Thân thế
Lê Thần Tông (chữ Hán: 黎神宗, 1607 – 2 tháng 11 năm 1662), húy Lê Duy Kỳ (黎維祺), là vị hoàng đế thứ sáu của triều Lê trung hưng và thứ mười bảy của nhà Hậu Lê. Ông sinh ngày 19 tháng 11 âm lịch năm Đinh Mùi (1607), là đích trưởng tử của vua Lê Kính Tông và hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh – thứ nữ của chúa Trịnh Tùng (cháu nội của Lê Thế Tông và cháu ngoại Trịnh Tùng). Sử sách miêu tả Lê Duy Kỳ là người có diện mạo khôi ngô, mũi cao, khuôn mặt được ví như mặt rồng, toát lên vẻ uy nghi của bậc đế vương. Ông là vị vua đặc biệt trong lịch sử Việt Nam khi hai lần lên ngôi, có bốn người con đều làm vua, là vị vua đầu tiên kết hôn với phụ nữ phương Tây và cũng có nhiều hoàng hậu, phi tần xuất thân từ các dân tộc khác nhau.
Bối cảnh lịch sử
Lê Duy Kỳ ra đời trong giai đoạn cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều kéo dài hàng chục năm giữa nhà Lê trung hưng và nhà Mạc đã cơ bản đi đến hồi kết, thế lực họ Mạc chỉ còn co cụm ở vùng Cao Bằng, dựa vào sự bảo hộ của nhà Minh. Tuy nhiên, dù danh nghĩa hoàng quyền vẫn thuộc về nhà Lê, thực tế mọi quyền bính lớn nhỏ trong triều đều do phủ chúa họ Trịnh nắm giữ. Nhà vua không có thực quyền trong tay, quyền lực đều tập trung trong tay chúa Trịnh.
Trong bối cảnh ấy, cha ông là vua Lê Kính Tông mang nỗi bất bình sâu sắc. Cơ hội đến khi Trịnh Xuân, con trai thứ của chúa Trịnh Tùng và là cậu ruột của Lê Duy Kỳ, nuôi tham vọng tranh đoạt ngôi vị thế tử của người anh cùng cha khác mẹ là Trịnh Tráng. Cùng chung lợi ích, vua Kính Tông bí mật liên minh với Trịnh Xuân, lập mưu lật đổ Trịnh Tùng, nhằm vừa khôi phục thực quyền cho hoàng đế, vừa đưa Trịnh Xuân lên thay thế Trịnh Tráng, tạo thế cân bằng quyền lực mới.
Tuy nhiên, mưu đồ này nhanh chóng bị bại lộ. Tháng Năm năm Kỷ Mùi (1619), Trịnh Tùng ra tay trấn áp. Trịnh Xuân thất bại, phải bỏ trốn, vua Kính Tông bị ép buộc phải tự thắt cổ. Chỉ ít lâu sau, Trịnh Tùng lập cháu ngoại là Lê Duy Kỳ, khi ấy mới 12 tuổi, lên ngôi hoàng đế là vua Lê Thần Tông.
Việc đưa một vị vua còn nhỏ tuổi lên ngôi càng củng cố quyền thao túng triều chính của phủ chúa, đồng thời đánh dấu giai đoạn mới trong mô hình “vua Lê – chúa Trịnh”, khi quyền lực của vua ngày càng thu hẹp và hoàn toàn phụ thuộc vào chúa.
Sự nghiệp trị quốc
Lê Thần Tông là vị vua duy nhất của nhà Hậu Lê có hai lần ở ngôi, kéo dài tổng cộng 37 năm (1619 – 1643 và 1649 – 1662).
Lần trị vì thứ nhất (1619 – 1643)
- Lên ngôi và những biến động nội bộ họ Trịnh
Sau khi được đưa lên ngai (1619), ông bước vào một bối cảnh chính trị đầy rối ren: quyền hành thực tế đã rơi vào tay họ Trịnh, song ngay khi Bình An vương Trịnh Tùng băng (1623), nội bộ nhà Trịnh vẫn dậy sóng. Trịnh Xuân một lần nữa khởi loạn tranh ngôi, và Lê Thần Tông cùng Thế tử Trịnh Tráng phải thân chinh ra Thanh Hóa để dẹp loạn, hành động cho thấy vai trò hình thức của nhà vua nhưng cũng buộc ông phải trực tiếp tham gia các việc quân sự dưới ảnh hưởng của phủ chúa.
- Bùng nổ chiến tranh Trịnh – Nguyễn
Thời kỳ đầu triều đại trị vì của Lê Thần Tông chứng kiến tiếng súng dữ dội của cuộc chiến Trịnh – Nguyễn dưới danh nghĩa “phù Lê” hai phe thực chất tranh giành ảnh hưởng và lãnh thổ. Khi Nguyễn Phúc Nguyên tỏ thái độ ly khai, chiếm cứ Thuận Hóa – Quảng Nam, Trịnh Tráng đã rước vua Thần Tông thân chinh Nam tiến (1627), nhưng chiến dịch không thành trước hệ thống phòng thủ kiên cố của quân Nguyễn, buộc quân Lê – Trịnh rút lui trong thế bế tắc.
- Quan hệ cá nhân với họ Trịnh và sự kiện hôn nhân gây tranh cãi
Đời sống chính trị trong cung cũng phản ánh mối quan hệ tương khắc giữa vua và phủ chúa, năm 1630 Lê Thần Tông bị buộc cưới Trịnh Thị Ngọc Trúc, con gái chúa Trịnh Tráng. Bà trước đó trước đó là phu nhân Cường quận công Lê Trụ (bác họ vua Lê Thần Tông), do âm mưu mưu phản nên bị chúa Trịnh Tráng giết. Trịnh Thị Ngọc Trúc hơn vua Lê Thần Tông 12 tuổi, dù nhiều đại thần can gián, nhà vua vốn không có thực quyền nên chỉ đành nhận lời với thái độ cam chịu: “Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy.”
- Hai lần Nam tiến tiếp theo
Các lần Nam tiến sau đó (1633 và đợt lớn vào đầu 1643) vẫn không đem lại thắng lợi cho liên quân Lê – Trịnh. Trong chiến dịch 1643, xa giá của Thần Tông tiến tới châu Bố Chính, đóng quân tại An Bài trong khi các tướng tiến đến cửa Nhật Lệ; quân Nguyễn dưới quyền chỉ huy của các tướng lĩnh địa phương, lợi dụng công sự như Lũy Thầy và điều kiện địa lý, cùng với khí hậu mùa hè nóng nực khiến bệnh tật hoành hành, đã bắt quân Lê – Trịnh vào thế kiệt quệ buộc phải lui quân.
- Nhường ngôi và lui về làm Thái thượng hoàng
Sau những chuỗi sự kiện và 25 năm ở ngôi, vào tháng 10 năm 1643 vua Lê Thần Tông quyết định nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu (Lê Chân Tông) và lui về làm Thái thượng hoàng.
Lần trị vì thứ hai (1649 – 1662)
- Trở lại ngai vàng
Khi Lê Chân Tông mất sớm (1649), Thần Tông được đưa trở lại ngai, mở ra lần trị vì thứ hai. Mặc dù vẫn không trực tiếp nắm toàn bộ chính quyền, ông quan tâm tới khoa cử và văn hiến: năm 1652 tại kỳ thi Điện, vua đích thân ra đề văn sách nhằm khảo sát tư duy về chính sự, lần đó Hồ Sĩ Dương cùng sáu người khác đỗ đồng tiến sĩ xuất thân, cho thấy Thần Tông vẫn muốn duy trì truyền thống học thuật và trật tự hành chính của triều.
- Chiến tranh Trịnh – Nguyễn vẫn tiếp diễn
Chiến sự với họ Nguyễn vẫn dai dẳng; sau một số thắng bại giằng co, năm 1660 quân Lê – Trịnh đẩy lùi được quân Nguyễn khỏi Nghệ An, rồi năm 1661 Trịnh Tạc đem đại quân Nam tiến có sự hộ giá của vua, nhưng lại vấp phải phòng tuyến kiên cố của Nguyễn Hữu Dật ở Nam Bố Chính; sau nhiều tháng sa lầy, thiếu lương, cuối cùng quân Trịnh phải rút về đầu năm 1662.
Gia quyến
Thân phụ: Vua Lê Kính Tông, trị vì từ năm 1600 đến 1619.
Thân mẫu: Trịnh Thị Ngọc Trinh, thứ nữ của chúa Bình An vương Trịnh Tùng
Hoàng hậu: Tháng 5 năm Canh Ngọ (1630), khi vua Lê Thần Tông mới 23 tuổi, theo sự sắp đặt của chúa Trịnh Tráng, ông cưới con gái của chúa là Trịnh Thị Ngọc Trúc, khi đó đã 36 tuổi, và lập làm hoàng hậu. Sau một thời gian ngắn giữ ngôi vị quốc mẫu, bà Ngọc Trúc đưa con gái Ngọc Duyên (con bà và Lê Trụ) rời cung, đến tu hành tại chùa Bút Tháp, phía tây thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay.
Hậu phi:
- Cung phi Phạm Thị Ngọc Hậu, quê ở Thanh Hóa, sau được phong Đoan Thuần Hoàng thái hậu và là mẹ của vua Lê Huyền Tông. Bà nổi tiếng xinh đẹp, đức hạnh, gặp vua nhờ một giấc mộng kỳ duyên. Năm 1654 bà sinh hoàng tử Lê Duy Vũ, sau được lập làm Thái tử rồi lên ngôi khi mới 9 tuổi. Khi con mất sớm, bà lui về tu tâm, làm việc thiện cho đến khi qua đời.
- Quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch, quê Nam Định, được vua gặp trong chuyến ngự thuyền xuôi sông Đáy. Vì ấn tượng với dung nhan và thần thái khác thường của bà, vua rước vào cung, lập làm Quý phi. Sau này bà được truy tôn Minh Thục Hoàng thái hậu và được lập đền thờ ở quê.
- Chiêu nghi Lê Thị Ngọc Hoàn, người Thanh Hóa, là mẹ vua Lê Gia Tông. Bà mất sớm sau khi sinh hoàng tử, con được chúa Trịnh nuôi dạy. Khi con lên ngôi, bà được truy tôn Chiêu nghi.
- Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Tấn, quê Bắc Ninh, mẹ vua Lê Hy Tông. Bà mang thai khi vua Thần Tông mất, phải về quê sinh con. Con trai Cáp sau này được rước vào cung lên ngôi. Khi bà mất, Lê Hy Tông tổ chức tang lễ trọng thể và lập đền thờ tại quê nhà.
- Ngoài ra, còn có các Tiệp dư khác như Đặng Thị, Nguyễn Thị Nhâm, Nguyễn Thị Sinh, Nguyễn Thị Vĩ, Trần Thị Lãng cùng 5 vị Tiệp dư ngoại quốc.
Hậu duệ: Vua Lê Thần Tông có 4 người con trai lần lượt lên ngôi vua. Tuy nhiên, trừ hoàng tử út Lê Hy Tông, ba người con trai lên ngôi trước đều yểu mệnh.
- Hoàng trưởng tử (? – ?)
- Lê Chân Tông (tên thật: Lê Duy Hựu, chữ Hán: 黎維祐). Sinh năm 1630, mất năm 1649. Mẹ là Minh Thục Hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Bạch. Lên ngôi năm 1643, ở ngôi 6 năm
- Lê Huyền Tông (tên thật: Lê Duy Vũ, chữ Hán: 黎維禑). Sinh năm 1654, mất năm 1671. Mẹ là Đoan Thuần Hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu. Lên ngôi khi mới 7 tuổi, ở ngôi 17 năm, mất sớm khi 18 tuổi
- Lê Gia Tông (tên thật: Lê Duy Cối, chữ Hán: 黎維禬). Sinh năm 1661, mất năm 1675. Mẹ là Chiêu Nghi Lê Thị Ngọc Hoàn. Ở ngôi 4 năm, mất khi mới 15 tuổi
- Lê Hy Tông (tên thật: Lê Duy Cáp, chữ Hán: 黎維祫). Sinh năm 1663, mất năm 1716. Mẹ là Cung nhân Trịnh Thị Ngọc Tấn. Lên ngôi năm 1676, ở ngôi lâu dài và có vai trò quan trọng trong giai đoạn ổn định của triều Lê Trung hưng
- Hoàng trưởng nữ Lê Thị Ngọc Duyên. Mẹ là Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. Là con riêng của hoàng hậu với Lê Trụ, được vua Lê Thần Tông nhận làm con
- Hoàng nhị nữ Lê Thị Ngọc Thỉnh. Mẹ là Tiệp dư Nguyễn Thị Nhân
- Hoàng tam nữ Lê Thị Ngọc Hài. Mẹ là Tiệp dư Nguyễn Thị Sinh
- Hoàng tứ nữ Lê Thị Ngọc Điều. Mẹ là Tiệp dư Nguyễn Thị Vĩ
- Hoàng ngũ nữ Lê Thị Ngọc Triện. Mẹ là Tiệp dư Trịnh thị
- Hoàng lục nữ Lê Thị Ngọc An. Mẹ là Tiệp dư Trần Thị Lãng
- Hoàng thất nữ Lê Thị Ngọc Ngọc
Ngoài con ruột, vua Lê Thần Tông còn nhận ba người làm con nuôi, trong đó có một người nước ngoài:
- Charles Hartsink, người Hà Lan.
- Lê Duy Tào
- Lê Duy Lương
Cuối đời – thờ phụng
Năm 1662, Sức khỏe của Lê Thần Tông sa sút, triều đình rơi vào thế bế tắc, cả về quân sự lẫn chính trị. Các cuộc chiến không đạt được tiến triển rõ rệt, trong khi nội trị lại lệ thuộc nặng nề vào quyền thần. Căn bệnh trở nặng nhanh chóng và đến ngày 22 tháng 9 năm 1662 vua băng hà, hưởng thọ 56 tuổi. Trong suốt cuộc đời trị vì, Lê Thần Tông đã hai lần lên ngôi, tổng cộng cộng dồn là 37 năm. Sau khi qua đời, thi hài ông được đưa về an táng tại Ngọc Long, thuộc xã Quần Lai, huyện Lôi Dương, nay là thôn Xuân Tân, xã Xuân Hưng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Các phi tần của Lê Thần Tông nổi tiếng là những người sống hòa thuận, gắn bó và chan hòa tình cảm với nhau, một điều hiếm thấy trong chốn hậu cung. Ngay cả khi cái chết cận kề, cả sáu người vợ của ông đều bày tỏ nguyện vọng sẽ mãi mãi được ở bên nhau, không để chia lìa. Tương truyền rằng tại chùa Mật Sơn, tỉnh Thanh Hóa, có sáu pho tượng nhập thần của sáu bà, do chính họ đồng lòng, cùng nhau bỏ tiền công đức để thực hiện, với mong muốn được trường tồn bên nhau cả khi đã sang thế giới bên kia. Trong số này, pho tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc được tạc ngự trên tòa sen, biểu thị vị trí tôn quý của bà. Năm pho tượng còn lại đều đội vương miện, ngồi trong tư thế tọa thiền, mỗi pho tượng mang một dung mạo riêng, thể hiện sắc thái và nét đẹp khác biệt, đồng thời được khắc họa đúng với y phục dân tộc đặc trưng của từng người. Đến năm 1959, năm pho tượng vợ vua Lê Thần Tông (ngoại trừ pho tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc) đã được rước từ chùa Mật Sơn về đặt tại đền Nhà Lê, một di tích lịch sử đã được công nhận cấp Nhà nước, nằm cách chùa hơn một cây số thuộc địa phận phường Đông Vệ, Thanh Hóa. Riêng pho tượng Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc được đưa về lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, trở thành một tác phẩm điêu khắc quý hiếm vừa mang giá trị lịch sử vừa mang giá trị nghệ thuật đặc biệt.
Nhận định – đánh giá
Các sử gia đương thời và hậu thế khi nhận định về vua Lê Thần Tông thường có những đánh giá vừa khẳng định tài năng, đức độ, vừa chỉ ra những hạn chế trong vai trò của ông đối với triều đình.
Theo ghi chép trong Đại Việt Sử ký Toàn thư, nhà vua được miêu tả là người có tướng mạo khôi ngô, sống mũi cao, khuôn mặt mang vẻ uy nghi của “mặt rồng”. Ông thông minh, học vấn uyên bác, mưu lược sâu sắc, giỏi về văn chương, hoàn toàn xứng đáng là một vị vua tài năng. Tuy nhiên, điểm hạn chế lớn của Lê Thần Tông là việc quản lý hậu cung không có chế độ, kỷ cương rõ ràng, tạo ra khoảng trống trong quản trị nội đình, đây được xem là một khuyết điểm trong công tác trị quốc.
Một số tư liệu khác lại bổ sung thêm những nét về tính cách và phong thái của ông. Lê Thần Tông không chỉ thông minh, am hiểu sâu về văn chương mà còn có vẻ người thanh tú, biết giữ hòa khí với nhà chúa, duy trì được mối quan hệ hòa hợp trong cơ cấu “vua Lê – chúa Trịnh”. Ông có phong thái thuần hậu, hòa mục, sống điềm đạm, gần như ung dung “rủ áo chắp tay mà hưởng lộc trời”, nghĩa là không quá can dự sâu vào việc điều hành mà để quyền lực thực tế cho chúa Trịnh đảm trách. Điều này, ở một khía cạnh nào đó, giúp đất nước duy trì ổn định chính trị, tránh xung đột giữa hai đầu quyền lực.
Đáng chú ý, trong suốt cuộc đời mình, Lê Thần Tông đã bốn lần thân chinh xuất trận và hai lần đăng cơ làm vua một sự kiện hiếm có trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, chính lối trị vì thiên về an hưởng, nhường thực quyền cho chúa Trịnh, tuy giúp giữ hòa khí, lại khiến nhà vua dần trở thành biểu tượng nghi lễ hơn là một người trực tiếp chèo lái vận mệnh quốc gia.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
- Lê triều ngọc phả
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
___________________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Background
Le Than Tong (Chinese: 黎神宗; 1607 – 2 November 1662), personal name Le Duy Ky (黎維祺), was the sixth emperor of the Restored Le and the seventeenth of the Later Le dynasty. He was born on the 19th day of the 11th lunar month, year Dinh Mui (1607), the legitimate eldest son of Emperor Le Kinh Tong and Empress Trinh Thi Ngoc Trinh, the second daughter of Lord Trinh Tung (thus a paternal grandson of Le The Tong and maternal grandson of Trinh Tung). Chronicles describe Le Duy Ky as handsome, with a high nose and a “dragon-like” face exuding imperial dignity. He is a singular figure in Vietnamese history: he ascended the throne twice, had four sons who all became kings, was the first Vietnamese emperor to marry a Western woman, and had empresses/consorts from several different ethnic backgrounds.
Historical context
Le Duy Ky was born as the long Northern–Southern Dynasties war between the Restored Le and the Mac was drawing to a close; the Mac held only Cao Bang, under Ming protection. In name, imperial authority remained with the Le, but in practice all power lay with the Trinh lords. The emperor wielded no real authority; it was concentrated in the Trinh household.
Amid this, his father Le Kinh Tong harbored deep resentment. An opening appeared when Trinh Xuan, a younger son of Lord Trinh Tung and Le Duy Ky’s maternal uncle, coveted the heirship of his half-brother Trinh Trang. Sharing interests, Kinh Tong secretly allied with Trinh Xuan to overthrow Trinh Tung—seeking both to restore imperial power and to replace Trinh Trang with Trinh Xuan to rebalance authority.
The plot was quickly uncovered. In the 5th lunar month of Ky Mui (1619), Trinh Tung struck. Trinh Xuan failed and fled; Emperor Kinh Tong was forced to hang himself. Soon after, Trinh Tung placed his grandson Le Duy Ky, then twelve, on the throne as Emperor Le Than Tong.
Enthroning a child further consolidated Trinh control and marked a new phase of the “Le king – Trinh lord” system, in which the king’s power narrowed to dependence on the lord.
Reign
Le Than Tong is the only Later Le monarch to reign twice, for a total of 37 years (1619–1643 and 1649–1662).
First reign (1619–1643)
- Accession and Trinh infighting
Upon his enthronement (1619), authority already lay with the Trinh. When Prince Binh An, Trinh Tung, died (1623), the Trinh camp again roiled. Trinh Xuan rose once more; Le Than Tong and heir Trinh Trang personally marched to Thanh Hoa to suppress him—illustrating the king’s largely ceremonial role even as he had to accompany Trinh military actions.
- Outbreak of the Trinh–Nguyen war
The early reign saw fierce Trinh–Nguyen fighting—nominally “supporting the Le,” but in substance a struggle for power and territory. When Nguyen Phuc Nguyen defied the court, holding Thuan Hoa–Quang Nam, Trinh Trang escorted Le Than Tong south in 1627; the campaign failed before the Nguyen’s strong defenses, forcing a stalemate and withdrawal.
- Strained relations with the Trinh and a contentious marriage
Court life mirrored the king–lord tension. In 1630 Le Than Tong was compelled to marry Trinh Thi Ngoc Truc, daughter of Trinh Trang. She had been the wife of Cuong Quoc cong Le Tru (the king’s kinsman), who was executed for treason. Ngoc Truc was 12 years older than the king. Despite remonstrance, the powerless king acquiesced: “Let it be done; I will marry reluctantly.”
- Further southern campaigns
Subsequent southern offensives (1633 and a major one in early 1643) also failed. In 1643 the king advanced to Bo Chinh, encamping at An Bai while generals moved toward the Nhat Le estuary; the Nguyen, exploiting works like the Luy Thay defenses and harsh summer conditions that spread disease, wore down the Le–Trinh, who withdrew.
- Abdication
After 25 years on the throne, in the 10th lunar month of 1643 Le Than Tong abdicated in favor of his son Le Duy Huu (Le Chan Tong) and became Retired Emperor (Thai thuong hoang).
Second reign (1649–1662)
- Return to the throne
When Le Chan Tong died young (1649), Than Tong returned to the throne. Though still not the effective ruler, he attended to examinations and letters: in 1652 at the palace exam he personally set policy essays; Ho Si Duong and six others passed as dong tien si xuat than, reflecting his intent to uphold scholarly tradition and administrative order.
- The Trinh–Nguyen war continues
Fighting with the Nguyen dragged on. After mixed fortunes, in 1660 Le–Trinh forces expelled the Nguyen from Nghe An; in 1661 Trinh Tac led a great southern campaign with the king accompanying, but met Nguyen Huu Dat’s strong lines south of Nam Bo Chinh; after months mired and short of supplies, the Trinh withdrew in early 1662.
Family
Father: Emperor Le Kinh Tong (r. 1600–1619)
Mother: Trinh Thi Ngoc Trinh, second daughter of Lord Trinh Tung (Prince Binh An)
Empress
In May 1630 (Canh Ngo), at age 23, under Trinh Trang’s arrangement, the king married Trinh Thi Ngoc Truc (then 36), who was made Empress. Shortly after, Ngoc Truc took her daughter Ngoc Duyen (her child by Le Tru) and left the palace to take vows at But Thap Pagoda (Dinh To commune, Thuan Thanh district, Bac Ninh).
Consorts
Palace Consort Pham Thi Ngoc Hau (Thanh Hoa), later Empress Dowager Doan Thuan; mother of Le Huyen Tong. Celebrated for beauty and virtue, she reportedly met the king through a fateful dream. In 1654 she bore Le Duy Vu, later crown prince and king at age nine. After his early death, she retired to charitable works.
Noble Consort Nguyen Thi Ngoc Bach (Nam Dinh), whom the king met on a river cruise on the Day River; impressed, he brought her into the palace as Noble Consort. Later posthumously Empress Dowager Minh Thuc; a shrine was established in her home village.
Lady of Grace (Chieu Nghi) Le Thi Ngoc Hoan (Thanh Hoa), mother of Le Gia Tong. She died soon after childbirth; the child was raised by the Trinh. Upon his accession, she was posthumously honored.
Palace Consort Nguyen Thi Ngoc Tan (Bac Ninh), mother of Le Hy Tong. Pregnant when Than Tong died, she returned home to give birth. Her son Cap was later brought to court and enthroned. Upon her death, Le Hy Tong held a grand funeral and established a shrine in her native place.
Other concubines included Dang Thi, Nguyen Thi Nham, Nguyen Thi Sinh, Nguyen Thi Vi, Tran Thi Lang, and five foreign concubines.
Issue
Le Than Tong had four sons who all became kings; except for the youngest, Le Hy Tong, the three who reigned before him died young.
Eldest son (name and dates unknown)
Le Chan Tong (personal name Le Duy Huu, 黎維祐), b. 1630, d. 1649; mother Empress Dowager Minh Thuc Nguyen Thi Ngoc Bach; reigned 1643–1649.
Le Huyen Tong (personal name Le Duy Vu, 黎維禑), b. 1654, d. 1671; mother Empress Dowager Doan Thuan Pham Thi Ngoc Hau; enthroned at age 7, reigned 17 years, died at 18.
Le Gia Tong (personal name Le Duy Coi, 黎維禬), b. 1661, d. 1675; mother Lady of Grace Le Thi Ngoc Hoan; reigned 4 years, died at 15.
Le Hy Tong (personal name Le Duy Cap, 黎維祫), b. 1663, d. 1716; mother Palace Consort Nguyen Thi Ngoc Tan; ascended 1676, reigned long, playing a major role in the Restored Le’s stabilization.
Daughters:
Princess Le Thi Ngoc Duyen, mother Empress Trinh Thi Ngoc Truc; her biological father was Le Tru; recognized by Le Than Tong.
Princess Le Thi Ngoc Thinh, mother Consort Nguyen Thi Nhan.
Princess Le Thi Ngoc Hai, mother Consort Nguyen Thi Sinh.
Princess Le Thi Ngoc Dieu, mother Consort Nguyen Thi Vi.
Princess Le Thi Ngoc Trien, mother Consort Trinh Thi.
Princess Le Thi Ngoc An, mother Consort Tran Thi Lang.
Princess Le Thi Ngoc Ngoc.
Adopted children (including one foreigner):
Charles Hartsink, a Dutchman.
Le Duy Tao.
Le Duy Luong.
Later years and veneration
In 1662, Le Than Tong’s health declined; the court was stalemated militarily and politically. Campaigns had stalled, and governance relied heavily on ministers. His condition worsened, and on 22 September 1662 he died, aged 56. Across two reigns he ruled a combined 37 years. He was buried at Ngoc Long, Quan Lai commune, Loi Duong (today Xuan Tan hamlet, Xuan Hung commune, Tho Xuan district, Thanh Hoa).
His consorts were famed for unusual harmony and mutual affection—rare in palace life. Even near death they expressed a wish never to be separated. Tradition holds that at Mat Son Pagoda (Thanh Hoa) there were six “ensouled” statues of his six wives, jointly funded by them to remain together into the next world. The statue of Empress Trinh Thi Ngoc Truc sits upon a lotus throne, reflecting her rank; the other five, all crowned and seated in meditation, each with distinct features and in the ethnic attire proper to each. In 1959, the five statues (except Empress Ngoc Truc’s) were moved from Mat Son Pagoda to the Le Dynasty Temple (a nationally recognized historic site) about a kilometer away in Dong Ve ward, Thanh Hoa. Empress Ngoc Truc’s statue was transferred to the Vietnam National Museum of Fine Arts, where it is treasured as a rare sculpture of exceptional historical and artistic value.
Assessment
Contemporary and later historians assess Le Than Tong with both praise and reservations.
Dai Viet Su Ky Toan Thu depicts him as handsome—with a high nose and a “dragon face”—intelligent, erudite, strategically minded, and literarily accomplished: worthy of a talented monarch. His principal shortcoming, it notes, was lax regulation of the inner palace, a failure of domestic governance viewed as a flaw in statecraft.
Other sources add that he combined learning with a gentle demeanor, kept harmonious relations with the Trinh, and sustained concord within the “Le king – Trinh lord” framework. Mild and even-tempered, he largely left practical power to the Trinh, “folding his sleeves to enjoy Heaven’s favor.” In one sense this helped preserve political stability and avoid open conflict between throne and lord.
Remarkably, throughout his life he personally led four campaigns and ascended the throne twice—rare in Vietnamese monarchical history. Yet his conciliatory, hands-off rule, while keeping the peace, also reduced the king to a ceremonial symbol rather than the active steersman of the realm.
References
- Quynh Cu & Do Duc Hung (2001), Cac trieu dai Viet Nam, Youth Publishing House.
- Phan Huy Chu (2007), Lich trieu hien chuong loai chi, Education Publishing House.
- Le Quy Don (1993), Dai Viet thong su, Dong Thap General Publishing.
- Le Van Huu, Phan Phu Tien, Ngo Si Lien,… (1993), Dai Viet su ky Toan thu, Social Sciences Publishing House.
- Le Tung, Dai Viet thong giam tong luan, Nom Heritage Preservation Society.
- Le trieu ngoc pha.
- Tran Trong Kim (1943), Viet Nam su luoc, Bac Thanh Press.
- Imperial Historiography Office of the Nguyen (1998), Kham dinh Viet su Thong giam cuong muc, Education Publishing House.
___________________
Tiếng Pháp (français’)
Origines
Lê Thần Tông (chinois : 黎神宗, 1607 – 2 novembre 1662), nom personnel Lê Duy Kỳ (黎維祺), est le sixième empereur de la dynastie des Lê restaurés et le dix-septième de la maison des Hậu Lê. Né le 19e jour du 11e mois de l’année Đinh Mùi (1607), il est le fils aîné légitime de l’empereur Lê Kính Tông et de l’impératrice Trịnh Thị Ngọc Trinh, seconde fille du seigneur Trịnh Tùng (il est donc petit-fils de Lê Thế Tông par son père et de Trịnh Tùng par sa mère). Les chroniques décrivent Lê Duy Kỳ comme un homme beau et imposant, au nez aquilin et au visage « de dragon », exprimant la majesté impériale. Il est une figure singulière de l’histoire vietnamienne : deux fois intronisé, quatre de ses fils montent sur le trône, premier souverain à épouser une femme occidentale, et époux de plusieurs impératrices et favorites d’origines ethniques variées.
Contexte historique
Lê Duy Kỳ naît lorsque la guerre des Deux Dynasties (Nam – Bắc triều) entre Lê restaurés et Mạc touche à sa fin : les Mạc ne tiennent plus guère que Cao Bằng sous la protection des Ming. En réalité, bien que la légitimité impériale demeure aux Lê, tout le pouvoir effectif appartient aux seigneurs Trịnh. Le roi n’exerce aucune autorité réelle.
Dans ce contexte, son père Lê Kính Tông nourrit un profond ressentiment. L’occasion se présente quand Trịnh Xuân, fils cadet du seigneur Trịnh Tùng (et oncle maternel de Lê Duy Kỳ), ambitionne de ravir la place d’héritier à son demi-frère Trịnh Tráng. Kính Tông s’allie secrètement à Trịnh Xuân pour renverser Trịnh Tùng : restaurer l’autorité impériale et substituer Trịnh Xuân à Trịnh Tráng afin de rééquilibrer les forces.
Le complot est découvert. En mai 1619, Trịnh Tùng écrase la conspiration ; Trịnh Xuân prend la fuite, Kính Tông est contraint au suicide par pendaison. Peu après, Trịnh Tùng fait introniser son petit-fils Lê Duy Kỳ, alors âgé de 12 ans, sous le nom de règne Lê Thần Tông.
L’avènement d’un enfant-roi renforce la mainmise politique du phủ chúa (résidence des Trịnh) et inaugure une nouvelle phase du dualisme « roi Lê – seigneur Trịnh », où l’espace d’action du souverain se rétrécit jusqu’à la dépendance.
Règne
Lê Thần Tông est le seul empereur des Hậu Lê à régner deux fois, pour un total de 37 ans (1619–1643 et 1649–1662).
Premier règne (1619 – 1643)
- Avènement et troubles au sein des Trịnh
À son intronisation (1619), le pouvoir réel est déjà aux Trịnh. À la mort du Bình An vương Trịnh Tùng (1623), la maison Trịnh s’agite : Trịnh Xuân se soulève à nouveau. Lê Thần Tông et le thế tử Trịnh Tráng doivent marcher sur Thanh Hóa pour réprimer la rébellion — signe que, malgré son rôle symbolique, le roi est entraîné dans les affaires militaires sous l’égide du phủ chúa.
- Déclenchement de la guerre Trịnh – Nguyễn
Le début du règne voit éclater la guerre Trịnh – Nguyễn : sous l’étendard « soutenir les Lê », les deux blocs s’affrontent pour territoires et influence. Quand Nguyễn Phúc Nguyên affirme son autonomie à Thuận Hóa – Quảng Nam, Trịnh Tráng emmène Lê Thần Tông en campagne au Sud (1627). L’offensive échoue devant les lignes fortifiées des Nguyễn ; l’armée Lê–Trịnh doit se replier.
- Relations personnelles et mariage controversé
Le rapport de forces se reflète jusque dans la vie de cour : en 1630, Lê Thần Tông est contraint d’épouser Trịnh Thị Ngọc Trúc, fille de Trịnh Tráng. Veuve de Lê Trụ (Cường quận công), exécuté pour trahison, Ngọc Trúc a 12 ans de plus que le roi. Malgré les remontrances des grands, le souverain, sans pouvoir, cède : « Faisons-le et n’en parlons plus, je consens à contrecœur. »
- Nouvelles offensives vers le Sud
Les campagnes de 1633 puis 1643 n’apportent aucune percée aux Lê–Trịnh. En 1643, l’escorte royale atteint châu Bố Chính, cantonne à An Bài ; les troupes avancent vers cửa Nhật Lệ, mais les fortifications (notamment le Lũy Thầy), le relief et les épidémies estivales épuisent l’armée, qui bat en retraite.
- Abdication
Après 25 ans de règne, en octobre 1643, Lê Thần Tông abdique en faveur de son fils Lê Duy Hựu (Lê Chân Tông) et devient Thái thượng hoàng (empereur retiré).
Second règne (1649 – 1662)
- Retour sur le trône
À la mort prématurée de Lê Chân Tông (1649), Thần Tông remonte sur le trône. Sans gouverner directement, il soigne les institutions lettrées : à l’examen du Palais (1652), il compose lui-même le sujet des questions politiques ; Hồ Sĩ Dương et six autres sont reçus đồng tiến sĩ, signe d’une volonté de maintien de la tradition académique et de l’ordre administratif.
- Guerre Trịnh – Nguyễn prolongée
Le conflit avec les Nguyễn perdure. Après des fortunes diverses, en 1660 les Lê–Trịnh repoussent les Nguyễn hors de Nghệ An ; en 1661, Trịnh Tạc conduit une grande campagne au Sud, le roi l’accompagne, mais la ligne fortifiée de Nguyễn Hữu Dật au Nam Bố Chính tient bon ; blocus, pénurie, l’armée se retire début 1662.
Famille
Père : Lê Kính Tông (règne 1600–1619)
Mère : Trịnh Thị Ngọc Trinh, seconde fille du seigneur Trịnh Tùng
Impératrice
En mai 1630 (Canh Ngọ), à 23 ans, sur décision de Trịnh Tráng, le roi épouse sa fille Trịnh Thị Ngọc Trúc (alors âgée de 36 ans) et la proclame impératrice. Peu après, Ngọc Trúc quitte le palais avec sa fille Ngọc Duyên (qu’elle avait eue de Lê Trụ) pour entrer en religion à la pagode Bút Tháp (commune Đình Tổ, Thuận Thành, Bắc Ninh).
Consorts et favorites
Cung phi Phạm Thị Ngọc Hậu (Thanh Hóa), plus tard impératrice douairière Đoan Thuần, mère de Lê Huyền Tông ; réputée pour sa beauté et sa vertu ; rencontre le roi selon un songe ; met au monde le prince Lê Duy Vũ (1654), fait prince héritier puis roi à 9 ans ; après la mort du fils, elle se retire et se consacre aux œuvres pieuses.
Quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch (Nam Định) : rencontrée lors d’une croisière royale sur la rivière Đáy, introduite au palais, faite Quý phi ; plus tard Minh Thục hoàng thái hậu, sanctifiée au pays natal.
Chiêu nghi Lê Thị Ngọc Hoàn (Thanh Hóa), mère de Lê Gia Tông ; décède peu après l’accouchement ; l’enfant est élevé par les Trịnh ; à l’avènement du fils, elle est honorée à titre posthume.
Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Tấn (Bắc Ninh), mère de Lê Hy Tông ; enceinte au décès du roi, elle regagne son village pour accoucher ; son fils Cáp sera ensuite amené au palais et intronisé ; à sa mort, Hy Tông lui accorde funérailles solennelles et un sanctuaire au pays.
Autres tiệp dư : Đặng Thị, Nguyễn Thị Nhâm, Nguyễn Thị Sinh, Nguyễn Thị Vĩ, Trần Thị Lãng, ainsi que cinq tiệp dư étrangères.
Descendance
Le roi a quatre fils qui montent tous sur le trône (trois meurent jeunes, seul le benjamin règne longtemps) :
Prince aîné (?-?)
Lê Chân Tông (nom personnel Lê Duy Hựu, 黎維祐), 1630–1649 — mère : Minh Thục hoàng thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Bạch ; règne 1643–1649.
Lê Huyền Tông (nom personnel Lê Duy Vũ, 黎維禑), 1654–1671 — mère : Đoan Thuần hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Hậu ; intronisé à 7 ans, règne 17 ans, meurt à 18 ans.
Lê Gia Tông (nom personnel Lê Duy Cối, 黎維禬), 1661–1675 — mère : Chiêu nghi Lê Thị Ngọc Hoàn ; règne 4 ans, meurt à 15 ans.
Lê Hy Tông (nom personnel Lê Duy Cáp, 黎維祫), 1663–1716 — mère : Cung nhân Trịnh Thị Ngọc Tấn ; intronisé 1676, règne longtemps et joue un rôle majeur dans la stabilisation des Lê restaurés.
Filles :
Princesse aînée Lê Thị Ngọc Duyên — mère : Impératrice Trịnh Thị Ngọc Trúc (fille de Ngọc Trúc et Lê Trụ, reconnue par le roi).
Princesse seconde Lê Thị Ngọc Thỉnh — mère : Tiệp dư Nguyễn Thị Nhân.
Princesse troisième Lê Thị Ngọc Hài — mère : Tiệp dư Nguyễn Thị Sinh.
Princesse quatrième Lê Thị Ngọc Điều — mère : Tiệp dư Nguyễn Thị Vĩ.
Princesse cinquième Lê Thị Ngọc Triện — mère : Tiệp dư Trịnh Thị.
Princesse sixième Lê Thị Ngọc An — mère : Tiệp dư Trần Thị Lãng.
Princesse septième Lê Thị Ngọc Ngọc.
Enfants adoptifs (dont un étranger) :
Charles Hartsink (Hollandais) ;
Lê Duy Tào ;
Lê Duy Lương.
Fin de règne — culte
En 1662, la santé de Lê Thần Tông décline. Le royaume connaît impasses militaires et dépendance politique vis-à-vis des Trịnh. La maladie empire et le 22 septembre 1662 il décède, à 56 ans. En tout, ses deux règnes cumulent 37 années. Sa dépouille est inhumée à Ngọc Long, commune Quần Lai, district Lôi Dương (aujourd’hui hameau Xuân Tân, commune Xuân Hưng, district Thọ Xuân, Thanh Hóa).
Les épouses de Lê Thần Tông sont réputées pour leur entente — rare au gynécée. À l’approche de la mort, six d’entre elles expriment le vœu de rester unies pour toujours. À la pagode Mật Sơn (Thanh Hóa) se trouvaient six statues les représentant, financées par leurs dons pour « demeurer ensemble » dans l’au-delà. La statue de l’impératrice Trịnh Thị Ngọc Trúc, assise sur un lotus, souligne son rang ; les cinq autres, couronnées, en méditation, chacune au visage distinct, portent les costumes propres à leur ethnie. En 1959, ces cinq statues (sauf celle de Ngọc Trúc) ont été transférées de Mật Sơn au sanctuaire des Lê (monument d’État) à Đông Vệ (Thanh Hóa). La statue de Ngọc Trúc est conservée au Musée des Beaux-Arts du Vietnam, œuvre rare d’une grande valeur historique et artistique.
Appréciations
Les historiens anciens et modernes soulignent à la fois les qualités et les limites du souverain. Le Đại Việt sử ký toàn thư le dépeint comme beau, au port altier, intelligent, instruit, ingénieux, excellent lettré — digne d’un monarque capable. Sa faiblesse majeure : une gestion peu normative du gynécée, signe d’un défaut dans l’ordre intérieur.
D’autres sources ajoutent qu’il sut préserver l’harmonie avec la maison Trịnh, conservant la paix dans le dualisme « roi Lê – seigneur Trịnh ». D’un tempérament posé, il « bénéficie des bienfaits du Ciel » en déléguant le pouvoir effectif au seigneur Trịnh — option qui, sous certains aspects, assure la stabilité et évite l’affrontement des deux pôles du pouvoir.
Au total, quatre expéditions personnelles, deux intronisations : un cas rare dans l’histoire vietnamienne. Son style de règne, plus cérémoniel que décisionnel, fit de lui un symbole rituel plutôt qu’un capitaine politique, tout en préservant l’équilibre du régime.
Références
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, éd. Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, éd. Giáo dục.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, éd. Tổng hợp Đồng Tháp.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, … (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, éd. Khoa học Xã hội.
- Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm.
- Lê triều ngọc phả.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nha In Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, éd. Giáo dục.
____________________
Tiếng Trung (中文)
身世
黎神宗(1607-1662年11月2日),名黎維祺,為黎中興第六位、後黎第十七位皇帝。生於丁未年(1607)十一月十九日,係黎敬宗與皇后鄭氏玉貞之嫡長子(黎世宗之孫、鄭松之外孫)。史載黎維祺相貌英偉,鼻梁高峙,面如龍象,具帝王之威。其為越南史上殊異之君:兩度即位,四子皆嗣位為帝,亦為首位迎娶西方女子之皇帝,且后妃多出自諸民族。
歷史背景
黎維祺生於黎中興與莫氏對峙之末期,莫氏勢力已退守高平,倚明朝庇護。雖皇權名義在黎,然朝政大小實為鄭氏掌控,帝王無實權,權力盡歸鄭府。
其父黎敬宗對此深懷不平。會其舅鄭宣(鄭松之次子)覬覦嫡兄鄭橑之世子位,敬宗乃與鄭宣密謀,欲傾覆鄭松,以復皇權,並扶鄭宣代鄭橑以圖權衡。然陰謀旋即敗露。己未年(1619)五月,鄭松發難鎮壓,鄭宣敗走,敬宗被迫自縊。未幾,鄭松立其外孫黎維祺(時年十二)即位,是為黎神宗。幼主登基,更使鄭府挾天子以令天下之勢鞏固,「黎王—鄭主」格局進入帝權日縮、依附鄭氏之新階段。
施政
黎神宗為後黎唯一兩度御極之帝,總在位三十七年(1619-1643、1649-1662)。
初次在位(1619-1643)
即位與鄭氏內變
即位(1619)之初,權柄已在鄭氏。至平安王鄭松薨(1623),鄭氏內部再起波瀾,鄭宣復亂爭位,黎神宗與世子鄭橑親征清化討平,是時帝位雖具形式,亦不得不從鄭府而涉軍旅。
鄭阮戰爭爆發
神宗在位前期,鄭—阮戰事大作。阮福源據順化、廣南,態度日趨分裂。鄭橑以「扶黎」之名南進(1627),神宗親駕,然為阮軍堅固防線所阻,聯軍不克而還。
與鄭氏之關係與婚事爭議
宮廷亦見王權與鄭府之牴牾。1630年,神宗被迫迎娶鄭橑之女鄭氏玉竹為后。玉竹先為強郡公黎柱(帝之族伯)之夫,因黎柱謀反為鄭橑所誅。玉竹年長帝十二歲,群臣多諫,帝無實權,只得慨然曰:「成事而已,勉從之。」
再南進兩役
其後南伐(1633、及1643年初大舉)仍無功。1643年行在至布政州,駐安牌,諸將出至日麗口;阮軍倚「壘師」等工事與地利,加以暑疫流行,黎—鄭軍困敝而退。
禪位為太上皇
在位二十五年後,1643年十月,神宗禪位於子黎維祐(黎真宗),自稱太上皇。
再次在位(1649-1662)
復辟
黎真宗早逝(1649),神宗復出臨朝。雖未親總百官,然注意科舉文教:1652年廷試,帝親出策問治道,胡士楊等七人同登進士,以示崇儒整吏之意。
鄭阮兵事綿延
與阮氏戰事仍相持。1660年黎—鄭軍逐阮軍出乂安;1661年鄭柞大舉南征,帝親臨護駕,然遇阮有掉於南布政之固防,困於糧乏久攻不下,至1662年初撤軍。
家眷
父:黎敬宗(1600-1619在位)
母:鄭氏玉貞,平安王鄭松之次女
皇后
庚午(1630)五月,在鄭橑安排下,帝年二十三,納其女鄭氏玉竹(時三十六)為后。後不久,玉竹挈女玉緣(其與黎柱所出)出宮,入北寧省順城縣亭組社筆塔寺為尼。
后妃
宮妃范氏玉厚,清化人,後封端純皇太后,黎玄宗之母。姿容德行兼美,因夢緣得幸;1654生皇子黎維禑,立為太子,九歲即位。子早逝,后退居修善。
貴妃阮氏玉白,南定人。帝泛舟滾江得之,以其儀容不凡召入,冊為貴妃;後追尊明淑皇太后,鄉里建祠。
昭儀黎氏玉完,清化人,黎嘉宗之母。產後早逝,子為鄭主撫養,嗣位後追尊昭儀。
宮妃阮氏玉晉,北寧人,黎熙宗之母。帝崩時妃方娠,歸里產子「闔」,後迎入宮即位。妃卒,熙宗厚葬並立祀。
另有婕妤數人:鄧氏、阮氏任、阮氏生、阮氏偉、陳氏朗,以及五位外國婕妤。
後嗣(四子相繼即位,惟季子熙宗壽最長)
長子(名未詳)
黎真宗(本名黎維祐,1630-1649),母明淑皇太后阮氏玉白;1643即位,在位六年。
黎玄宗(本名黎維禑,1654-1671),母端純皇太后范氏玉厚;七歲即位,在位十七年,十八而卒。
黎嘉宗(本名黎維禬,1661-1675),母昭儀黎氏玉完;在位四年,十五而卒。
黎熙宗(本名黎維祫,1663-1716),母宮人鄭氏玉晉;1676即位,在位久,為黎中興穩定期之要主。
公主
長公主黎氏玉緣,母皇后鄭氏玉竹(玉竹與黎柱所出),神宗收為己女。
次公主黎氏玉請,母婕妤阮氏仁。
三公主黎氏玉海,母婕妤阮氏生。
四公主黎氏玉調,母婕妤阮氏偉。
五公主黎氏玉輦,母婕妤鄭氏。
六公主黎氏玉安,母婕妤陳氏朗。
七公主黎氏玉玉。
養子(三人,其中一人外國人)
夏爾·哈爾辛克(Charles Hartsink,荷蘭人)
黎維陶
黎維良
晚年・祀奉
1662年,帝體衰多疾,軍政兩難,戰事無明顯進展,內治益賴權臣。病勢驟劇,至九月二十二日崩,享年五十六。帝兩度臨朝,合計三十七年。葬於玉龍(今清化省壽春縣春興社春新村)。
相傳神宗諸妃相處雍睦,情誼篤至殊少。臨終皆願相依不離。清化省密山寺有六尊化身像,乃六妃同心捐資塑造,以祈身後長相與。其中皇后鄭氏玉竹坐蓮,示其尊位;其餘五像皆冠冕跏趺,各具儀容,且按各自民族服飾寫實。1959年,除玉竹像外之五像自密山寺迎置於國家級文物——黎家祠(清化東衞坊),距寺一餘里;玉竹像則藏於越南美術博物館,為彌足珍貴之史藝雙重遺作。
評價
史家對黎神宗多持褒貶兼見之論。一則肯定其才德學識,《大越史記全書》稱其相貌龍章,聰慧博學,韜略深、工文章,足稱有才之君;一則指出其內廷管理失於制度與紀綱,為治國之缺。
又據諸記載,神宗性度溫雅,善持與鄭府之和,於「黎王—鄭主」之構中,維持兩端之均衡。其姿致敦厚和平,處事從容,頗有「拱手受天祿」之風:少干預庶政,任實權於鄭,於一端有助政局穩定,減少兩權衝突。
神宗生平四次親征、兩度登極,為越史所罕見。然其治道偏於安讓,實權歸鄭,雖保和氣,亦使其漸成禮儀性象徵,而非實際掌舵之君。
參考資料
- 瓊居、杜德雄(2001),《各朝代越南》,青年出版社。
- 潘輝注(2007),《歷朝憲章類誌》,教育出版社。
- 黎貴惇(1993),《大越通史》,同塔綜合出版社。
- 黎文休、潘夫僊、吳士連等(1993),《大越史記全書》,社會科學出版社。
- 黎嵩,《大越通鑑總論》,字喃遺產保護會。
- 《黎朝玉譜》。
- 陳仲金(1943),《越南史略》,北城印書館。
- 阮朝國史館(1998),《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社。

