngay từ khi còn rất trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh dũng lược, đức độ hơn người, chép trong Các triều đại Việt Nam

Vẻ người ông đẹp tươi hùng vĩ, mắt sáng miệng rộng, sống mũi cao,  xương mí mắt gồ lên, bả vai tả có bảy nốt ruồi, bước đi nhẹ nhàng, khoan thai, tiếng nói vang như tiếng chuông(6). 

Truyền thuyết kể rằng: Lớn lên, Lê Lợi làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát “đế vương” ở động Chiêu Nghi. Sau đó, một người phường chài là Lê Thận bắt được một lưỡi gươm cũ; khi đưa vào tay Lê Lợi thì thanh gươm không phải mài mà sáng như gươm mới. Trên thanh gươm có khắc hàng chữ triện, Lê Lợi biết đó là một thanh gươm quý.

Hai ngày sau, vợ Lê Lợi ra vườn hái rau lại bắt được một quả ấn báu, cũng khắc mấy chữ lối triện; trên lưng quả ấn khắc tên họ Lê Lợi. Ngày sau nữa lại bắt được cái chuôi kiếm ở gốc cây đa, có khắc hình con rồng, con hổ và hai chữ “Thanh Thủy”. Đem lắp vào lưỡi kiếm đã bắt được thì vừa vặn, không sai chút nào.

Từ đó, ông càng tin rằng vận nước đã được trao vào tay mình, càng chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nuôi chí và chờ thời vận.

Lê Lợi nối đời làm phụ đạo Lam Sơn, lớn lên giữa lúc đất nước có nhiều biến động. Cuối thế kỷ XIV, Đại Việt lâm vào khủng hoảng trầm trọng, dẫn đến cuộc “chuyển giao quyền lực” từ nhà Trần sang nhà Hồ như một tất yếu lịch sử. Tuy nhiên, vương triều Hồ chỉ tồn tại chưa đầy bảy năm thì năm 1407, Đại Việt đã rơi vào ách thống trị của quân xâm lược. 

Họ Hồ thoán nghịch, tự chuốc bại vong, giặc Minh tàn bạo, hòng thay bờ cõi. Chúng giả nhân, diệt nước, giết hại, làm càn. Dân nước Việt ta, gan óc lầy đất. Còn thơ cháu bé bị giáo gươm đâm chém, quăng xác thảm thê. Người lớn thì phía nam chạy xuống Chiêm Thành, phía tây trốn sang Đại Lý(7). Làng mạc hoang phế, xã tắc thành gò cho thỏ chui, cho hươu chạy, thành bãi hoang cho chim đỗ, thành rừng rậm cho hổ báo náu mình. Rồi giặc chia châu, đặt huyện, đắp lũy, đào hào, đóng quân trấn giữ đến hơn hai mươi năm, thay đổi phong tục nước ta theo tóc dài, răng trắng(8), biến người nước ta trở thành người Ngô, Than ôi! hoạ loạn tột cùng đến mức như vậy!(9)

Khởi nghĩa Lam Sơn

Trước nguy cơ tồn vong của dân tộc, vào năm Bính Thân (1416), tại Lũng Nhai (thuộc xã Ngọc Phụng, huyện Thường Xuân ngày nay), Lê Lợi, khi ấy giữ chức Phụ đạo lộ Khả Lam, cùng 18 nghĩa sĩ thân tín đã tổ chức một hội thề lịch sử, nguyện một lòng bảo vệ quê hương, quyết đồng tâm hiệp lực chống ngoại xâm. Sự kiện này trở thành nền tảng quan trọng, tạo nên những hạt nhân đầu tiên của bộ chỉ huy khởi nghĩa Lam Sơn, với Lê Lợi được tôn làm thống soái tối cao.

Từ sau hội thề, Lam Sơn dần trở thành nơi hội tụ của nhiều anh hùng, hào kiệt và những người yêu nước khắp nơi, cùng chung chí hướng đánh đuổi giặc Minh, giành lại độc lập. Sau thời gian chuẩn bị lực lượng, đến tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi chính thức phất cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa).

Ta cất quân đánh giặc, không phải là có lòng ham muốn phú quý, mà chính vì muốn để ngàn năm về sau, người đời biết ta không chịu làm tôi tớ cho bọn giặc tàn ngược.(10)

Vào mùa xuân, ngày mồng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng các hào kiệt đồng chí hướng như Phạm Vấn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Ngân, Nguyễn Lý… đã chính thức dựng cờ khởi nghĩa, mở đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Tổng cộng có 50 tướng văn võ tham gia, trong số đó có 19 người từng kết nghĩa tại hội thề Lũng Nhai (năm 1416), cùng thề đồng tâm hiệp lực vì sự nghiệp cứu nước.

Lê Lợi tự xưng là Bình Định vương, truyền hịch kêu gọi Nhân dân đứng lên giết giặc, cứu nước. Nghĩa quân Lam Sơn bước vào cuộc chiến đấu với quân thù trong một tương quan lực lượng vô cùng chênh lệch.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Vua sinh vào thời buổi ấy, bẩm chất văn võ thánh thần, gặp lúc trời đất đoái thương, không nỡ ngồi nhìn sinh dân lầm than, quân giặc ngang ngược. Nghĩ rằng trách nhiệm thay trời đánh giặc chẳng ở ta thì còn ai nữa! Nhưng còn lo vận trời đang bĩ chưa thông, việc lớn gian nan khó nổi. Thế rồi hội tụ bề tôi cùng chí hướng, tôi gươm thiêng cho sắc, giấu tiếng chốn Lam Sơn, xem thế, đợi thời. Gặp việc thì lo sợ, không dám vội vàng. Giữ chỗ hiểm, đặt phục binh, thường lấy ít để địch nhiều; tính thời cơ, nắm chắc thắng, hay lấy yếu để chống mạnh. Khí giới, lương thực phần nhiều lấy ở chỗ giặc. Kinh dinh hơn mười năm, khốn lo bao nhiêu độ. Chỉ vì mưu đã sâu, kế lại kỹ, cho nên hễ đánh là thắng, đã phá là tan. Đánh một trận mà dẹp yên châu Hoan, châu Hóa; đánh hai trận mà bình định châu Diễn, châu Ái. Thế rồi phất cao cờ chính nghĩa, tạo thế vững đàng hoàng. Đưa quân vượt biển mà giặc ở Cổ Lộng, Chí Linh vỡ mật, hành binh qua núi mà giặc ở Tam Giang, Đông Quan bay hồn.

Bọn Vương Thông, Phương Chính đã kế cùng, đành giữ thành bền lũy chờ cứu viện. Lửa không nhóm tự cháy, quả nhiên Liễu Thăng từ bắc tiến sang giúp Hạ Kiệt làm càn. Lại thêm Mộc Thạnh từ phía tây cũng tới. Nực cười hai đạo viện bình, giơ càng bọ ngựa chống xe, há chẳng ngu sao! Huống chi lấy chí nhân đánh bọn bất nhân, giặc tất phải khiêng thây mà chịu trói. Thú cùng trong cũi, vẫy đuôi xin tha. Thì rủ lòng nhân mà mở lưới Thang1 , cho múa mộc để phô đức Thuấn. Cuối cùng tha cho mười vạn quân hàng, được toàn mạng mà về bắc. Bốn biển hân hoan chiêm ngưỡng, thỏa lòng đã được hồi sinh. Phương xa mến đức sợ uy, chúc cống chăm lo hết phận. Ôi ! thịnh thay!. 

Thế mới biết, họa loạn [54b] đến tột cùng thì trị bình càng vững chắc. Nhân nghĩa càng sâu thì ảnh hưởng càng xa. Trời xoay vần, thời thông suốt, nay đúng là lúc vận hội bắt đầu(11).

Cai trị

Năm Mậu Thân, niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1428), vào mùa xuân, tháng Giêng, quân Minh rút về nước. Vua Lê Thái Tổ chính thức thống nhất thiên hạ và lấy năm ấy làm mốc dẹp yên đất nước. 

Ngày 15, hoàng thượng lên ngôi vua tại điện Kính Thiên, xưng là “Thuận Thiên Thừa vận Duệ văn Anh vũ Đại vương”, đặt tên nước là Đại Việt, đổi niên hiệu, đại xá thiên hạ.(12)

Lê Lợi đã ban hành nhiều chính sách nhằm ổn định tình hình và khôi phục đất nước. Trước đó, vào tháng Tám năm 1427, khi chiến sự vẫn đang diễn ra, Lê Lợi từng sai sứ sang triều Minh xin lập Trần Cảo làm An Nam quốc vương, và yêu cầu này được triều Minh chấp thuận. Đến tháng Ba năm 1428, sứ giả nhà Minh mới đến thành Đông Quan làm lễ sắc phong, nhưng lúc này Trần Cảo đã qua đời. Lê Lợi sau đó lại cử sứ sang Minh triều để báo tang.

Đến ngày 15 tháng Tư âm lịch năm 1428, từ điện Tranh ở Bồ Đề, Lê Lợi tiến vào thành Đông Quan, đại xá thiên hạ, đặt niên hiệu Thuận Thiên, khôi phục quốc hiệu Đại Việt, lấy Đông Kinh làm kinh đô. Ông xưng là Thuận Thiên Thừa Vận Duệ Văn Anh Vũ Đại Vương, hiệu Lam Sơn động chủ, sử sách gọi là Thái Tổ Cao Hoàng đế. Từ đây, Hoàng triều Lê được thành lập (sử Việt Nam hiện đại quen gọi là nhà Hậu Lê).

Đối ngoại 

Theo sử gia Phan Huy Chú, do vị trí địa lý nằm ở phía Nam Trung Quốc, Việt Nam tuy là một quốc gia độc lập, có quy mô riêng, bên trong xưng đế nhưng bề ngoài vẫn duy trì quan hệ thần phục, chịu phong hiệu của triều đình Trung Hoa. Thời nhà Hồ, quân nhà Minh xâm lược nước ta dưới danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”.

Khi Lê Lợi tiến hành khởi nghĩa chống Minh, đến năm 1427, khi nghĩa quân Lam Sơn vây thành Đông Quan, ông lập Trần Cảo lên ngôi và cử sứ sang Minh triều xin phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương. Nhà Minh đồng ý và sai sứ sang cầu phong, nhưng đến năm 1428, khi sứ giả Minh đến nơi thì Trần Cảo đã qua đời. Lê Lợi cử sứ sang báo tang và tự mình tổ chức lễ lên ngôi vua Đại Việt mà không cần chờ sắc phong của triều Minh.

Sau khi lên ngôi, Lê Lợi liên tiếp cử sứ giả sang triều đình nhà Minh để xin lại người con gái của ông bị bắt đi lúc mới 9 tuổi và xin được phong vương, với lý do “con cháu nhà Trần đã tuyệt diệt”. Triều Minh đáp lại rằng con gái Lê Lợi đã mất vì bệnh đậu mùa, đồng thời yêu cầu Đại Việt trả lại những người bị bắt và số vũ khí thu được trong chiến tranh. Tuy nhiên, Lê Lợi không giao nộp số vũ khí này. Đến năm 1430, Minh triều mới chính thức từ bỏ yêu sách đòi trả vũ khí. Trong chiếu chỉ ngày 7/5/1430 vua Minh gửi cho Lê Lợi có đoạn viết: Binh khí nhằm mục đích bảo vệ dân, dân chúng An Nam đều là con đỏ, nay để lại đó hay mang về đây Trẫm đều không hỏi thêm. Duy quan lại, quân nhân của triều đình cùng gia thuộc đều chưa trở về, họ đều có cha mẹ, vợ con trông ngóng, khiến ân ái cách tuyệt, lòng sao nỡ…

Tuy nhiên, đến 15/7/1431, nhà Minh vẫn không chịu phong vương cho Lê Lợi, chỉ tạm phong ông làm quyền thự An Nam quốc sự (tức quyền cai quản nước An Nam). Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Lợi cử sứ sang Minh triều tạ ơn và dâng 5 vạn lạng vàng tuế cống. Nhưng đến ngày 19/12/1433, nhà Minh lại sai Chánh sứ Binh bộ Thị lang Từ Kỳ và Phó sứ Hành nhân ty Hành nhân Quách Tế sang đòi số vàng cống hằng năm. Trước đó, Minh triều nhiều lần gửi sứ giả sang thúc ép Đại Việt nộp vàng theo lệ cũ. Lê Lợi xin được tuân theo quy định triều cống như năm Hồng Vũ thứ 3, nhưng vua Minh không chấp thuận và tiếp tục sai sứ sang đòi. Không rõ Lê Lợi có thực sự nộp đủ số vàng này cho Minh triều hay không.

Đối nội

Khi nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Đông Đô năm 1427, Lê Lợi đã tiến hành tổ chức lại bộ máy hành chính và quân sự: chia các lộ, trấn thành 4 đạo, đặt liêu thuộc văn võ ở trung ương và địa phương; bổ nhiệm tướng quân, các thị vệ và đặt tuần kiểm ở các cửa biển. Ở các lộ, phủ, quân đội được giao cho các quan đại thần giữ chức kiểm tri, tổng tri và đồng tri để chỉ huy và thực thi mệnh lệnh. Các trấn thủ còn có chức quan sát và phòng ngự để bảo vệ an ninh. Lê Quý Đôn nhận định rằng Lê Lợi phỏng theo chế độ của nhà Trần, nhằm bảo đảm sự giám sát lẫn nhau giữa các đơn vị và sự ràng buộc trách nhiệm giữa các cấp.

Sau khi lên ngôi năm 1428, Lê Thái Tổ tiếp tục củng cố hệ thống quản lý: chia cả nước thành 5 đạo – Đông, Tây, Nam, Bắc và Hải Tây. Mỗi đạo đặt một vệ quân, đứng đầu là chức Tổng quản, dưới có Đô tổng quản và Đồng tổng quản, các cấp liên kết chặt chẽ, lớn nhỏ kiểm soát lẫn nhau. Ở mỗi đạo còn đặt chức Hành khiển, phụ trách sổ sách và xử lý kiện tụng của quân dân, bên dưới là các chức Tham tri, Đồng tri, Chủ bạ, Đạo thuộc. Các đạo có kho tàng riêng, do Đô tri quản lý.

Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí, Lê Thái Tổ còn ban hành nhiều chính sách hành chính quan trọng: định rõ quan chức các lộ, huyện; ở lộ có Tri phủ, Chưởng ấn, kế đến là các chức Trấn phủ sứ, An phủ sứ, Tuyên phủ sứ, Chiêu thảo sứ; các vùng hiểm yếu đều đặt quan trấn thủ. Trong triều, nhà vua thiết lập các chức quan cao cấp như Bình chương, Đại Tư đồ, Đại Tư không, Đại Tư mã, Khu mật đại sứ, Thiếu úy, Thượng tướng, Đại tướng, cùng các tước hiệu Á hầu, Thông hầu, Quan phục hầu, Trước phục hầu.

Tại Đông Đô, các lộ được chia thành bốn đạo, đặt hệ thống quan lại văn võ như Bộc xạ, Thị trung, Thiếu bảo, Hành khiển, Thượng thư, Hàn lâm. Các chức quan đạo: Chánh mang hàm Tổng tri (coi việc quân dân), Phó mang hàm Kiểm tri quân dân bạ tịch. Ngoài ra còn có các cơ quan như Mật viện, Thượng thư các bộ (ví dụ: Nguyễn Trãi làm Thượng thư Bộ Lại), Thượng thư sảnh, Hàn lâm viện (có chức Thừa chỉ, Học sĩ), Hình viện, quân vệ, điền binh. Ở địa phương, các chức Sứ, Quan sát sứ, Phòng ngự sứ, Tuyên úy sứ, An phủ sứ được đặt để giữ gìn trật tự.

Các quan văn võ đại thần được nhà vua tín nhiệm đều được ban thêm danh hiệu nhập nội. Hệ thống quan võ gồm từ Tổng quản, Tổng lĩnh, Đồng tri xuống đến Đại đội trưởng, Đội trưởng; quan văn từ Hành khiển, Thượng thư xuống đến Thất phẩm đều được coi là chức trọng. Ngoài ra còn có Ngự tiền văn đội, Ngự tiền võ đội, Khách đội, Thực đội. Ở cấp xã cũng đặt quan cai quản để đảm bảo trật tự cơ sở.

Luật pháp

Về luật pháp, Lê Thái Tổ cho soạn thảo bộ luật mới dựa theo hình luật nhà Đường, quy định ngũ hình gồm: xuy (đánh bằng roi nhỏ), trượng (đánh bằng gậy lớn), đồ (lao dịch khổ sai), lưu (đày đi xa) và tử (tử hình). Đồng thời đặt lệ bát nghị, bao gồm: nghị thân, nghị cố, nghị hiền, nghị năng, nghị công, nghị quý, nghị cần và nghị tân – tức tám trường hợp được xét giảm tội.

Tháng Giêng năm 1428, khi đất nước đã thái bình, nhà vua sai các quan Tư không, Tư đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển cùng bàn bạc, soạn thảo các điều luật về dân sự và quân sự với mục đích:

Để người làm tướng biết phép trị quân, người làm quan các lộ biết phép trị dân; quân dân cũng cần được răn dạy, phải hiểu rõ phép tắc để người giữ việc gì thì biết phép của việc ấy mà làm.

Các cơ quan triều đình sau đó thực hiện chỉ dụ này và dâng lên vua những đề nghị cụ thể.

Đến năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), Lê Thái Tổ ban hành thêm một số luật nghiêm khắc:

  • Cấm cờ bạc: kẻ đánh bạc bị chặt 5 phân bàn tay, đánh cờ ăn tiền bị chặt 2 phân bàn tay.
  • Cấm tụ tập uống rượu: những người vô cớ tụ tập uống rượu, không phải vì việc công, bị phạt 100 trượng; kẻ bao che giảm tội một bậc.
  • Tội ăn hối lộ: nếu quan lại bị phát hiện nhận từ 1 quan tiền trở lên sẽ bị xử chém.

Tiền tệ

Từ thời vua Trần Thuận Tông, khi Hồ Quý Ly nắm quyền chấp chính, nhà nước bắt đầu sử dụng tiền giấy gọi là hội sao, đồng thời thu hồi tiền đồng để đổi lấy loại tiền mới này. Đến khi Lê Lợi lên ngôi, trong nước hầu như không còn tiền đồng lưu hành, nên triều đình quyết định cho đúc loại tiền mới.

Vào tháng Tư năm 1428, triều đình Lê chính thức cho đúc đồng tiền mới mang tên tiền Thuận Thiên, được mô tả trong Đại Việt sử ký toàn thư:

Mây xanh xuất hiện, có cánh, có chân, bên dưới có mâm ngọc, hai bên tả hữu tựa như hình hai con cá chép vờn nhau.(13)

Đến tháng Chạp, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Lê Thái Tổ tiếp tục cho đúc loại tiền mới mang tên Thuận Thiên thông bảo, quy định 50 đồng bằng 1 tiền. Sang năm Thuận Thiên thứ hai (1429), nhà vua ra lệnh cho các quan trong triều và ở địa phương họp bàn, đề xuất quy định cụ thể về chế độ sử dụng tiền tệ nhằm ổn định lưu thông kinh tế trong nước.

Mùa thu, tháng 7, ngày mồng 5, ra lệnh cho các đại thần và các quan văn võ trong ngoài họp bàn về quy chế đồng tiền. Tờ chiếu viết: 

Tiền là mạch máu của sinh dân, không thể không có. Nước ta vốn có mỏ đồng, nhưng tiền đồng cũ đã bị nhà Hồ hủy bỏ, trăm phần chỉ còn được một. Đến nay, việc quân, việc nước thường hay bị thiếu. Muốn cho tiền được lưu thông sử dụng, để thuận lòng dân, há chẳng khó sao? Mới rồi có người dâng thư trình bày, xin lấy tiền giấy thay cho tiền thực. Trẫm sớm khuya nghĩ ngợi, chưa nghĩ ra các gì. Vì rằng tiền giấy là thứ vô dụng, lại được lưu hành như vật hữu dụng trong dân, thực không phải là ý nghĩa yên dân, dùng của. Nhưng đời xưa đã có người cho rằng vàng, bạc, da, lụa, tiền thực, tiền giấy đều không thể cân ngang nhau được, thế thì thứ gì là hơn? Truyền cho các đại thần trăm quan và những người hiểu việc đời ở trong, ở ngoài, đều nghị bàn quy chế đồng tiền cho thuận lòng dân, để không vì ưa thích riêng của một người mà bắt ép muôn nghìn người không muốn phải theo, để làm phép hay của một đời. Nên phải bàn định sớm rồi tâu lên, trẫm sẽ tự chọn lấy mà cho thi hành.(14)

Tiền tệ

Năm 1426, khi tiến quân ra Bắc và đóng quân tại dinh Bồ Đề, Lê Thái Tổ ra lệnh mở khoa thi cho những người có học vấn. Đề thi là “Bảng văn dụ thành Đông Quan”, lấy đỗ 50 người, bổ nhiệm vào các chức vụ: An phủ ở các lộ bên ngoài và Viên ngoại lang tại sáu bộ trong kinh thành. Khoa thi này, Đào Công Soạn, người Tiên Lữ (Hưng Yên), đỗ đầu.

Sau khi giành lại độc lập năm 1428, Lê Thái Tổ cho mở lại Quốc Tử Giám, chiêu sinh con cháu các quan và những người dân tuấn tú vào học, đồng thời cho lập nhà học tại các phủ và lộ. Cũng trong thời gian mới vào Đông Đô, ông mở một khoa thi, lấy đỗ 32 người.

Năm 1429, nhà vua hạ chiếu triệu tập quân nhân các lộ, những người ẩn dật trong rừng núi, cũng như quan lại từ tứ phẩm trở xuống, nếu thông thạo kinh sử thì đều được dự thi tại triều đình; đó là khoa Minh kinh.

Năm 1431, Lê Thái Tổ mở khoa thi Hoành từ; đến năm 1433, ông đích thân ra đề thi văn sách. Hai khoa này sử dụng nhiều hình thức: Minh kinh, luận phú hoặc sách vấn, tùy theo tài năng của thí sinh mà cất nhắc bổ dụng, thậm chí vượt cấp. Tuy nhiên, thời kỳ này vẫn chưa đặt lệ thi Tiến sĩ.

Nhận định về bối cảnh văn hóa thời kỳ này, Đào Duy Anh cho rằng: từ nửa cuối triều Trần, bắt đầu từ thời Chu Văn An, Nho học đã lấn át Phật học. Đến triều Lê và Nguyễn, Nho học chiếm địa vị độc tôn, còn Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế bởi các quy định nghiêm khắc. Trong thời kỳ bị nhà Minh đô hộ, phần lớn thư tịch Nho – Phật của Đại Việt bị tịch thu, thay thế bằng các sách Ngũ kinh và Tứ thư của Minh triều để dùng trong trường học. Sau khi nhà Lê khôi phục đất nước, chế độ và thư tịch thời Lý – Trần phần lớn đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc, nên triều đình buộc phải phỏng theo chế độ Minh, coi khoa cử là con đường duy nhất tuyển chọn nhân tài, lấy văn chương bác cổ làm tiêu chuẩn đánh giá và lấy sách Tống Nho làm chính thư.

Tôn giáo

Sau khi xâm lược Đại Việt, nhà Minh đã thực thi chính sách tịch thu hoặc đốt phá các sách vở về Nho học và Phật học của người Việt, đồng thời phát hành các bộ Tứ thư, Ngũ kinh thể chú để sử dụng trong các trường học. Khi nhà Lê giành lại độc lập, phần lớn chế độ và thư tịch thời Lý – Trần đã bị tiêu hủy hoặc thất lạc, buộc triều đình phải phỏng theo chế độ nhà Minh, coi khoa cử là con đường tuyển chọn nhân tài duy nhất và dùng văn chương làm thước đo đánh giá tài năng.

Theo Đào Duy Anh, thời kỳ Lý – Trần là giai đoạn Tam giáo (Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo) cùng tồn tại song hành; nhưng đến thời Lê, Nho học trở thành độc tôn. Nhà nước có tổ chức các kỳ thi dành cho những người theo tôn giáo, song chủ yếu nhằm hạn chế vai trò của tầng lớp này trong xã hội.

Đối với tôn giáo, Lê Thái Tổ quy định: những ai muốn xuất gia theo Phật giáo hay Lão giáo đều phải thi kinh điển của tôn giáo mình; người thi đỗ mới được phép làm sư hoặc đạo sĩ, còn người thi trượt thì buộc phải quay về quê làm ăn.

Quân đội

Quân đội thời Lê Thái Tổ (Lê Lợi) được tổ chức theo hướng vừa kế thừa những yếu tố truyền thống, vừa có những cải cách phù hợp với tình hình đất nước sau chiến tranh. Quân đội bao gồm quân triều đình (cấm quân) và quân địa phương, có các đơn vị như ty, sở, vệ, phủ, với quân số được quy định rõ ràng. 

Chính sách ruộng đất

Vào mùa xuân tháng Giêng năm 1428, sau khi quân Minh rút khỏi Đại Việt, đất nước hoàn toàn giành lại độc lập. Lê Lợi nhanh chóng ban hành nhiều chính sách nhằm khôi phục quốc gia vốn bị tàn phá nặng nề do ách đô hộ và chiến tranh.

Ngay từ tháng Bảy năm 1426, ông đã cho lập sổ đinh (hộ tịch) để kiểm soát dân số. Sang đầu năm 1428, nhà vua ra lệnh cho con cháu các tướng lĩnh và nhà đầu mục trở về nguyên quán nhận lại ruộng đất tổ tiên, nhằm chấm dứt tình trạng tranh chấp đất đai. Đến tháng Tư năm đó, ông tiếp tục chỉ dụ trả lại nhà cửa, ruộng đất cho dân binh từng bị bắt đưa vào các thành Tây Đô, Đông Kinh, Cổ Lộng và Chí Linh – những người sau đó bị sung vào các quân đội như quân Thiết Đột.

Cuối tháng 11 âm lịch, triều đình tổ chức kiểm kê ruộng đất và lập sổ hộ tịch mới, đồng thời yêu cầu các địa phương rà soát toàn diện các vùng ruộng, đầm, bãi, mỏ khoáng sản, sản vật núi rừng, thuế khóa cũ, cùng những tài sản của các thế gia đã bị tịch thu, những người không có con nối dõi, bọn đào ngũ, ngụy quan, v.v.

Ngày 22 tháng Chạp năm 1428, Lê Thái Tổ ra sắc lệnh cho các cấp chính quyền từ phủ đến xã tiến hành đối chiếu và rà soát lại toàn bộ đất công và tư, đảm bảo minh bạch trong quản lý tài sản đất đai. Tiếp đó, tháng Giêng năm 1429, ông yêu cầu các đại thần dâng tấu trình việc phân phối đất đai cho mọi tầng lớp dân chúng, từ quan lại, quân lính cho đến phụ nữ, người già, trẻ mồ côi hay góa phụ.

Vào tháng Hai năm 1429, nhà vua tổ chức diễn tập quân sự đồng loạt ở cả năm đạo, gồm cả bộ binh và thủy binh. Sau đó, ông chia quân thành năm phiên, giữ lại một phiên thường trực, còn lại bốn phiên luân phiên về làm ruộng, nhằm kết hợp sản xuất và quốc phòng. Tháng Ba, ông yêu cầu tất cả quan lại, công hầu tận dụng đất được cấp để trồng trọt, cấm bỏ hoang; đất trong vùng quân Thiết Đột chỉ được cấp tối đa 5 sào, còn ngoài vùng đó chỉ từ 1 đến 2 mẫu; những ai đã có đất mà còn chiếm dụng đất trong thành Đại La để xây nhà sẽ bị nghiêm cấm.

Ngày 30 tháng Năm âm lịch năm 1429, ông cho rà soát và phân loại lại ruộng đất của những người từng cộng tác với quân Minh. Tháng Chạp năm ấy, ông ra lệnh cho phép dân không có ruộng được đến khai khẩn ở các xã có nhiều đất bỏ hoang, đồng thời nghiêm cấm các chủ đất bỏ đất hoang mà ngăn người khác canh tác; vi phạm sẽ bị xử tội chiếm đoạt cưỡng bức.

Trong các năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) và thứ 6 (1433), triều đình tiếp tục tiến hành lập sổ hộ tịch mới, hoàn thiện hệ thống quản lý nhân khẩu và đất đai.

Qua đời

Kỷ Dậu, [Thuận Thiên] năm thứ 2 [1429], (Minh Tuyên Đức năm thứ 4), Lê Thái Tổ lập con trưởng Lê Tư Tề làm Quận vương, giúp trông coi việc nước, con thứ Nguyên Long làm Hoàng thái tử.

Ngày mồng 7, sai Nhập nội kiểm hiệu bình chương sự Lê Vấn, Nhập nội đại tư mã Lê Ngân, Nhập nội thiếu phó Lê Văn Linh mang kim sách lập Hữu tướng quốc Khai quân công Tư Tề làm Quốc vương, giúp coi việc nước.

Sai Nhập nội tư khấu Lê Sát, Tư không Lê Nhân Chú, Nhập nội tư mã Lê Lý, Nhập nội thiếu úy Lê Quốc Hưng mang kim sách lập Lương quận công Nguyên Long làm Hoàng thái tử.(15)

Lê Tư Tề, con trưởng của Lê Thái Tổ, mắc chứng điên loạn, từng sát hại các tì thiếp, khiến vua không hài lòng. Năm 1433, Lê Thái Tổ vời Lê Khôi (cháu gọi bằng chú, khi đó đang trấn thủ Hóa Châu) về triều để bàn việc lập Thái tử.

Đến tháng Tám âm lịch năm 1433, Lê Tư Tề bị phế, giáng làm Quận vương, con thứ là Nguyên Long được lập làm người kế vị, tức Lê Thái Tông sau này. Ba đại thần Phạm Vấn, Lê Sát và Lê Ngân được vua ủy thác phụ chính, hỗ trợ triều chính khi tân vương còn nhỏ tuổi.

Lê Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì qua đời vào ngày 22 tháng 8 âm lịch (ngày 7 tháng 9 dương lịch) năm Quý Sửu (1433), an táng tại Vĩnh Lăng, được tôn miến hiệu Thái Tổ, thụy hiệu  là Thống Thiên Khải Vận Thánh Đức Thần Công Duệ Văn Anh Vũ Khoan Minh Dũng Trí Hoàng Nghĩa Chí Minh Đại Hiếu Cao Hoàng Đế, hưởng dương 49 tuổi. Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức hoàng đế Lê Thái Tông. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: 

Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi.

Chú thích

  1. Tức ngày 10 tháng 9 năm 1385.
  2. Nay là thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
  3. Chủ Sơn: tên hương, sau đổi là thôn Thủy Chú, huyện Lôi Dương, nay thuộc xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.
  4. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa Thông tin, 2007, tr 145.
  5. Nguyễn Trãi, Lam Sơn Thực Lục, Nxb Tân Việt, 1956, tr 18.
  6. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 2001, tr 168.
  7.  Đại Lý: là tên một vương quốc trước đây ở Vân Nam, ở đây là chỉ vùng Vân Nam, Trung Quốc.
  8.  Tóc dài, răng trắng: chỉ phong tục người Trung Quốc bấy giờ. Phong tục của ta thì tóc ngắn, nhuộm răng đen.
  9. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thưBản Kỷ – Quyển X, Nxb Khoa học Xã hội, 1993, tr 359.
  10. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr 326.
  11. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr 359-360. 
  12. Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, sđd, tr 89. 
  13. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, sđd 363.
  14. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, sđd 367.  
  15. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, sđd 356.  

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Quý Đôn (1959), Phủ biên tạp lục, Ngô Lập Chí dịch, Khoa Xã Hội – Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.
  4. Lê Quý Đôn (2007), Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa Thông tin. 
  5. Đại học Hồng Đức (2002), Kỷ yếu hội thảo khoa học về Hoàng đế Lê Thánh Tông, 1442 – 1497, Nxb Thanh Hóa.
  6. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  7. K. W. Taylor (2013), A History of the Vietnamese, Cambridge University Press, ISBN 0521875862.
  8. Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ (2003), Nhìn lại lịch sử, Nxb Văn hóa Thông tin.
  9. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  10. Ngô Thì Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Nxb Văn Sử.
  11.  Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  12.  Nguyễn Q. Thắng, Nguyễn Bá Thế (1991), Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Văn hóa.
  13.  Tạ Chí Đại Trường (2004), Sử Việt, đọc vài quyển, Nxb Văn mới.
  14.  Tạ Chí Đại Trường (2009), Sơ thảo: Bài sử khác cho Việt Nam, Nxb Kệ Sách.
  15.  Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nxb Khoa học xã hội.
Chấm điểm

Địa điểm liên quan

Văn bia

Chia sẻ
Vua Lê Thái Tổ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)