Vua Lê Kính Tông (1588 – 1619)

Vua Lê Kính Tông (1588 – 1619)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Vua Lê Kính Tông (chữ Hán: 黎敬宗, 1588 – 23 tháng 6 năm 1619), tên húy là Lê Duy Tân (黎維新), là vị Hoàng đế thứ năm của triều Lê trung hưng và là vị vua thứ mười sáu của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Lê Kính Tông là con thứ của vua Lê Thế Tông. Thân mẫu của ông là Ý Đức Hoàng thái hậu Nguyễn Thị, quê tại xã Duy Tinh, huyện Thần Lộc (nay là xã Thuần Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Đây là một gia tộc quyền quý, có ảnh hưởng lớn trong hoàng tộc nhà Lê, và cũng là nguồn gốc sinh ra nhiều nhân vật nổi bật trong triều đình thời Lê Trung hưng. 

Bối cảnh lịch sử

Trước đó, sau khi đánh bại nhà Mạc và giành lại Đông Kinh vào năm 1592, Trịnh Tùng đã từng bước củng cố thế lực của mình. Trong những năm tiếp theo, ông loại bỏ các mối đe dọa còn sót lại từ dư đảng nhà Mạc, đồng thời khéo léo khống chế triều đình Lê, giữ cho vua Lê tính chính danh.

Đến năm 1599, Trịnh Tùng, lúc bấy giờ giữ chức Tả tướng, buộc vua Lê Thế Tông phải phong cho mình tước Bình An vương và chức Đô Nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ. Đây là chức vị cao nhất trong triều, quyền lực thực tế vượt xa vua, chỉ còn kém về danh nghĩa. Ngay sau đó, ông cho xây dựng phủ chúa ngay bên cạnh hoàng cung, biến nơi đây thành trung tâm điều hành thực sự của đất nước. Mọi việc trọng yếu như bổ nhiệm quan lại, thu thuế, tuyển quân, và xét xử đều do phủ chúa quyết định. Triều đình nhà Lê chỉ còn giữ vai trò tượng trưng, chủ yếu xuất hiện trong các nghi lễ long trọng hoặc khi tiếp sứ thần. Nhà vua chỉ còn khoảng 5.000 lính túc vệ để bảo đảm an ninh, cùng nguồn thuế của khoảng 1.000 xã để chi dụng cho hoàng cung.

Ngày 12 tháng 10 năm 1599, vua Lê Thế Tông qua đời. Sau đó, Bình An vương Trịnh Tùng triệu tập các đại thần bàn việc lập vua mới. Thái tử Lê Duy Từ, con trưởng của Thế Tông, bị cho là không thông minh, kém mẫn tiệp, nên Trịnh Tùng quyết định bỏ qua quyền kế vị của ông. Thay vào đó, ông đưa Lê Duy Tân, con thứ của Thế Tông, khi ấy mới 11 tuổi lên ngôi, lấy niên hiệu là Lê Kính Tông. Việc lập vua nhỏ tuổi cho thấy ý đồ của Trịnh Tùng bảo đảm rằng ngôi báu nằm trong tay một người không đủ sức cạnh tranh quyền lực với phủ chúa, từ đó củng cố địa vị tối thượng của họ Trịnh.

Sự nghiệp trị quốc

Ngay trước khi ông lên ngôi vào năm 1599, toàn bộ thực quyền điều hành đất nước đã nằm trong tay Trịnh Tùng, tiếp sứ và ban chỉ dụ theo sự sắp đặt của phủ chúa. Điều này khiến cho triều đình Lê, dù vẫn tồn tại trên danh nghĩa, nhưng đã trở thành một chính quyền “bù nhìn” đúng nghĩa.

Về mặt đối ngoại và quân sự, giai đoạn đầu trị vì của Lê Kính Tông gắn liền với các chiến dịch nhằm củng cố thành quả đánh bại nhà Mạc. Trịnh Tùng với danh nghĩa phụ chính tiếp tục mở nhiều đợt tấn công nhằm truy quét tàn dư họ Mạc ở vùng trung du và miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, dù đã dồn nhà Mạc vào thế yếu, các căn cứ cố thủ ở Cao Bằng và một số địa phương thuộc Việt Bắc vẫn tồn tại, buộc quân Lê – Trịnh phải nhiều lần điều binh dẹp loạn nhưng không thể xóa bỏ hoàn toàn thế lực này.

Tình hình nội trị trở nên phức tạp hơn từ năm 1600 khi Trấn thủ Thuận Hóa Nguyễn Hoàng rơi vào thế nghi kị của Trịnh Tùng, bị hạn chế quyền lực và không được trở về trấn cũ. Lợi dụng thời cơ, Nguyễn Hoàng ngấm ngầm liên kết với các thế lực chống đối như Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga, kích động nổi dậy và ngả theo nhà Mạc. Bề ngoài, Nguyễn Hoàng xin cầm quân dẹp loạn, nhưng thực chất lại bí mật bỏ doanh trại, trở về Thuận Hóa, hình thành thế đối lập lâu dài giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Sự kiện này đã làm rung chuyển tình hình chính trị tại kinh đô. Vua Lê Kính Tông cùng Trịnh Tùng phải rời Thăng Long, chạy về Thanh Hóa để tránh biến động. Nhân cơ hội đó, nhà Mạc tổ chức phản công, chiếm lại Đông Kinh. Tuy nhiên, chỉ vài tháng sau, vào tháng 8 âm lịch năm 1600, Trịnh Tùng đã huy động đại quân phản công, tái chiếm kinh thành, bắt và xử tử quốc mẫu họ Mạc, đồng thời buộc Mạc Kính Cung phải rút về cố thủ ở Cao Bằng.

Trong những năm tiếp theo, quân Lê – Trịnh nhiều lần mở các chiến dịch đánh lên Cao Bằng, Thái Nguyên và các vùng biên viễn, giành nhiều thắng lợi quan trọng. Mặc dù vậy, địa thế hiểm trở cùng sự can thiệp ngầm của nhà Minh khiến việc tiêu diệt hoàn toàn nhà Mạc vẫn chưa thực hiện được. Do mọi quyền lực nằm trong tay Trịnh Tùng, vai trò của Lê Kính Tông trong các hoạt động này chủ yếu mang tính hình thức. Ông chỉ xuất hiện trong các chuyến xa giá xuất chinh để cổ vũ tinh thần quân sĩ và giữ vai trò chính danh cho các chiến dịch quân sự, còn mọi quyết sách đều do chúa Trịnh định đoạt.

Gia quyến 

Thân phụ và thân mẫu

  • Phụ thân: Lê Thế Tông 
  • Mẫu thân: Ý Đức Hoàng thái hậu Nguyễn Thị 

Hậu phi và phi tần

  • Đoan Từ Huệ Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh: con gái Bình An vương Trịnh Tùng.
  • Cung phi Trần Thị
  • Cung phi Nguyễn Ngọc Nương: mẹ của Vân Lĩnh công Lê Duy Hỗ.
  • Cung phi Đỗ Thị

Hậu duệ

  • Lê Thần Tông (tên húy Lê Duy Kỳ, 1607 – 1662): con của Đoan Từ Huệ Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh.
  • Vân Lĩnh công Lê Duy Hỗ (1608 – 1660): con của Nguyễn Ngọc Nương.
  • Hán Dương công Lê Duy Tá (1609 – 1667)
  • Hoàng trưởng nữ Lê Thị Ngọc Tường (sinh năm 1606)
  • Hoàng nhị nữ Lê Thị Ngọc Oanh (sinh năm 1610)

Cuối đời – thờ phụng

Vào mùa hạ năm 1619, quan hệ giữa vua Lê Kính Tông và chúa Trịnh Tùng rơi vào căng thẳng tột độ. Trịnh Tùng khi đó đã nắm giữ toàn bộ quyền bính triều Lê, tước đoạt thực quyền của nhà vua, khiến vua chỉ còn danh nghĩa tượng trưng. Sự chuyên quyền này khiến Kính Tông phẫn uất, không thể chịu đựng lâu hơn.

Vua biết rằng nội bộ họ Trịnh đang tồn tại mâu thuẫn: con thứ của Trịnh Tùng là Trịnh Xuân bất mãn vì bị anh là Trịnh Tráng nắm chắc ngôi thế tử. Kính Tông liền bí mật bàn mưu với Trịnh Xuân nếu giết được Trịnh Tùng, quyền bính sẽ thuộc về Xuân, đổi lại Xuân sẽ bảo đảm địa vị cho nhà vua.

Kế hoạch được chuẩn bị cẩn mật. Trịnh Xuân biết chúa thường ra bến Đông Hà xem đua thuyền, nên ra lệnh cho thuộc hạ là Văn Đốc bố trí địa lôi và phục súng tại một ngã ba đường, nơi chúa sẽ đi qua. Quả nhiên, vào hôm Trịnh Tùng tới lầu bên sông, trên đường về, thay vì cưỡi voi như thường lệ, chúa lại bất an trong lòng nên cho voi, ngựa và nghi vệ đi trước, còn mình ngồi kiệu đi sau. Khi kiệu chúa đến ngã ba, súng phục kích nổ vang, bắn gãy cây lọng tía.

Người của chúa lập tức truy bắt, bắt được Văn Đốc cùng đồng bọn. Dưới tra khảo, Văn Đốc khai rõ có sự chỉ đạo của vua Lê Kính Tông và Vạn quận công Trịnh Xuân.

Ngày 23 tháng 6 năm 1619, Trịnh Tùng thân ngự ra phủ đường, tập hợp toàn bộ bách quan. Ông bưng mâm vàng trầu cau, rơi lệ mà nói:

Thời họ Mạc, nhà vua đã mất thiên hạ. Cha tôi thân khởi nghĩa binh, đón Tiên đế từ hang núi trở về, dựng lại triều đình. Tôi phò ba triều vua, trải trăm trận, thu phục giang sơn, hao tổn bao tâm lực, nay đã bảy mươi tuổi. Vậy mà nay nhà vua lại nghe lời kẻ phản nghịch, nhẫn tâm làm điều này.

Các đại thần văn võ đều phẫn nộ. Nguyễn Danh Thế, Lê Bật Tứ, Nguyễn Duy Thì đồng thanh:

Con bất hiếu thì phải giết, vua vô đạo thì phải phế.”

Họ xin xử cho Trịnh Xuân được tự tử, liên hệ đến các tiền án phản nghịch trước đây. Trịnh Tùng đáp rằng đây là việc trọng đại, không thể nóng vội. Sau đó, theo kiến nghị của Nguyễn Danh Thế, Trịnh Xuân bị bắt, bãi bỏ toàn bộ quan tước và binh quyền, giam vào nội phủ; đồng thời, những kẻ tham gia ám sát như Văn Đốc bị xử tử.

Hay tin âm mưu bại lộ, vua Lê Kính Tông nói với Đoan Từ Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh, vốn là con gái Trịnh Tùng:

Trẫm còn mặt mũi nào trông thấy Vương phụ nữa?

Sau đó, nhà vua tự thắt cổ trong cung, khi mới 31 tuổi.

Khi nghe tin, Trịnh Tùng vô cùng sửng sốt và thương xót. Sáng hôm sau, ông triệu các đại thần đến bàn luận. Nhiều quan cho rằng:

Nhà vua vô đạo, tự cắt đứt mệnh trời, thì tang lễ nên giảm bớt.

Nhưng Trịnh Tùng từ chối:

Lòng ta không nỡ.

Ông vẫn cho cử hành tang lễ đầy đủ như đối với thiên tử, nhưng không đưa vào thờ ở Thái miếu, mà lập điện riêng thờ, ban thụy là Giản Huy Đế, an táng tại lăng Bố Vệ. Đến năm 1631, triều đình mới dâng tôn hiệu Kính Tông Huệ Hoàng đế.

Nhận định – đánh giá

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lê Kính Tông được đánh giá như sau:

Về vai trò trị vì: Vua lên ngôi trong bối cảnh chính quyền thực quyền đã nằm trong tay chúa Trịnh. Ông chủ yếu kế thừa thể thống và giữ gìn cơ nghiệp vốn đã được gây dựng, dựa vào sức mạnh của phủ chúa để ổn định tình hình, bình định các lực lượng phản loạn, đem lại một giai đoạn tạm yên bình cho đất nước.

Về công trạng: Nhờ có mối quan hệ gắn bó với chúa Trịnh Tùng (vừa là nhạc phụ, vừa là người nắm quyền), nhà vua đã duy trì được sự hòa hợp giúp cho cơ nghiệp họ Lê không bị đứt đoạn trong giai đoạn đầy biến động.

Về hạn chế: Vua phạm sai lầm lớn khi tin vào lời mưu gian, nuôi ý định phản lại chúa Trịnh vốn là người đã phò tá và giữ quyền lực cho triều Lê. Sự việc thất bại khiến ông bị phế và buộc phải tự vẫn.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

__________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Background

Emperor Lê Kính Tông (Chinese: 黎敬宗; 1588 – 23 June 1619), personal name Lê Duy Tân (黎維新), was the fifth emperor of the Restored Lê and the sixteenth ruler of the Later Lê dynasty in Vietnamese history. He was a younger son of Emperor Lê Thế Tông. His mother was Empress Dowager Ý Đức Nguyễn Thị, from Duy Tinh village, Thần Lộc district (today Thuần Lộc commune, Hậu Lộc district, Thanh Hóa). Her clan was eminent, influential within the Lê royal house, and the source of many notable figures under the early Restored Lê.

Historical context

After defeating the Mạc and retaking Đông Kinh (Thăng Long) in 1592, Trịnh Tùng step by step consolidated his power. In the following years he eliminated remaining Mạc elements and deftly controlled the Lê court while preserving the king’s nominal legitimacy.

By 1599, as Left Chancellor, Trịnh Tùng compelled Lê Thế Tông to grant him the titles Prince Bình An, Grand Commander-in-Chief, Chief Councillor of the Realm, and Grand Preceptor—the highest offices, giving him de facto power exceeding the king’s, lacking only in name. He then built the chancellery (phủ chúa) beside the royal palace, turning it into the true center of government. Appointments, taxation, recruitment, and justice were decided there. The Lê court became largely symbolic, appearing mainly in grand ceremonies or to receive envoys. The king retained only about 5,000 palace guards and the revenues of roughly 1,000 villages for palace expenses.

On 12 October 1599, Emperor Lê Thế Tông died. Prince Bình An Trịnh Tùng then convened the ministers to settle the succession. The crown prince Lê Duy Từ, Thế Tông’s eldest, was deemed unintelligent and slow, so Trịnh Tùng bypassed him and enthroned Lê Duy Tân, a younger son, then 11 years old, as Lê Kính Tông. Elevating a child revealed Trịnh Tùng’s intent to place on the throne someone unable to challenge the chancellery’s dominance, thereby securing Trịnh supremacy.

Reign

On the eve of his accession (1599), real control of the state already lay in Trịnh Tùng’s hands; receiving envoys and issuing edicts followed the chancellery’s arrangements. Thus, although the Lê court still existed in name, it had become a puppet government in substance.

In foreign and military affairs, the early years of Lê Kính Tông coincided with campaigns to consolidate victory over the Mạc. As regent, Trịnh Tùng launched repeated expeditions to mop up Mạc remnants in the northern midlands and mountains. Yet despite driving the Mạc into weakness, strongholds in Cao Bằng and parts of Việt Bắc persisted, forcing the Lê–Trịnh to campaign repeatedly without fully eradicating them.

Domestic politics grew more complex from 1600 when Nguyễn Hoàng, Warden of Thuận Hóa, fell under Trịnh Tùng’s suspicion, was curtailed, and not allowed to return to his post. Taking advantage, Nguyễn Hoàng quietly aligned with anti-Trịnh forces such as Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga, fomented uprisings, and leaned toward the Mạc. Outwardly he requested command to suppress rebels, but in fact he slipped away and returned to Thuận Hóa—laying the groundwork for the long Đàng Trong–Đàng Ngoài (South–North) division.

This upheaval shook the capital. Lê Kính Tông and Trịnh Tùng fled Thăng Long to Thanh Hóa. The Mạc seized the chance to counterattack and reoccupy Đông Kinh. Only months later, in the eighth lunar month of 1600, Trịnh Tùng mustered a grand army to retake the capital, executed the Mạc queen mother, and forced Mạc Kính Cung back to Cao Bằng.

In subsequent years, Lê–Trịnh forces campaigned repeatedly into Cao Bằng, Thái Nguyên, and other borderlands, gaining important victories. Even so, difficult terrain and covert Ming interference prevented the Mạc’s total destruction. Since all power rested with Trịnh Tùng, Lê Kính Tông’s role in these operations was largely ceremonial—appearing on progress with the army to encourage the troops and to provide legitimacy, while decisions were made by the Trịnh.

Family
Parents

Father: Lê Thế Tông

Mother: Empress Dowager Ý Đức Nguyễn Thị

Consorts and concubines

Empress Đoan Từ Huệ Trịnh Thị Ngọc Trinh, daughter of Prince Bình An Trịnh Tùng.

Palace Consort Trần Thị.

Palace Consort Nguyễn Ngọc Nương, mother of Vân Lĩnh Duke Lê Duy Hỗ.

Palace Consort Đỗ Thị.

Issue

Lê Thần Tông (personal name Lê Duy Kỳ, 1607–1662): son of Empress Đoan Từ Huệ Trịnh Thị Ngọc Trinh.

Vân Lĩnh Duke Lê Duy Hỗ (1608–1660): son of Nguyễn Ngọc Nương.

Hán Dương Duke Lê Duy Tá (1609–1667).

Eldest Princess Lê Thị Ngọc Tường (b. 1606).

Second Princess Lê Thị Ngọc Oanh (b. 1610).

Final years and veneration

In the summer of 1619, relations between Lê Kính Tông and Trịnh Tùng reached a breaking point. By then Trịnh Tùng held all real power; the king was merely nominal, which Kính Tông could no longer bear.

Aware of tensions within the Trịnh house—Trịnh Xuân, Trịnh Tùng’s younger son, resented his elder half-brother Trịnh Tráng firmly holding the heirship—the king secretly conspired with Trịnh Xuân: if they killed Trịnh Tùng, authority would go to Xuân, who in return would secure the king’s position.

The plan was carefully laid. Knowing the lord often went to Đông Hà wharf to watch boat races, Xuân ordered his follower Văn Đốc to plant land mines and ambush guns at a three-way junction along the route. Indeed, when Trịnh Tùng went to the riverside pavilion, on his return—uneasy, he sent elephants, horses, and the retinue ahead and rode in a palanquin behind. As his palanquin reached the junction, the hidden guns fired, shattering the purple canopy.

The lord’s men immediately pursued and seized Văn Đốc and accomplices. Under interrogation, Văn Đốc confessed the plot was directed by King Lê Kính Tông and Vạn quận công Trịnh Xuân.

On 23 June 1619, Trịnh Tùng personally appeared at the chancery, summoning all officials. Holding a gold tray of betel and areca, he wept and said:

“In the time of the Mạc, the king had lost the realm. My father raised righteous troops, brought the Former Emperor back from caves and mountains, and restored the court. I have served three reigns, fought a hundred battles, recovered the land, and spent my strength; now I am seventy. Yet the king has heeded traitors and done this heartless thing.”

Civil and military officials were indignant. Nguyễn Danh Thế, Lê Bật Tứ, Nguyễn Duy Thì declared:

“An unfilial son must be killed; an unrighteous king must be deposed.”

They petitioned to allow Trịnh Xuân to commit suicide, citing his prior treasons. Trịnh Tùng replied the matter was grave and not to be rushed. On Nguyễn Danh Thế’s recommendation, Trịnh Xuân was arrested, stripped of all rank and command, and confined to the inner palace; conspirators like Văn Đốc were executed.

Learning the plot had failed, Lê Kính Tông said to Empress Đoan Từ Trịnh Thị Ngọc Trinh, Trịnh Tùng’s daughter:

“How can I still face the Prince-Protector?”

He then hanged himself in the palace, at age 31.

On hearing the news, Trịnh Tùng was stunned and grieved. The next morning he convened the ministers. Many argued:

“The king acted without virtue, cutting off the Mandate of Heaven; the funeral should be reduced.”

But Trịnh Tùng refused:

“My heart cannot bear it.”

He ordered full funeral rites as for a Son of Heaven, but did not place him in the Ancestral Temple; instead he set up a separate hall of worship, granted the posthumous title Giản Huy Đế, and buried him at Bố Vệ tomb. In 1631, the court later conferred the imperial style Kính Tông Huệ Hoàng đế.

Assessment

According to Đại Việt Sử ký Toàn thư, assessments of Lê Kính Tông are as follows:

As ruler: He ascended when real power already rested with the Trịnh. He chiefly upheld form and preserved the established order, relying on the chancellery’s strength to stabilize affairs, pacify rebels, and bring a period of relative calm.

Merit: Owing to his close ties with Trịnh Tùng (both father-in-law and power-holder), the king maintained harmony that kept the Lê enterprise from breaking during a turbulent time.

Shortcomings: He committed a grave error in trusting crafty counsel and plotting against the Trịnh lord who had supported the Lê and held power for the dynasty. The failed plot led to his deposition and forced suicide.

References

  1. Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Youth Publishing House.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Education Publishing House.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Đồng Tháp General Publishing.
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Social Sciences Publishing House.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Nôm Heritage Preservation Society.
  6. Lê triều ngọc phả.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Bắc Thành Press.
  8. Imperial Historiography Office of the Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Education Publishing House.

__________________

Tiếng Pháp (français’)

Origines

Lê Kính Tông (chinois : 黎敬宗, 1588 – 23 juin 1619), nom personnel Lê Duy Tân (黎維新), est le cinquième empereur de la dynastie des Lê restaurés et le seizième souverain de la maison des Hậu Lê dans l’histoire du Việt Nam. Il est le second fils de l’empereur Lê Thế Tông. Sa mère est l’impératrice douairière Ý Đức Nguyễn Thị, originaire du village Duy Tinh, district Thần Lộc (aujourd’hui Thuần Lộc, district de Hậu Lộc, province de Thanh Hóa). Il appartient à une lignée prestigieuse, très influente au sein de la famille impériale des Lê, d’où sont issus de nombreux personnages marquants de la cour sous les Lê restaurés.

Contexte historique

Après la défaite des Mạc et la reconquête de Đông Kinh en 1592, Trịnh Tùng consolide graduellement son pouvoir. Dans les années suivantes, il élimine les dernières menaces des partisans Mạc et tient la cour Lê sous contrôle, tout en préservant la légitimité du roi.

En 1599, alors Tả tướng (grand conseiller de gauche), Trịnh Tùng contraint Lê Thế Tông à le créer Bình An vương et à lui conférer les titres de Đô Nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ — des charges suprêmes qui lui donnent un pouvoir effectif supérieur à celui du roi. Il fait aussitôt construire le phủ chúa (résidence du seigneur) à côté même du palais, en faisant le véritable centre de gouvernement. Nominations, fiscalité, levées, justice : tout relève de la maison Trịnh. La cour Lê ne conserve qu’un rôle symbolique, réservée aux cérémonies et aux réceptions d’ambassades. Le roi ne garde qu’environ 5 000 gardes et les revenus d’environ 1 000 communes pour l’entretien du palais.

Le 12 octobre 1599, Lê Thế Tông meurt. Trịnh Tùng réunit alors les grands pour choisir le successeur. Le prince héritier Lê Duy Từ, jugé peu intelligent et peu vif, est écarté. À sa place, Lê Duy Tân, second fils de Thế Tông, âgé de 11 ans, est intronisé sous le nom de Lê Kính Tông. Le choix d’un enfant-roi révèle l’intention de Trịnh Tùng : placer sur le trône un souverain incapable de contester l’autorité du phủ chúa, et ainsi asseoir sa suprématie.

Règne

Dès 1599, tout le pouvoir réel est entre les mains de Trịnh Tùng ; audiences et édits suivent les instructions du phủ chúa. La cour Lê subsiste de nom, devenue un pouvoir de façade.

Politique extérieure et militaire

Le début du règne de Kính Tông s’inscrit dans la poursuite des opérations contre les Mạc. Trịnh Tùng, comme régent, lance plusieurs campagnes pour balayer les restes Mạc dans le moyen et haut pays du Nord. Malgré leur affaiblissement, les places fortes de Cao Bằng et d’autres zones du Việt Bắc se maintiennent, obligeant les Lê–Trịnh à revenir souvent à la charge sans parvenir à éliminer totalement leur pouvoir.

Séparation Đàng Ngoài – Đàng Trong

À partir de 1600, la situation intérieure se tend quand Nguyễn Hoàng, gouverneur de Thuận Hóa, se heurte à la méfiance de Trịnh Tùng : ses pouvoirs sont restreints, et on lui refuse le retour dans son fief. Il en profite pour tisser des liens avec des opposants (Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga), soulève des révoltes et fait mine de rallier les Mạc. Sous couvert de réprimer les troubles, il quitte secrètement le camp et rentre à Thuận Hóa, posant les bases de la dualité durable entre Đàng Trong (Sud, Nguyễn) et Đàng Ngoài (Nord, Lê–Trịnh).

Le choc ébranle la capitale. Kính Tông et Trịnh Tùng doivent quitter Thăng Long pour Thanh Hóa. Les Mạc en profitent pour reprendre Đông Kinh. Mais, en août 1600, Trịnh Tùng contre-attaque, réoccupe la capitale, fait exécuter la reine-mère des Mạc et force Mạc Kính Cung à se replier sur Cao Bằng.

Dans les années suivantes, les Lê–Trịnh mènent de multiples campagnes vers Cao Bằng, Thái Nguyên et les frontières, remportant des succès importants. Toutefois, le relief difficile et l’immixtion discrète des Ming empêchent l’éradication totale des Mạc. Comme toutes les décisions émanent de Trịnh Tùng, le rôle de Kính Tông reste formel : il accompagne parfois les déplacements royaux pour encourager les troupes et couvrir de sa légitimité les opérations, mais ne décide pas.

Famille
Parents

Père : Lê Thế Tông

Mère : Ý Đức hoàng thái hậu Nguyễn Thị

Épouses et favorites

Impératrice Đoan Từ Huệ Trịnh Thị Ngọc Trinh : fille du Bình An vương Trịnh Tùng.

Cung phi Trần Thị.

Cung phi Nguyễn Ngọc Nương : mère du Vân Lĩnh công Lê Duy Hỗ.

Cung phi Đỗ Thị.

Descendance

Lê Thần Tông (nom personnel Lê Duy Kỳ, 1607–1662) : fils de l’impératrice Đoan Từ Huệ Trịnh Thị Ngọc Trinh.

Vân Lĩnh công Lê Duy Hỗ (1608–1660) : fils de Nguyễn Ngọc Nương.

Hán Dương công Lê Duy Tá (1609–1667).

Princesse aînée Lê Thị Ngọc Tường (née 1606).

Princesse seconde Lê Thị Ngọc Oanh (née 1610).

Fin de règne — culte

À l’été 1619, la relation entre Kính Tông et Trịnh Tùng atteint une tension extrême. Trịnh Tùng concentre toute l’autorité, réduisant le roi à un rôle nominal. Kính Tông, outragé, ne supporte plus cette tutelle.

Conscient des divisions dans la maison Trịnh — le fils cadet Trịnh Xuân se voyant évincé par son frère Trịnh Tráng, héritier — le roi conspire avec Trịnh Xuân : éliminer Trịnh Tùng, remettre le pouvoir à Xuân, lequel garantirait la position du roi.

Le plan est minutieux. Sachant que Trịnh Tùng aime assister aux courses de bateaux au quai Đông Hà, Trịnh Xuân fait placer des mines et des mousquets en embuscade à un carrefour. Le jour venu, le seigneur, méfiant, laisse éléphant, chevaux et cortège passer devant et suit en palanquin. À l’endroit prévu, les coups de feu claquent, ne faisant que briser le parasol pourpre.

Les hommes du seigneur capturent Văn Đốc et ses complices. Sous la torture, Văn Đốc avoue l’implication du roi et du Vạn quận công Trịnh Xuân.

Le 23 juin 1619, Trịnh Tùng siège en personne, réunit tous les dignitaires, présente un plateau d’or avec bétel et noix d’arec, et, en larmes, rappelle ses services rendus à la maison Lê depuis la lutte contre les Mạc. Des voix s’élèvent — Nguyễn Danh Thế, Lê Bật Tứ, Nguyễn Duy Thì :
« Un fils indigne doit être mis à mort, un roi sans vertu doit être déposé. »

On exige que Trịnh Xuân se suicide, au regard de ses antécédents de rébellion. Trịnh Tùng temporise, jugeant l’affaire trop grave pour agir dans la précipitation. Finalement, sur proposition de Nguyễn Danh Thế, Trịnh Xuân est arrêté, destitué de tous titres et emprisonné ; les exécutants comme Văn Đốc sont mis à mort.

Informé de l’échec, Lê Kính Tông dit à l’impératrice Đoan Từ Trịnh Thị Ngọc Trinh, fille de Trịnh Tùng :
« Comment oserais-je encore regarder le Seigneur-père en face ? »
Puis il se pend dans le palais, à 31 ans.

À la nouvelle, Trịnh Tùng, abasourdi et affligé, réunit le conseil. Certains proposent de réduire les funérailles :
« Le roi, sans vertu, a rompu le Mandat du Ciel ; qu’on abrège les rites. »
Trịnh Tùng refuse :
« Mon cœur ne s’y résout pas. »

Il ordonne des funérailles complètes « comme pour un fils du Ciel », mais n’autorise pas son culte au Thái miếu : un sanctuaire séparé est érigé, il reçoit le nom posthume Giản Huy Đế, et est inhumé au tombeau Bố Vệ. En 1631, la cour lui confère le titre de Kính Tông Huệ Hoàng Đế.

Appréciations

Selon le Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Kính Tông :

Contexte du règne : monte sur le trône alors que le pouvoir réel appartient déjà au seigneur Trịnh. Il préserve surtout la forme et maintient l’œuvre établie, s’appuyant sur la maison Trịnh pour stabiliser la situation et pacifier les troubles — apportant une accalmie relative au pays.

Mérites : sa bonne entente avec Trịnh Tùng (à la fois beau-père et détenteur du pouvoir) permet de préserver la continuité de la maison Lê dans une période agitée.

Limites : il commet une grave faute en se laissant convaincre par des intrigues, nourrissant le projet de trahir le seigneur Trịnh — celui-là même qui soutenait la dynastie. L’échec du complot aboutit à sa destitution et à son suicide forcé.

Références

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, éd. Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, éd. Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, éd. Tổng hợp Đồng Tháp.
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, … (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, éd. Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm.
  6. Lê triều ngọc phả.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nha In Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, éd. Giáo dục.

__________________

Tiếng Trung (中文)

身世

黎敬宗(1588-1619年6月23日),名黎維新,為黎中興第五位皇帝、後黎第十六位君主。其為黎世宗之次子,母義德皇太后阮氏(籍隸清化省厚祿縣純祿社〔舊稱神祿縣惟情社〕)。其家族名門望族,於黎中興時期在宗室與朝廷中均具顯著影響,並出多位重臣。

歷史背景

1592年收復東京(昇龍)擊敗莫朝後,鄭松漸次鞏固權勢。隨後數年,他剷除莫氏殘餘之威脅,同時以「保全黎氏正統」之名有度控制黎廷。

至1599年,時任左相之鄭松迫使黎世宗冊封其為平安王,並授都元帥、總國政、上父等職,權柄實上凌駕於帝,僅名分稍遜。繼而於皇城旁建府第,成為國政實際中樞。凡官吏任免、稅賦、募兵、刑獄等皆由府中裁決;黎廷徒存儀禮之用,僅於大禮或接見使節時出現。皇帝僅領約五千宿衛與約一千社之稅入供內廷支用。

1599年10月12日,黎世宗崩。平安王鄭松召群臣議立新君。太子黎維慈(世宗長子)被評「不敏不捷」,鄭松遂越其嫡長之序,立世宗之次子黎維新(時年十一)即位,改元「敬宗」。立少主之舉,意在確保帝位屬於不能與鄭府爭權者,藉以固化鄭氏至上之地位。

施政

敬宗即位之前,國政大權已盡歸鄭松;受使與詔令皆依鄭府安排。是以黎廷雖存其名,實已成「傀儡」政權。

對外與軍事方面,敬宗前期之治,主要繫於延續掃除莫氏殘部之諸役。鄭松以輔政名義,屢興兵討伐越北山區與中游之莫黨。然雖使莫氏式微,其據高平及越北若干據點仍存,黎—鄭軍多次進剿,終未能盡滅。

1600年起,內政更形複雜。順化鎮守阮潢(阮潢=阮鴻,通稱阮潢/阮鴻,史亦作阮黃)為鄭松所疑,權限受抑,且不得還鎮。阮潢乘機聯結反對勢力,如潘雁、裴文奎、吳廷雅等,煽動起事並傾向莫氏。表面請兵「討亂」,實則潛離營壘,返據順化,自此形成內外(南北)分治之勢:內地為「北圻」(鄭主—黎王),南方為「南圻」(阮氏)。

此事震動京都。敬宗與鄭松一度離東京南走清化以避變。莫氏乘隙反攻,復據東京。然僅數月後(1600年八月),鄭松大舉北返,復取京城,擒誅國母莫氏,迫莫敬恭退守高平。

其後數年,黎—鄭軍屢攻高平、太原及邊境諸地,戰果頻有;惟山川險阻,加以明朝之陰援,使莫氏未盡絕。由於權力盡在鄭松,敬宗於諸役所扮演者多為名義上之主帥與勸勵士氣者,軍政決策皆由鄭府裁定。

家眷

父母

父:黎世宗(黎世宗=黎世宗/黎世宗,通稱黎世宗,即黎世宗=黎世宗,亦作黎世宗,即黎世宗=黎世宗);

母:義德皇太后阮氏。

后妃

端慈惠皇后鄭氏玉貞:平安王鄭松之女。

宮妃陳氏

宮妃阮玉娘:雲嶺公黎維祜之母。

宮妃杜氏

子女

黎神宗(名黎維祺,1607-1662):端慈惠皇后鄭氏玉貞所生。

雲嶺公黎維祜(1608-1660):阮玉娘所生。

漢陽公黎維佐(1609-1667)

長公主黎氏玉祥(1606生)

次公主黎氏玉鶯(1610生)

末年・祀奉

1619年夏,敬宗與鄭松之關係至為緊張。鄭松專權已久,奪盡帝之實權,帝久忍不下。時鄭氏內部亦多隙:鄭松之次子鄭宣不服嫡兄鄭橑為世子。敬宗乃與鄭宣密謀:若誅鄭松,權歸鄭宣,以保皇位。

陰謀部署甚密:鄭宣知其父常至東河津觀賽龍舟,乃令屬下文督於要津三岔設地雷、伏槍。其日鄭松赴江樓,歸時心不自安,令象馬儀衛先行,自乘肩輿居後。輿至岔口,伏槍齊發,打斷紫蓋。

鄭方急捕,執文督等。拷問之下,供稱此事由黎敬宗與萬郡公鄭宣指使。

六月二十三日,鄭松親臨府堂,集百官,捧金盤齋果而涕泣曰:
「莫氏之時,天命已離。先君(指黎世宗)幽處山谷,我父起兵迎之,復建朝廷。予佐三朝,百戰收復江山,心力俱瘁,今年七十。而今上反聽逆謀,忍為此事。」

群臣憤然。阮丹世、黎弼祚、阮惟時同聲曰:「子不孝則誅,君無道則廢。」請令鄭宣自裁,且引其前案以證反叛。鄭松曰事關重大,不可躁急。遂依阮丹世之議,執鄭宣,革其官爵兵權,幽於內府;與謀者文督等處死。

陰謀敗露,敬宗語端慈皇后鄭氏玉貞(鄭松之女)曰:「朕復何面目以見王父?」遂自縊於宮,年僅三十一。

鄭松聞之,大驚而哀。翌日召臣議禮。或曰:「君無道,自絕於天,其喪宜從簡。」鄭松曰:「吾心不忍。」仍依天子之禮舉哀,惟不入祀太廟,別設殿祀之,賜諡「簡徽帝」,葬於布衛陵。至1631年,朝廷方上尊號為「敬宗惠皇帝」。

評價

據《大越史記全書》:

在位定位:敬宗即位時,實權已歸鄭主。其職在承續體統、維繫基業,倚鄭府之力以安內定亂,使國勢得一時之寧。

功績:因與鄭松(兼為岳父且執政者)之關係維持和合,使黎室於多難之世不致中絕。

缺失:誤信奸計,意圖反制鄭主(其人實長期輔黎之權臣),陰謀敗露,致被廢而自盡,此其大過。

參考資料

  1. 瓊居、杜德雄(2001),《各朝代越南》,青年出版社。
  2. 潘輝注(2007),《歷朝憲章類誌》,教育出版社。
  3. 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔綜合出版社。
  4. 黎文休、潘夫僊、吳士連等(1993),《大越史記全書》,社會科學出版社。
  5. 黎嵩,《大越通鑑總論》,字喃遺產保護會。
  6. 《黎朝玉譜》。
  7. 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印書館。
  8. 阮朝國史館(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)