Thời gian
Mồng 5 – 6 tháng Hai
Địa điểm
- Thôn Lương Quy, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh
Làng Lương Quy, xã Xuân Nội, huyện Đông Anh là một làng cổ nằm trong khu vực gần Loa thành xưa. Từ Hà Nội, theo đường quốc lộ số 1, đến thị trấn Đông Anh rẽ tay phải đi khoảng sáu cây số nữa, du khách tới làng.
Nhân vật thờ tự
- Ông Thống, ông Quy, ông Giang
Hội làng xưa thường kéo dài năm, sáu ngày, nhưng nay chỉ mở hai ngày, 5 và 6 tháng Hai. Thành hoàng làng là ba vị thánh: ông Thống, ông Duy và ông Giang. Tục truyền rằng đó là những anh em sinh ba đã có công cùng thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân được vua Hùng trọng thưởng. Sau đó được dân làng tôn làm những vị thần bảo mệnh cho mình. Vào dịp hội có nhiều tục lệ như yến lão, vật lèo, hát chèo trong đình, tế lễ có múa bồng và đặc biệt là tục thổi cơm thi vào ngày mồng sáu tháng Hai. Tục thổi cơm thi nhằm nhắc lại sự tích rèn luyện các quân sĩ của ba vị tướng trong thời gian họ tham gia đánh giặc.
Lễ hội
Sáng mồng 6 tháng Hai, sau khi tế lễ và múa bồng kết thúc, là tới cuộc thi thổi cơm vô cùng náo nhiệt và độc đáo. Cuộc thi diễn ra tại sân đình làng trong một vòng tròn có đường kính khoảng 9-10m. Người dự thi gồm toàn trai tráng của các giáp tham gia. Làng có bốn giáp là Đông, Tây, Nam, Bắc. Mỗi giáp cử ra hơn một chục trai tráng khỏe trẻ, khéo léo và nhanh nhẹn để dự thi. Dân làng và khách thập phương vây quanh thành một vòng tròn theo dõi và cổ vũ rất nồng nhiệt. Cuộc thi chia thành bảy giai đoạn như sau:
1. Thi bổ cau têm trầu
Việc này có vẻ không liên quan đến thi thổi cơm, nhưng nó lại được xếp vào đầu cuộc thi. Bốn giáp cử mỗi giáp hai cô gái đồng trinh, xinh đẹp, khéo tay, mặc quần áo ngày hội vào tham dự. Ngoài hai cô, mỗi giáp còn được cử một người phụ nữ đứng tuổi cùng tham gia với tư cách như một người hướng dẫn. Người đàn bà này chỉ có quyền chỉ bảo chứ không được làm hộ hai cô gái kia. Tất cả những người tham gia đứng xếp hàng dọc theo từng giáp trước mặt bàn ban giám khảo tại cửa đình. Mặt họ hướng thẳng vào trong đình đồng thời cũng là nhìn đối diện ban giám khảo. Ban này gồm các vị chức sắc cùng các cụ cao tuổi, có kinh nghiệm và hiểu biết luật tục của làng. Bốn đĩa trầu, cau được xếp ngay ngăn trên bàn ban giám khảo. Một tràng pháo nổ ròn rã báo hiệu cuộc thi bắt đầu. Những người dự thi tiến về bàn ban giám khảo. Họ cùng đồng loạt hướng vào đình lễ thánh và nhận trầu cau đi về chỗ qui định cho giáp mình. Vị trí của các giáp được đặt theo tên gọi của giáp và tại đó người ta kê một chiếc bàn trên có che một chiếc lọng to để người xem đứng từ xa có thể nhận biết. Thời gian quy định cho thi bổ cau têm trầu khoảng hai mươi phút. Tiêu chuẩn phải là cau bổ ba, sao cho ba phần phải thật bằng nhau, hạt không được long khỏi cùi cau. Trâu têm thật khéo, miếng bẻ và cuốn thật đẹp, hình cánh phượng, đặt trên đĩa ôm lấy ba miếng cau. Quan trọng nhất là quả cau bổ làm ba sao cho thật cân đối và bằng nhau. Ban giám khảo nhiều khi phải dùng tới cân tiểu ly để xác định xem ba miếng cau có đều nhau không mà quyết định giải. Giáp nào xong trước, cau đều miếng, trầu têm đẹp thì được giải. Điều thú vị là trong lúc các cô gái bổ cau têm trầu thì hàng trăm con mắt đổ dồn vào hai cô. Họ theo dõi từng ly từng tí để nhắc nhở, chỉ dẫn, song đồng thời cũng để bình phẩm, kén chọn tài sắc của các cô. Đó cũng là dịp để các chàng trai chưa vợ chọn bạn trăm năm và gia đình có dịp tìm hiểu con dâu tương lai.
2. Thi chạy thẻ
Sau thì têm trầu là thi chạy thẻ. Chạy thẻ là chạy đi lấy thẻ về nộp cho ban giám khảo. Mỗi giáp cử một thanh niên khỏe mạnh, nhanh nhẹn tham gia. Bốn chàng trai của bốn giáp xếp hàng ngang trước mặt ban giám khảo. Sau khi dứt một hồi ba tiếng trống thì nhanh chóng hướng vào đình lễ ba lễ và quay ngoắt lại chạy thẳng hướng trước cửa đình. Đằng xa một cây số dân làng đã cử người đứng cầm bốn thẻ đợi sẵn ở đó. Tương truyền xưa kia ở chỗ đó có một ngôi miếu không rõ thờ ai. Thẻ là một thanh tre dài khoảng 20cm, rộng 3cm được dán giấy hồng xung quanh trên đó có ghi một chữ nhất, nhị, tam, tứ bằng chữ nho. Những người chạy thẻ phải chạy qua những thửa ruộng mấp mô vì đã cày đang để ải. Trời tháng Hai se lạnh, đất cày mấp mô, người chạy đi chân đất, nếu không khéo léo sẽ bị ngã vấp, mất tốc độ. Dân làng reo hò, trống đánh dồn dập, thôi thúc nhiều trai tráng trong giáp chạy theo để cổ vũ người của giáp mình. Không khí thật nhộn nhịp, sôi nổi. Khi chạy đến nơi, người thi phải cố nhặt thẻ thứ bậc cao rồi lập tức quay đầu chạy về đình, nộp thẻ cho ban giám khảo trong tiếng reo vang chào mừng của toàn thể dân làng. Sau đó, chàng hướng vào đình cúi lạy thánh ba lần. Chàng được người đưa ngay về vị trí của giáp mình trong sự tán thưởng và chăm sóc của cả giáp.
Do muốn nhanh chân hơn người khác cho nên có người lễ không đủ ba lần trước khi chạy hoặc vội vã quá mà lễ không nghiêm chỉnh, tất cả các chi tiết đó đều được ban giám khảo theo dõi kỹ càng để cho điểm.
3. Thi kéo nước
Tiếp theo thì chạy thẻ là thi kéo nước. Địa điểm lấy nước ở gần sân đình hơn. Đó là cái giếng lấy nước ăn của làng. Gầu múc nước là một cái nồi gốm mỏng được buộc dây xung quanh. Cũng như các lẫn thi trước, bốn cái nồi gốm được để sẵn trên chiếc chiếu trước bàn ban giám khảo. Bốn chàng trai khác được cử ra, họ cũng đứng trước chiếu. Sau một hồi ba tiếng trống, tất cả cùng mau chóng lễ ba lễ và vố lấy nổi chạy như bay về phía giếng nước. Đó là những chiếc nồi đất nung cho nên khi thả xuống nước nó tròng trành khó lật để lấy được nước nhanh. Hơn thế nữa khi lắc và khi kéo lên nếu không thận trọng sẽ bị va đập mà vỡ. Khó hơn nữa là khi vừa cầm nồi nước đầy vừa chạy làm sao phải vừa nhìn đường để không ngã, giữ nổi cho chắc và thăng bằng để nước không sánh, nồi không rơi. Đó quả thực là những đòi hỏi hết sức cao đối với người dự thi. Người nào không khéo léo nhanh nhẹn thì hoặc là vỡ nồi hoặc là về sau cùng. Ai về trước với chiếc nồi nhiều nước nhất quả là một kỳ công và được dân làng chào đón nhiệt liệt, hàng giáp sung sướng tự hào về người của giáp mình. Vì thế người ta reo hò, cổ vũ nhưng cũng luôn luôn nhắc nhở chàng trai trong lúc thi. Nồi nước về đầu tiên được đặt trên bàn ban giám khảo trong tiếng trống thúc dồn dập hòa cùng tiếng trống khẩu của các giáp hưởng ứng càng làm cho cuộc thi thêm náo nhiệt. Chàng trai sau khi trao nước cho ban giám khảo rồi hướng vào đình lễ ba lễ và quay về vị trí của giáp mình.
4. Thi xay thóc, giã gạo
Các giáp chuẩn bị sẵn chày, cối, nia, dần, sàng đem đặt trước mặt bàn ban giám khảo. Những thứ này đều có kiểu dáng và kích thước giống nhau. Sau khi được ban giám khảo xem xét kỹ, các giáp chuyển các dụng cụ ấy về vị trí của giáp mình. Trong quá trình thi, ban giám khảo theo dõi rất cẩn thận, tránh tình trạng gian dối hay những hành động sai phạm khác.
Cuộc thi này mỗi giáp cử ra bốn trai đinh. Khi tất cả đã sẵn sàng, ban tổ chức đem đặt trên chiếu trước bàn ban giám khảo bốn rá thóc, mỗi rá khoảng năm cân. Sau khi các chàng trai xếp hàng trước các rá thóc, một hồi ba tiếng trống vang lên. Dứt tiếng trống cuối cùng, tất cả cùng lạy ba lạy và chuyển nhanh rá thóc về khu vực của giáp mình. Lập tức người ta đổ thóc vào cối. Hai chàng trai liên tục thay nhau giã bằng chày tay. Trong khi đó hai người kia chuẩn bị dần, sàng, nia và che chắn xung quanh cho thóc khỏi tung ra ngoài cối. Tùy theo kỹ thuật và sự tính toán của từng nhóm mà họ chia thóc ra giã làm một hay hai lần. Nếu là hai lần thì trong lúc hai người giã cối thứ hai, hai người còn lại tiến hành sàng, sẩy số thóc vừa giã. Tiếng trống to, trống khẩu, tù và cùng tiếng pháo, tiếng người reo hò, nhắc nhở rất sôi động. Những người dự thi phải biết tính toán một cách hợp lý và bình tĩnh trong lúc làm, nếu không sẽ bị đổ, bị rơi vãi hoặc có những động tác thừa, gây chậm trễ cho công việc.
Giáp nào xong đem gạo đến nộp lên ban giám khảo. Tiêu chuẩn được giải phải là xong trước về thời gian, gạo không nát, sạch trấu, cám, thóc và sạn, đồng thời phải đủ cân lạng qui định. Giáp nào xong trước mà đạt được cả các tiêu chuẩn trên là thắng cuộc. Nếu những người dự thi không biết tính toán các động tác, xếp sắp không hợp lý, hành động không khéo léo thì rất khó đoạt giải.
5. Thi kéo lửa
Sau giã gạo là kéo lửa. Mỗi giáp cử ba thanh niên khỏe mạnh, có kỹ thuật để dự thi. Dụng cụ kéo lửa là một thanh giang được buộc tay cầm ở hai đầu, một đoạn gỗ hoặc tre khô, rơm và bùi nhùi. Những thứ đó của mỗi giáp cũng được tập trung trên chiếu trước mặt ban giám khảo. Sau khi dụng cụ được kiểm tra đầy đủ, những thí sinh đứng trước chiếu đợi lệnh. Dứt hồi trống lệnh, họ vội vã cầm các vật dụng ấy chạy nhanh về vị trí giáp mình. Một người đặt ngay rơm và bùi nhùi xuống đất. Người thứ hai cầm thanh gỗ đè lên bùi nhùi và rơm, đồng thời anh ta luồn thanh giang khô xuống dưới thanh gỗ, lấy chân đè lên thanh gỗ đó và bắt đầu dùng tay cầm hai đầu thanh giang kéo qua kéo lại nhanh và mạnh. Người đặt rơm và bùi nhùi lúc này ngồi trước mặt người kéo vừa vun rơm và bùi nhùi xung quanh thanh gỗ để hứng tia lửa phát ra. Người thứ ba ôm chặt ngang lưng người kéo lửa để giữ cho anh ta thăng bằng tập trung sức lực kéo lửa. Tù và, trống, pháo nổ náo nhiệt cả một vùng. Tiếng người hàng giáp nhắc nhở, gào thét vô cùng hăng hái. Khi lửa bén, chàng trai ngồi trước mặt người kéo lửa phải nhanh nhẹn vun bùi nhùi và rơm sao cho lửa mau bén, đồng thời phải lựa chiều mà thổi liên tục cho lửa chóng bốc thành ngọn. Ai kéo được lửa cháy trước thì mang ra trình ban giám khảo, giáp ấy sẽ thắng cuộc. Khói bụi mù mịt cả một góc sân. mồ hôi nhễ nhại trên khuôn mặt đỏ bừng của các chàng trai, song mọi người đều hớn hở và hết sức vui vẻ. Không khí cuộc thi mỗi lúc một hấp dẫn và náo nhiệt. Tiếng ồn ào, tiếng reo hò cùng đủ mọi âm thanh khác làm người xem từ khắp các ngả dồn dập đổ về, vì càng về cuối càng vui và quyết liệt. Cả cái sân đình rộng lớn, nay đã trở nên quá chật chội bởi số lượng khán giả từ mọi ngả kéo tới xem rất đông.
6. Thi bắt gà và thịt gà
Tiếp theo là thi bắt và thịt gà. Đây là một cuộc thi độc đáo và đầy hứng thú. Một người trong ban tổ chức cầm chiếc lồng trong đó có bốn con gà bước ra khỏi vòng người trong sân, đi về phía hàng cây cuối sân đình. Anh ta cầm lồng gà và trèo lên một cây cao. Sau khi tìm một vị trí ở ngang chừng cây, anh ta đứng đó đợi lệnh. Dưới gốc cây, mỗi giáp được cử bốn hoặc năm thanh niên đứng chuẩn bị bắt gà. Người xem cũng đứng tạo thành một vòng quanh những người dự thi. Khi tất cả đã sẵn sàng, tiếng trống lệnh từ trong đình phát ra, người giữ lồng gà trên cây liễn mở nắp thả bốn con gà xuống. Từ trên cao gà vừa có lực bay, lại thấy đám đông người ồn ào nên chúng bay tứ tung. Các chàng trai xông vào bắt gà. Tiếng hò hét, tiếng chân chạy, trống thúc càng làm gà sợ hãi và cố sức để thoát. Bốn con gà đều được chọn những con to, khỏe, trước cảnh cuồng nhiệt của người càng làm chúng tán loạn, gây khó khăn cho người bắt. Nhóm người của từng giáp phải chia nhau săn, đón, đuổi rất vất vả. Giáp nào bắt được gà trước nhanh chóng đem về vị trí của giáp mình bắc nước làm lông. Các chàng trai dùng mảnh nứa sắc cắt tiết và mổ gà. Khi cắt tiết xong người ta nhúng tiết vào nước sôi và đưa lên bàn thờ thánh kê bên bàn ban giám khảo. Các chàng trai ra tay làm thịt gà trong tiếng reo hò, khích lệ và chỉ dẫn của hàng giáp. Gà thịt phải được vặt lông thật sạch, luộc không quá chín để bị tróc da. Vết mổ gà không được quá to và nát, lòng gà và các bộ phận bên trong cũng phải được làm sạch sẽ. Luộc chín rồi, gà được xếp lên đĩa thật khéo, hai cánh cong lên, đầu hướng về phía trước, miệng ngậm bông hồng đỏ tươi, được đưa lên bàn giám khảo. Sau khi chấm xong, gà đem bày lên bàn thờ lễ thánh. Giáp nào xong trước mà đạt các tiêu chuẩn đã định thì đoạt giải nhất.
7. Thi thổi cơm
Cuối cùng là thi thổi cơm. Cũng như các lẫn trước, lần này mỗi giáp cử ra ba hoặc bốn người. Những người này vẫn là các chàng trai chứ không phải các cô gái. Họ đứng xếp hàng trước ban giám khảo chờ đợi. Trước mặt họ là chiếc chiếu để bốn chiếc nồi đã được buộc sẵn quanh miệng một tay cầm bằng tre tươi để khi đun khỏi bị cháy. Ngoài ra phần bao quanh nổi, đoạn tre tươi ấy còn được bọc một lớp bẹ chuối tươi để bảo đảm cho khỏi bén lửa. Ở vị trí của các giáp, người ta đã chuẩn bị sẵn hai bó nứa khô làm đuốc. Gạo đã sẵn trong nồi. Dứt một hồi ba tiếng trống, các chàng trai nhanh chóng hướng vào đình cúi lạy ba lạy rồi cầm nồi chạy về vị trí của giáp mình. Họ khẩn trương vo gạo và châm đuốc, bắt đầu nấu. Khi nấu không được đứng yên tại chỗ mà phải vừa đi vừa nấu. Tùy theo sự thuận tay của người cầm nồi cơm mà anh ta có thể đi giữa còn hai người cầm đuốc cháy đốt dưới trôn nồi đi hai bên. Cũng có thể người cầm nồi đi trước hướng về hai người cầm đuốc và đi giật lùi. Hai người cầm đuốc thay phiên nhau đốt dưới đáy nồi cho cơm mau sôi. Điều bắt buộc là luôn luôn phải đi nấu và đi vòng tròn ngược chiều kim đồng hồ. Mọi việc như ghế (đảo) cơm, sửa vung… đều phải vừa đi vừa làm, không được dừng lại, ai dừng sẽ bị bắt lỗi. Khi cơm chín mới được dừng lại, vớt ra một tấm vải ướt và nắm sao cho thật chắc, tròn và mịn rồi nộp ban giám khảo. Cơm chấm xong được dâng lên bàn thờ thánh.
Cơm phải dẻo, sạch và chín. Nhão, nát hay sống là bị loại ngay. Điều khó ở đây là khi cơm sôi làm sao vừa đi vừa đảo cơm mà không đổ cơm, đổ nước, tàn lửa, tro than không bay vào. Người cầm nổi đã khó giữ cho nồi thăng bằng trong động tác vừa cầm, vừa đi, vì mỏi tay. Người đảo cơm phải chịu sức nóng của lửa đuốc táp vào người, vào tay không khéo sẽ lúng túng mà làm đổ cơm. Người cầm đuốc làm sao giữ cả bó đuốc dài, to điều khiến cho lửa cháy đúng dưới nổi, lúc cần to, lúc phải nhỏ để nước không trào ra làm tắt đuốc hỏng cơm. Đuốc bó không khéo tàn đuốc sẽ rơi vào nồi, hoặc lửa cháy quá to làm khê và cháy cơm v.v… Phải nói đây là giai đoạn quyết định và có vô vàn khó khăn đòi hỏi người dự thi phải hết sức khéo léo và có kỹ thuật đồng bộ. Thiếu những cái đó sẽ khó lòng mà thành công được.
Sau khi chấm tất cả bảy lần thi, ban giám khảo cộng điểm và tuyên bố kết quả cho các giáp. Giải không lớn nhưng ý nghĩa của nó thì rất quan trọng. Đó là niềm tự hào của cả giáp và mang lại sự thịnh vượng trong cả năm cho toàn giáp. Khỏi phải nói là người ta sung sướng đến nhường nào.
Tài liệu trích dẫn
Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001