Thân thế
Ngài họ Đỗ, thế danh Khắc Dụng, người làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Thân sinh Ngài là cụ ông Đỗ Thiện Chí, quan thư lại Bộ Hộ triều Nguyễn và thân mẫu là Nguyễn Thị Quốc. Tuy sống trong một gia đình có truyền thống Nho học, nhưng Ngài có duyên theo Phật.
Cơ duyên tu học
Năm 14 tuổi, Ngài xin song thân đến chùa Tây Thiên đảnh lễ cầu đạo với Tổ Tâm Tịnh, xin xuất gia và được Tổ ban cho pháp danh Trừng Huệ, tự Chí Lâm.
Năm Canh Tuất (1910) Ngài thọ Cụ-túc giới tại Đại Giới Đàn chùa Phước Lâm do Tổ Vĩnh Gia làm Đường Đầu. Sau đó được Bổn Sư cho pháp hiệu là Giác Viên.
Những đóng góp cho Phật giáo
Năm Tân Hợi (1911) Ngài được phép Tổ cho đi dựng một am riêng tên là Thệ Đa Lâm. Sau vì lụt lội, Ngài mới dời thảo am lên phía trên và đặt tên là chùa Hồng Khê, nhằm Bảo Đại năm thứ 9 (1934). Ngài thường được thỉnh làm Tuyên Luật Sư và Pháp sư ở Trường Kỳ, Bạch Sa, Quãng Ngãi; Giáo Thọ Sư ở Thanh Hóa; làm Đệ Thất Tôn Chứng ở Đại Giới Đàn Từ Hiếu năm 1924; về sau được cử làm Tăng Cang chùa Diệu Đế và giảng dạy Phật Pháp cho Tăng Chúng ở chùa Từ Hiếu vào những mùa An Cư. Đệ tử xuất gia của Ngài có 3 vị:
- Hòa Thượng Diệu Hoằng – Trụ trì chùa Diệu Đế và Kim Quang.
- Thầy Đỗ Từ Trí, pháp danh Tâm Kiên, tự Phong Sương.
- Thầy Đỗ Tâm Chơn, pháp danh Tâm Kiền, tự Phong Dinh.
Viên tịch
Trước khi viên tịch, Ngài đã giao chùa cho Thầy Tâm Kiên nhưng sau đó Thầy Tâm Kiên hoàn tục, lại giao chùa cho em là Thầy Tâm Kiền (nghe Thầy Phong Dinh nói lại, hai anh em của Thầy là cháu gọi Ngài Giác Viên là bác ruột) duy trì cho tới nay.
Năm 1942, Ngài viên tịch, thuộc đời thứ 42 phái Lâm Tế, đời thứ 8 phái Liễu Quán.
Nguồn: Thư Viện GĐPT, Tiểu sử Tổ Thanh Ninh – Tâm Tịch